Chào bạn, Hãy ĐĂNG KÝ hoặc ĐĂNG NHẬP để tham gia cùng chúng tôi

WWW.DVDVOTHUAT.COM/FORUM

Diễn đàn của website DVD Võ Thuật

Thông báo

DIỄN ĐÀN DVD VÕ THUẬT ĐỔI GIAO DIỆN MỚI !!

Hôm nay, 17/10/18, 6:53

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Chủ đề này đã bị khóa, bạn không thể sửa những bài viết của mình hay trả lời bài viết thêm nữa.  [ 74 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1 ... 3, 4, 5, 6, 7, 8  Trang kế tiếp
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:25 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch chủ quán Bar Hoàng Hôn


Chủ sở hữu quán bar này là Lê Thị Kim Anh, người tình của Năm Cam và là người chăm sóc chu đáo phó phòng cảnh sát điều tra, Công an TP HCM Nguyễn Mạnh Trung. Sau khi tham gia đâm chết cảnh sát hình sự Phan Lê Sơn, Bảy Việt trốn tại nhà Kim Anh. Con rể Năm Cam là Dương Ngọc Hiệp cùng Thọ "Đại Úy" cùng Kim Anh đã bàn cách để tổ chức cho Bảy Việt trốn sang Campuchia.

[b]Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can

[/b]
28. Bị can Lê Thị Kim Anh
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm 1957 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 115/42 Trần Đình Xu, Nguyễn Cư Trinh, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 8/12
- Cha: Lê Văn Mẹo (chết) Mẹ: Lê Thị Sáu
- Chồng: Phan Thanh Lâm
- Con: 4 người (2 trai, 2 gái)
b. Quá trình hoạt động
Lúc nhỏ ở với cha mẹ, học hết lớp 8 thì nghỉ ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 20 tuổi lấy chồng. Do chồng và con xuất cảnh đi Mỹ nên ly dị. Năm 1982 lấy chồng là Phan Thanh Lâm, sống tại 148/5/4 Tôn Đản, phường 8, quận 4. Năm 1987 cư ngụ tại 115/42 Trần Đình Xu, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1. Năm 1988-1991 mở cửa hàng ăn uống tại số 10 Sương Nguyệt Ánh. Năm 1999 mở nhà hàng Hoàng Hôn tại quận 1, đến ngày 18/12/2001 bị bắt giữ.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 18/12/2001
c. Hành vi phạm tội
* Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc
Từ năm 1988-1996, Lê Thị Kim Anh thường xuyên tổ chức và trực tiếp tham gia đánh bài ăn tiền, địa điểm tổ chức tại nhà riêng số 115/42 Trần Đình Xu. Mỗi ngày đánh 3-10 chến, một chến 300.000-500.000 đồng. Mỗi chến, Kim Anh thu 20.000-40.000 đồng tiền xâu. Số tiền xâu này, Kim Anh dùng để mua thức ăn, nước uống cho các con bạc, còn lại để tiêu xài cá nhân. Qua đấu tranh khai thác, Lê Thị Kim Anh không nhớ thu được bao nhiêu tiền xâu cũng như tiền đánh bài với các con bạc.
Hành vi của Lê Thị Kim Anh đã phạm tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249, 248 BLHS.
* Hành vi che giấu tội phạm và tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.
Sau khi vụ án xảy ra, Bùi Anh Việt đến ngay quán Hoàng Hôn ở 57-59 đường Lê Lợi, quận 1, báo cho Kim Anh biết việc xảy ra đánh nhau ở đường Hải Triều, Thọ "Đại Úy" bị đâm bị thương đang cấp cứu ở Bệnh viện Sài Gòn. Kim Anh đã đến thăm Thọ ở Bệnh viện và biết việc Thọ bị thương do đi đánh nhau.
Sau đó, Kim Anh và Bảy Việt quay lại về quán Hoàng Hôn, gặp Võ Song Toàn, Trần Dương. Kim Anh nghe điện thoại, biết có 2 người chết. Có nhân chứng còn khai: một trong 2 tên đi theo Bảy Việt đến quán Hoàng Hôn bị thương, máu ra ướt áo, Kim Anh còn sai lên lầu 1 để thay áo… Sau đó Kim Anh bảo Bảy Việt chở Kim Anh về nhà riêng của thị ở 115/42 Trần đình Xu, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, Kim Anh đi ngủ, Bảy Việt cũng ngủ tại nhà Kim Anh đến sáng 27/1/2000.
Sau khi gây án, Bảy Việt trốn tại nhà Kim Anh. Sau Tết, Dương Ngọc Hiệp và Thọ "Đại Úy" đến nhà cùng Kim Anh gặp Bảy Việt bàn việc tổ chức cho Bảy Việt trốn sang Campuchia có cả Kim Anh cùng tham gia.
Đến khi Bảy Việt khai ra việc Thọ "Đại Úy", Hiệp "Phò Mã" đến nhà Kim Anh để bàn bạc, tổ chức cho Bảy Việt trốn đi Campuchia, Kim Anh được Cơ quan điều tra (điều tra viên Đặng Hải Tương) mời lên làm việc đã phủ nhận lời khai của Bảy Việt, khi cho đối chất với Bảy Việt Kim Anh đã động viên, năn nỉ Bảy Việt không khai báo sự thật nên Bảy Việt đã phản cung.
Hành vi của của Lê Thị Kim Anh đã cùng một lúc phạm 2 tội: tội che giấu tội phạm, tội danh được quy định tại điều 313 và tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, tội danh được qui định tại điều 275-BLHS năm 1999 với vai trò giúp sức.
Quá trình khám xét tại quán cà phê Hoàng Hôn (số 57-59 Lê Lợi, quận 1, TP HCM) do Kim Anh làm chủ, Cơ quan điều tra đã thu giữ 3 viên thuốc. Tại bản kết luận giám định số 3662/C21 (Cụm 3) ngày 19.9.2002 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:
- Viên thuốc màu vàng cam có chữ C - C chứa thành phần Methamfetamine, trọng lượng 0,3401 g.
- Viên thuốc tròn màu vàng cam chứa thành phần Methamfetamine, trọng lượng 0,3063 g.
- Viên thuốc màu nâu đen nặng 0,0862 g không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp.
Qua đấu tranh, khai thác, Kim Anh không thừa nhận 3 viên thuốc nêu trên là của mình và cho rằng quán cà phê nhiều người ra vào uống nước nên không xác định được của ai. Do đó không đủ cơ sở kết luận những loại thuốc nêu trên là của Kim Anh.
Như vậy, Lê Thị Kim Anh đã phạm 4 tội:
- Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
- Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS).
- Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
- Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép (điều 275 BLHS)
Tài sản và tang vật thu giữ:
- 3.600.000 đồng
- 770 USD
- 4,1 lượng vàng trang sức
- 1 ĐTDĐ Motorola
- 1 xe Suzuki 150
- Kê biên 2 căn nhà
- 9 băng Video
- 73 đĩa CD
- 1 đĩa vi tính
- 3 viên thuốc
- 6 bao cao su chưa sử dụng
- 4 bao cao su đã sử dụng


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:28 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch của Hiệp "Phò Mã"


Dương Ngọc Hiệp (lấy con gái đầu lòng của Trương Văn Cam) đã trực tiếp ra Hà Nội cùng với Trần Văn Thuyết dùng 1,3 tỷ đồng để "chạy tội" cho bố vợ. Trong vụ Phan Lê Sơn, Hiệp cùng Thọ "Đại Úy" gặp gỡ, khống chế các đối tượng liên quan để bố trí, sắp xếp không cho họ khai báo sự thật.



[b]Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can[/b]
29. Bị can Dương Ngọc Hiệp (Hiệp "Phò Mã")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày 7/7/1963 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 266/40/22 Tôn Đản, phường 8, quận 4, TP HCM
- Chỗ ở: 36 Nguyễn Hữu Cầu, Tân Định, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
-Quốc tịch: Việt Nam
-Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 8/12
- Cha: Trương Văn Truyện
- Mẹ: Trần Thị Thuận
- Vợ: Trương Thị Lan, là bị can trong cùng vụ án
- Con: 3 người con, lớn nhất sinh 1983, nhỏ nhất sinh 1994
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ ở với gia đình, học hết lớp 8 nghỉ học, làm lơ xe. Năm 1981 đi nghĩa vụ ở Quang Trung, Hóc Môn, được 3 tháng bỏ trốn về nhà 266/40/22 Tôn Đản, phường 8, quận 4. Năm 1983 tiếp tục đi nghĩa vụ ở Quang Trung, được 2 tháng bỏ về nhà tại quận 4. Năm 1986 đi làm tại Công ty xuất nhập khẩu Cosenia ở quận 1, TP HCM. Năm 1993 làm nghề mua bán xe cũ ở đường An Dương Vương - Trần Bình Trọng, quận 5 và phụ trách nhà hàng Ra Khơi cho cha vợ là Trương Văn Cam. Ngày 12/12/2001, bị Công an Tiền Giang bắt về tội tổ chức đánh bạc và cưỡng đoạt tài sản.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 12/12/2001
c. Hành vi phạm tội
* Hành vi đưa hối lộ
Dương Ngọc Hiệp là con rể của Trương Văn Cam (lấy con gái đầu của Trương Văn Cam tên là Trương Thị Lan), được Trương Văn Cam rất tin tưởng. Vì vậy mọi hoạt động vi phạm pháp luật của Trương Văn Cam, Hiệp biết rất rõ. Không những thế, Hiệp còn trực tiếp tham gia nhiều hoạt động phạm tội trong băng nhóm tội phạm của Trương Văn Cam. Khi Trương Văn Cam bị bắt, Hiệp đã tích cực bàn với gia đình dùng tiền chuẩn bị trả cho ngân hàng, bán xe ôtô để lấy tiền với tổng số tiền là 1,3 tỷ đồng (thời điểm năm 1995) và trực tiếp ra Hà Nội cùng với Trần Văn Thuyết dùng số tiền này quan hệ, mua chuộc một số cá nhân trong cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan báo chí nhằm mục đích lo chạy tội cho Trương Văn Cam. Việc làm này của Hiệp đã làm cho một số cán bộ có chức quyền trong cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan ngôn luận thoái hóa biến chất.
Hành vi trên của Dương Ngọc Hiệp hậu quả rất nghiêm trọng đã phạm tội đưa hối lộ, số tiền đưa hối lộ rất lớn (1,3 tỷ đồng) tội danh được quy định tại khoản 3 điều 289 BLHS cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
* Hành vi cưỡng đoạt tài sản
Sau khi Dương Ngọc Hiệp bị bắt giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhận được nhiều đơn của nhân dân tố giác Hiệp là tay chân đắc lực của Trương Văn Cam, được Trương Văn Cam giao nhiệm vụ đi thu tiền bảo kê tại các nhà hàng, vũ trường, các quán cà phê… Hiệp đã cùng với Lai Em thu tiền bảo kê ở một số vũ trường, nhà hàng cụ thể như vũ trường Phương Đông, vũ trường Metropolis, khách sạn Phong Phú. Tuy nhiên do sợ bị trả thù nên các địa điểm mà Hiệp và Lai Anh thường xuyên đến thu tiền bảo kê không dám tố giác hành vi của bọn chúng. Qua đấu tranh xét hỏi, Dương Ngọc Hiệp và Lai Em đều ngoan cố không chịu nhận tội. Kết quả điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra chỉ mới có chứng cứ xác định Hiệp đã có hành vi cưỡng đoạt 8 triệu đồng của khách sạn Phong Phú bằng hình thức đến ăn nghỉ không trả tiền.
Hành vi của Dương Ngọc Hiệp là hành vi côn đồ, có tính chất coi thường pháp luật, đã phạm vào tội cưỡng đoạt tài sản, tội danh được quy định tại điều 135 BLHS.
* Hành vi đánh bạc
Dưng Ngọc Hiệp đã khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá, Cụ thể Hiệp khai:
Trong những năm qua, Hiệp đã nhiều lần chi cá độ bóng đá với Nguyễn Thanh My, Nguyễn Hải Triều, Dương Hùng Phong. Mỗi lần cá độ giá trị từ 5 đến 20 triệu đồng. Hiện nay Hiệp còn nợ My 60 triệu đồng; nợ Triều 200 triệu đồng; nợ Phong 230 triệu đồng tiền thua cá độ bóng đá.
Qua điều tra xác minh ghi lời khai của Nguyễn Thanh My, Nguyễn Hải Triều, Dương Hùng Phong thì các đối tượng này đều khai không cá độ bóng đá với Hiệp. Bị can Hồ Việt Sử là đối tượng thân thiết với Hiệp cũng xác định biết Hiệp thường xuyên chơi cá độ bóng đá nhưng không biết chơi với Nguyễn Thanh My, Nguyễn Hải Triều và Dương Hùng Phong hay không. Do không có cơ sở kết luận hành vi đánh bạc của Hiệp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an quyết định đình chỉ điều tra bị can với Hiệp về tội danh đánh bạc.
* Hành vi che giấu tội phạm và tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép
Thực hiện chỉ đạo của Trương Văn Cam, Hiệp đã cùng Nguyễn Văn Thọ gặp gỡ các bị can, đối tượng liên quan để bố trí, sắp xếp lời khai hoặc khống chế không cho họ khai báo sự thật.
Thực hiện sự chỉ đạo của Trương Văn Cam về việc tổ chức cho Bảy Việt trốn đi Campuchia, Dương Ngọc Hiệp và Thọ "Đại Úy" đến nhà Kim Anh nhiều lần để gặp Bảy Việt để thuyết phục, bàn bạc cho Bảy Việt trốn đi Campuchia. Hiệp và Thọ vừa đe dọa, vừa hứa chạy án cho Bảy Việt chỉ bị 3-5 năm tù và lo chuyện gia đình, vợ con, thăm nuôi, nên Bảy Việt mới đồng ý đi trốn.
Dương Ngọc Hiệp đã bàn bạc với Tôn Vĩnh Đắc (Long "Đầu Đinh") để Long đầu đinh bố trí xe ôtô, chỉ đạo Nguyễn Tấn Lộc lái xe đưa Bảy Việt đi Campuchia.
Hiệp đã đưa cho Bảy Việt 1.000 USD, bàn bạc và thuê Tiang Peng Chheu - Tư Miên) người Campuchia 14.000 USD, để Tư Miên đưa Bảy Việt trốn và làm giấy tờ cho Bảy Việt xuất cảnh sang Canada.
Đến khi Bùi Anh Việt xuất cảnh đi Canada không thành, phải quay về Campuchia và Trương Văn Cam có chủ trương đưa Bảy Việt ra đầu thú nên Hiệp lại báo cho Tư Miên đưa Bảy Việt về Việt Nam. Bùi Anh Việt về Sài Gòn ở nhà Hiệp và gặp Trương Văn Cam, Hiệp "Phò Mã" dặn dò khai báo, trước khi ra đầu thú.
Khi Bùi Anh Việt khai ra việc Hiệp, Thọ, Kim Anh tổ chức cho Bảy Việt trốn đi Campuchia thì Cơ quan điều tra (điều tra viên Đặng Hải Tương) đã cho Hiệp "Phò Mã" đối chất với Bảy Việt, tạo điều kiện cho Hiệp phò mã gặp riêng Bảy Việt trong buồng cung để Hiệp thuyết phục, năn nỉ vừa đe dọa Bảy Việt, sau đó Bảy Việt đã phản cung.
Hành vi của của Dương Ngọc Hiệp đã cùng một lúc phạm 2 tội che giấu tội phạm, qui định tại Điều 313 và tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép quy định tại điều 275 - BLHS năm 1999 với vai trò cầm đầu, tích cực thực hiện.
Như vậy, Dương Ngọc Hiệp đã phạm 4 tội:
- Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
- Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 BLHS).
- Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
- Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép (điều 275 BLHS)
Tài sản và vật chứng thu giữ:
- 283.000.000 đồng
- 3 ngân phiếu loại 1 triệu đồng
- 1 xe Spacy
- 1 điện thoại di động Nokia 8250
- Kê biên 1 căn nhà
- 2 ổ đĩa cứng
- 1 két sắt
- 6 đĩa vi tính
- 3 băng Video


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:29 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch chủ sòng bài tại quận 8


Nguyễn Văn Nhã được Năm Cam phân công điều hành sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Để sòng được hoạt động êm ả, Nhã dùng gần 900 triệu đồng lấy từ tiền xâu để hối lộ một số cán bộ đơn vị có chức năng phòng chống tội phạm thuộc Công an TP HCM.



[b]Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can[/b]
30. Bị can Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1945 tại Sài Gòn
- ĐKNKTT: 148/12/14/3 Tôn Đản, phường 10, quận 4, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Văn hóa: 8/12
- Con ông: Nguyễn Văn Phấn (chết)
- Con bà: Võ Thị Cam (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Hồng Liên, sinh năm 1951
- Con: 6 người con, lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh 1978
b. Quá trình hoạt động
Từ 1945 đến 1963: Sống cùng gia đình và đi học văn hóa hết lớp 8/12 thì bỏ học. Cư ngụ tại 148/12/14/3 Tôn Đản, phường 10, quận 4. Từ 1963 đến 1966: làm công nhân in tại quận 3. Từ 1966 đến 1975: đi lính chế độ Sài Gòn, làm cảnh sát trật tự tại ty cảnh sát quận 4, cấp bậc trung sĩ. Đến 30/4/1975 rã ngũ. Từ 1975 đến 2001: cư ngụ tại địa chỉ trên.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 3
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội của bị can
* Hành vi tổ chức đánh bạc:
Tháng 10/1999, Trương Văn Cam (Năm Cam) và Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) Nguyễn Thành Thảo và Nguyễn Văn Nhã bàn nhau tổ chức mở sòng bạc tại nhà 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Nguyễn Văn Nhã được Trương Văn Cam phân công trực tiếp quản lý điều hành sòng bạc. Nhã đứng tên 40 phần hùn làm cái, trị giá mỗi phần 1 triệu đồng (trong đó của Nhã 10 phần, của tên Thảo 10 phần, của tên Thọ 10 phần, của tên Lắm 10 phần). Hằng ngày tiền lời làm cái Nhã chia 10 phần, Nhã giao cho Ba Mạnh 1 phần, 1 phần Nhã đem về cho Trương Văn Cam, được Trương Văn Cam chia lại cho Nhã 2/10, Trương Văn Cam 8/10. Tiền lời còn lại Nhã chia tỷ lệ phần hùn làm cái, trong đó Nhã có 10 phần = 10 triệu đồng phần hùn. Tiền xâu Nhã chia làm 15 phần, Nhã hưởng 1 phần. Sòng bạc hoạt động được 4 tháng rưỡi, Nhã được chia các khoản tiền lời trong sòng bạc 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng (BL: V4 T74: 06).
Khoảng tháng 1/2001 Trương Văn Cam và Nguyễn Thành Thảo cho phép Nguyễn Văn Nhã mở sòng bạc tại quận 9. Nhã gặp Nguyễn Văn Dương (thường gọi Dương) để nhờ Dương thuê nhà Nguyễn Thị Liên tại số 351A ấp Tây Hòa, phường Phước Long A, quận 9, sau khi Liên đồng ý cho thuê nhà, Nhã trực tiếp quản lý điều hành sòng bạc, quy định cách thức ăn chia trong sòng bạc.
Nhã đứng tên 50 phần hùn làm cái. Hằng ngày Nhã giao cho thị Phượng 800.000 đồng để Phượng giao cho Dương trả tiền thuê nhà và lo “an ninh” cho sòng bạc. Tiền lời chia 10 phần Nhã lấy một phần đem về giao cho Trương Văn Cam. 9/10 tiền lời còn lại Nhã chia cho các phần hùn trong đó Nhã có 50 phần. Tiền xâu chia làm 3 phần Nhã lấy 1 phần đem về cho Trương Văn Cam và được Trương Văn Cam chia làm 4 phần, Nhã được 1 phần. 2/3 tiền xâu còn lại Nhã chia cho các tên có công với sòng bạc. Sòng bạc hoạt động được khoảng 27 ngày. Nhã được chia các khoản tiền lời trong sòng bạc là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu) đồng. (BL: V4 T74: 06)
Tháng 7/2001 sòng bạc của Tạ Đắc Lung và Triệu Tô Hà mở tại nhà Nguyễn Thị Dung số 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6 thì Nguyễn Văn Nhã mới đến tham gia với vai trò xóc đĩa và góp vốn làm cái 50 triệu đồng. Trước khi tham gia, Nhã yêu cầu Tạ Đắc Lung chia cho Nhã 1/10 tiền lời và tiền bảo kê 2 triệu đồng/ngày để Nhã giao lại cho Trương Văn Cam. Sòng bạc hoạt động được 22 ngày, phần Nhã đến tham gia 10 ngày sau cùng. Nhã được chia các khoản tiền lời của sòng bạc khoảng 49 triệu đồng.
Cuối tháng 8/2001, Nhã và Quốc được Trương Văn Cam cho phép mở sòng bạc tại 1102 Tự Lập, quận Tân Bình. Sòng bạc hoạt động vào đầu tháng 9/2001, Nhã và Quốc làm nhiệm vụ quản lý điều hành sòng bạc. Nhã góp phần hùn 40 triệu và đứng tên cho Nguyễn Văn Quý 20 phần Nguyễn Văn Quang 20 phần, Nguyễn Văn Lắm 10 phần. Tiền lời làm cái được chia 10 phần, Quốc 1/10, Trương Văn Cam 1/10. Trương Văn Cam chia lại cho Nhã 2 phần, Trương Văn Cam 8 phần. 8/10 còn lại của tiền lời làm cái, Nhã chia tiếp làm 10 phần, Nhã lấy 3 phần. Còn 7 phần còn lại chia đều cho các tên có phần hùn. 3 phần của Nhã, Nhã chia tiếp làm 10 phần cho Nguyễn Thành Thảo, Nguyễn Văn Thọ mỗi người 2 phần, Nguyễn Văn Lắm 1 phần, Nguyễn Văn Quang và Nguyễn Văn Quý mỗi người 1,5 phần. Sòng bạc hoạt động được 23 ngày thì chuyển về Quận 8. Nhã khai nhận được chia các khoản tiền lời của sòng bạc là: 100.000.000 (một trăm triệu đồng).
Ngày 29/9/2001, sòng bạc rời về nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 Nhã trực tiếp thuê nhà của Trương Thoại với giá 500.000đ/ngày, thuê nhà của Lê Định Quốc số 74/16 Trần Nguyên Hãn, quận 8 làm nơi để két sắt giữ tiền của sòng bạc, đồng thời giao tiền cho Trương Thoại đi phân phát cho 8 hộ trong hẻm 74 Trần Nguyên Hãn, Quận 8, mỗi hộ 20.000đ/ngày để những hộ này không tố giác hành vi phạm tội của chúng. Đồng thời giao cho Phượng 3.600.000 đồng một ngày để Phượng giao cho Thọ đi ăn nhậu, hối lộ để bảo vệ cho sòng bạc. Phương thức ăn chia tại sòng bạc này cũng như lúc sòng bạc hoạt động tại 1102 đường Tự Lập - phường 4 - Tân Bình. Nhã được chia 50.184.000 (năm mươi triệu một tám bốn nghìn) đồng và tiền xâu 42.500.000 đồng (bốn hai triệu năm trăm nghìn).
Trong 5 ngày cuối của sòng bạc, Nhã giao cho Trần Thị Anh Anh (Sơn) 365.470.000 đồng gồm tiền phí, tiền xâu, tiền lời để chờ đủ 7 ngày Nhã đem chia cho đồng bọn. Ngày 9/10/2001 sòng bạc bị bắt, Anh gom tiền chạy trốn.
Như vậy tổng cộng số tiền thu lợi bất chính từ các sòng bạc mà Nhã được chia là 461.684..000 đồng (bốn trăm sáu mốt triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
Từ tháng 10/1999 đến khi bị bắt Nhã được Trương Văn Cam giao quản lý điều hành sòng bạc, thỉnh thoảng Nhã tham gia đánh bạc mỗi ván từ 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đến 1.000.000 (một triệu) đồng. Quá trình đánh bạc Nhã sử dụng số tiền được chia từ sòng bạc để đánh bạc nên không xác định được số tiền thắng thua. (BL: V4 T74: 06)
* Hành vi đưa hối lộ
Sau khi đi tập trung cải tạo về (được trả tự do vào tháng 10/1997), Trương Văn Cam (Năm Cam) cùng đồng bọn là các tên Tô Văn Tốt (Ba Mạnh), Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà), Nguyễn Khánh Quốc (Quốc "Lủi"), Phạm Văn Minh (Minh "Bu"), Lê Thị Thu Hà (Hà "Trề") đã phục hồi lại sòng bạc xóc đĩa.
Trương Văn Cam chủ trương nguồn tiền dùng để mua chuộc cán bộ công an bao che sòng bạc lấy từ nguồn tiền xâu thu mỗi ván 5% của người thắng bạc và được trích ra làm 2 khoản sử dụng:
Khoản thứ nhất gọi là tiền “phí ngoại giao” 2.000.000 (hai triệu) đồng/ngày nộp về cho Trương Văn Cam để dùng làm chi phí hối lộ, mua chuộc một số cán bộ đơn vị có chức năng phòng chống tội phạm thuộc Công an TP HCM nhờ bao che dung túng cho hoạt động vi phạm pháp luật của băng nhóm Trương Văn Cam và các sòng bạc của y.
Khoản thứ hai là tiền thuê nhà và tiền lo “an ninh cho sòng” tại quận, phường nơi sòng hoạt động, mỗi ngày Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà) giao cho Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) 3.300.000 (ba triệu ba trăm ngàn) đồng, trong đó có 400.000 đồng trả tiền thuê nhà, 300.000 đồng để chi cho bọn canh gác sòng bạc, còn lại 2.600.000 (hai triệu sáu trăm ngàn) đồng dùng để đưa hối lộ hằng tuần cho một số cán bộ công an quận và công an phường nơi có sòng bạc hoạt động.
Sòng bạc xóc đĩa hoạt động tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 vào các thời điểm sau:
- Từ tháng 10/1999 đến khoảng giữa tháng 1/2000 (do Phạm Văn Minh tức Minh "Bu" phạm tội giết người ở đường Hải Triều, quận 1 nên Trương Văn Cam cho sòng tạm nghỉ); hoạt động lại từ cuối tháng 2/2000 đến đầu tháng 5/2000 (do Tô Văn Tốt chết đột ngột nên Trương Văn Cam cho sòng bạc tạm ngưng hoạt động) tổng cộng số ngày sòng bạc hoạt động là 135 ngày, tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 270.000.000 đồng. Tiền Nguyễn Văn Nhã và Tô Văn Tốt dùng để đi hối lộ là 351.000.000 đồng. (BL: V5 T3: 202A-202B)
- Sau khi di chuyển nhiều địa điểm sòng bạc xóc đĩa lại quay về hoạt động từ 29/9/2001 đến 9/10/2001 thì bị Công an TP HCM bắt quả tang. Thời gian sòng bạc hoạt động là 11 ngày, tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 8.000.000 đồng (vì sòng bạc nộp tiền về Trương Văn Cam qua Nguyễn Thành Thảo theo tuần, Thảo mới thu tiền tuần đầu, tuần kế tiếp chưa đến kỳ thu), tiền Cô Đệ và Nguyễn Văn Thọ đã lấy để đi hối lộ là 36.000.000 đồng. (BL: V5 T3: 202B; V5 T4: 214-215, 217)
Trong thời gian 1999-2000, sòng bạc xóc đĩa này còn rời tới hoạt động tại các địa điểm sau:
- Nhà Nguyễn Thị Liên số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 từ cuối tháng 1/2001 (hạ tuần tháng chạp năm Canh Thìn) đến Tết và từ mùng 10 Tết Canh Thìn (tức khoảng tháng 2/2001) hoạt động thêm 10 ngày. Tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 54.000.000 đồng (BL: V5 T3: 202A-202B), giao cho Nguyễn Văn Dương 800.000 đồng/ngày để Dương trả tiền thuê nhà 300.000 đồng/ngày. Còn lại 500.000 đồng/ngày, Dương lo hối lộ cấp phường, quận nhưng Dương tiêu xài hết. Như vậy tiền lo hối lộ cho cấp phường, quận trong thời gian 27 ngày là 13.500.000 đồng.
- Nhà Nguyễn Thị Dung số 27/6 và nhà Hà Gia Quyền số 27/23 đường Văn Thân, phường 8, quận 6 hoạt động hơn 17 ngày. Tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 34.000.000 đồng, chi phí canh gác sòng bạc và tiền hối lộ cấp địa phương Triệu Tô Hà thu hàng ngày 4.500.000 đồng, nhưng Triệu Tô Hà khai đã trả tiền thuê nhà 200.000 đồng. Còn lại 4.300.000 đồng, Hà chiếm hưởng riêng để đánh bạc. (BL: V5 T3: 202A-202C)
- Nhà Nguyễn Văn Nghĩa số 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình 23 ngày. Tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 46.000.000 đồng, tiền hối lộ cấp địa phương Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã đã giao cho Nguyễn Văn Nghĩa 57.500.000 đồng. Nhưng Nguyễn Văn Nghĩa khai đã chiếm hưởng sử dụng riêng số tiền này (Nguyễn Văn Nghĩa đã nộp lại cho Cơ quan điều tra số tiền này cùng với số tiền sòng bạc trả tiền thuê nhà tổng cộng là 103.500.000 đồng).
Như vậy theo chỉ đạo của Trương Văn Cam, tổng số tiền đã lấy từ tiền xâu của sòng bạc xóc đĩa để đi đưa hối lộ là 899.000.000 đồng, Nguyễn Văn Nhã đồng phạm đưa hối lộ là 899.000.000 đồng.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc, đưa hối lộ của Nguyễn Văn Nhã đã phạm vào điều 249, 248 và 289 của BLHS nước CHXHCN VN.
Như vậy, Nguyễn Văn Nhã đã phạm 3 tội:
- Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
- Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
- Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
Vật chứng tạm giữ: tiền Ngân hàng Việt Nam: 6.170.000 (sáu triệu một trăm bảy mươi ngàn) đồng, một điện thoại di động, 7 (bảy) phỉnh màu vàng, 143 (một trăm bốn mươi ba) lá bài tổ tôm. Tài sản kê biên gồm nhà số 97 đường 14, quận 4 và nhà số 148/12/14/3 Tôn Đản, phường 10 quận 4.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:29 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 4 kẻ tổ chức sòng bài


Nguyễn Thành Thảo, Nguyễn Khánh Quốc, Tạ Đắc Lung và Triệu Tô Hà tổ chức sòng bạc tại nhiều địa điểm trong thành phố. 4 đối tượng đã chi tiền mua chuộc sự làm ngơ của một số công an, trong đó có Võ Văn Tâm (đội trưởng chống tệ nạn xã hội) và Dương Minh Ngọc (nguyên trưởng phòng cảnh sát hình sự TP HCM).



[b]Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can[/b]
31. Bị can Nguyễn Thành Thảo
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1953 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 120/3 Nguyễn Công Trứ, phường 19, Bình Thạnh, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Con ông: Nguyễn Thành Long
- Con bà: Tạ Thị Bút (chết)
- Vợ: Bùi Thị Ba, sinh 1961
- Có 4 con (lớn nhất sinh 1984 nhỏ nhất sinh 1992).
b. Quá trình hoạt động
Năm 1953-1971: Ở với cha mẹ đi học và phụ giúp gia đình tại Bình Thạnh, TP HCM. 1971-1972: Đi lính ngụy Sư đoàn 7 đóng tại Bến Tre được 6 tháng thì đào ngũ. Năm 1972-1975: Bị bắt đi lính ngụy Sư đoàn 8 Bộ binh đóng quân tại Long Khánh. Năm 1975-1980: Buôn bán chợ trời, bị Công an quận 1 bắt đưa đi cưỡng bức lao động 3 tháng về tội đánh bạc. Năm 1980-1986: Buôn bán chợ trời, bị Công an Bình Thạnh bắt giữ 7 ngày vì không có hộ khẩu. Năm 1986-1990: Buôn bán chợ trời. Năm 1990-1992: Canh gác sòng bạc cho Trương Văn Cam tại hẻm 148 Tôn Đản, phường 8 quận 4. Năm 1993-1999: Buôn bán. Năm 1999-2001: Tham gia tổ chức các sòng bạc của Trương Văn Cam, được giao nhiệm vụ thu tiền bảo kê các sòng bạc, đi đưa hối lộ. Ngày 18/12/2001 bị bắt theo lệnh truy nã.
c. Hành vi phạm tội
* Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Tháng 10/1999, Nguyễn Thành Thảo tham gia tổ chức sòng xóc đĩa tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn với nhiệm vụ tìm kiếm, lôi kéo con bạc đến sòng bạc đánh bạc và góp vốn làm cái 10.000.000 (mười triệu) đồng. Sau thời gian 2 tháng tham gia hùn vốn làm cái trong sòng bạc, Nguyễn Thành Thảo được chia lời 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sau khi đã trừ những lần cái thua. Ngoài ra Thảo còn trực tiếp đánh bạc xóc đĩa ăn tiền tại sòng mỗi lần đánh từ 100.000 (một trăm nghìn) đồng đến 1.000.000 (một triệu) đồng. Tiền thắng bạc Thảo đã ăn xài hết. (BL số: 1620-V4-Tập 20, 06-V4-tập 74)
- Tháng 6/2000, Nguyễn Thành Thảo tham gia tổ chức sòng xập xám tại 780 Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, quận 3 do Trương Văn Cam cầm đầu với vai trò theo dõi ghi chép sổ sách cho sòng bạc và nhận tiền từ Trương Văn Cam giao cho các con bạc thắng. Thời gian tham gia 7 ngày, Nguyễn Thành Thảo khai nhận được Trương Văn Cam trả mỗi ngày 1.000.000 (một triệu) đồng là 7.000.000 (bảy triệu) đồng. Đối chất với Trương Văn Cam, Thảo thừa nhận được Trương Văn Cam cho 50.000.000 đồng. (BL: 1640-V4-tập 20)
- Đầu năm 2001 (trước và sau tết Nguyên đán Canh Thìn), Nguyễn Thành Thảo tham gia góp 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng vốn làm cái tại sòng xóc đĩa mở tại số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9. Thảo được chia tiền lời và tiền xâu từ sòng bạc là 35 triệu đồng sau khi đã trừ tiền cái thua. Thảo còn làm nhiệm vụ thu tiền bảo kê, tiền lời từ Nhã về cho Trương Văn Cam. (BL số:1620-V4-tập 20)
- Cũng thời điểm tháng 12/2000, Nguyễn Thành Thảo cùng Triệu Tô Hà, Vương Tử (Xây) bàn bạc tổ chức sòng xập xám tại 835/1-2 Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5. Nguyễn Thành Thảo làm nhiệm vụ ghi chép sổ sách theo dõi ăn thua trong sòng bạc, chịu trách nhiệm nhận tiền của người thua bạc trả cho người thắng. Sòng xập xám hoạt động được 5 ngày Thảo được chia 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. (BL số: 1622-V4-tập 20)
- Tháng 9/2001, Nguyễn Thành Thảo góp vốn 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tại sòng bạc 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình. Sòng bạc hoạt động 23 ngày thì dời về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 hoạt động thêm được 10 ngày nữa thì bị bắt, Thảo được chia tiền lời 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và tiền xâu là 21.250.000 đồng. (BL số: 1631-V4-tập 20,08-V4-tập 74)
- Ngày 8 và 9/10/2001, Trương Văn Cam mở sòng bạc xập xám tại 122 Trần Hưng Đạo B, phường 7, quận 5, Nguyễn Thành Thảo làm nhiệm vụ ghi chép sổ sách cho sòng bạc. Sau 2 ngày hoạt động thì sòng bạc giải tán vì sòng xóc đĩa ở số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 của Trương Văn Cam bị bắt. Tiền lời góp vốn Nhã gửi Anh (Sơn) cất giữ, tiền xâu Nguyễn Khánh Quốc giữ. Khi sòng bạc bị bắt, Anh bỏ trốn, Quốc bị bắt nên Thảo chưa được chia.(BL số:08-V4-tập 74)
Tổng số tiền thu lợi bất chính qua việc tham gia tổ chức các sòng bạc từ tháng 10/1999 đến tháng 10/2001 mà Nguyễn Thành Thảo khai nhận đã được hưởng là 263.250.000 đồng (hai trăm sáu ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
* Hành vi đưa hối lộ
Nguyễn Thành Thảo được Trương Văn Cam tin cẩn giao cho nhiệm vụ cai quản sòng bạc xóc đĩa và thu tiền “phí ngoại giao” để Trương Văn Cam hối lộ cán bộ cấp thành phố, mỗi ngày 2.000.000 (hai triệu) đồng; gồm 67 ngày thành tiền 134.000.000 đồng (27 ngày tại nhà Nguyễn Thị Liên, quận 9; 10 ngày tại nhà Hà Gia Quyền và Nguyễn Thị Dung quận 6; 23 ngày tại nhà Nguyễn Văn Nghĩa phường 4, Tân Bình; 7 ngày tại nhà Trương Thoại quận 8 vì 4 ngày cuối chưa đến kỳ thu) của Nguyễn Văn Nhã giao nộp Trương Văn Cam. (BL: V5 T3: 202A-202D)
Từ năm 2000 Nguyễn Thành Thảo được Trương Văn Cam giao tiền đi quan hệ mua chuộc, đút lót hối lộ trực tiếp nhiều cán bộ có trách nhiệm trong công tác phòng chống tội phạm trong đó có bị can Võ Văn Tâm (BL: V5 T5: 227-229, 240) và Dương Minh Ngọc.
Như vậy, Nguyễn Thành Thảo đã đồng phạm với Trương Văn Cam đưa hối lộ số tiền 134.000.000 đồng. (BL: V5 T2: 162, 173, 176)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc, đưa hối lộ của bị can Nguyễn Thành Thảo đã phạm vào các điều 249, 248 và 289 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng đang tạm giữ của Nguyễn Thành Thảo:
+ 173 (một trăm bảy mươi ba) bộ bài tây đã sử dụng (54 lá).
+ 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng do Trần Quốc Dân nợ (trong số 1,2 tỷ đồng gia đình Trần Quốc Dân nộp thay cho Dân).
+ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng Nguyễn Văn Quang nộp.
Tài sản kê biên: Căn nhà 120/3 Nguyễn Công Trứ, phường 19, Bình Thạnh.
32. Bị can Nguyễn Khánh Quốc (Quốc "Lủi")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1959 tại Ninh Bình
- Nơi ĐKNKTT: 25 lô A7 khu tập thể Vạn Mỹ, Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Năm 1985, Quốc bị xóa hộ khẩu thường trú vì bị bắt đưa đi thi hành án phạt tù 5 năm về tội cướp tài sản công dân. Từ 1985 đến nay không có hộ khẩu thường trú.
- Chỗ ở: 51 Tạ Thu Thâu, Bến Thành, quận 1, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 10/10.
- Con ông: Nguyễn Văn Tố
- Con bà: An Thị Phụng
- Vợ: Đoàn Thị Lệ Hằng, sinh 1969.
- Có 2 con: Lớn sinh 1988, nhỏ sinh 1998.
b. Quá trình hoạt động
Năm 1959-1977: Ở với cha mẹ và đi học tại thị xã Lào Cai. Năm 1978: Trộm cắp tài sản công dân, bị Công an Hải Phòng bắt cảnh cáo, tha. Năm 1980: Trộm cắp tài sản công dân, bị Công an Hải Phòng bắt tạm giam 2 tháng, tạm tha. Năm 1981: Cưỡng đoạt tài sản công dân, bị Công an Hải Phòng bắt, cảnh cáo, tha. Năm 1982: Bị Công an Hải Phòng bắt về tội trộm cắp tài sản công dân, bị TAND TP Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù giam. Năm 1984: Bị Công an quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng bắt về tội cướp tài sản công dân, bị TAND thành phố Hải Phòng xử 5 năm tù giam. Ngày 20/1/1986: Trong khi đang thi hành án phạt tù, Quốc tổ chức đánh bạc trong trại giam, bị Tòa án huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, xử phạt 18 tháng tù, tổng hợp hình phạt là 78 tháng tù. Ngày 4/5/1986: Trốn trại, Công an Hải Phòng ra lệnh truy nã. Năm 1986-1987: Cư trú bất hợp pháp tại TP HCM. Ngày 21/12/1987, Công an Tân Bình bắt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đưa đi cưỡng bức lao động 1 năm, tha về ngày 16/12/1988 và làm nghề buôn bán. Từ năm 1988-1993: Tạm trú tại số 7 lầu 2 Nguyễn Huệ, phường Bến Nghé, quận 1. Ngày 13/08/1993, Công an TP HCM bắt về tội gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích, TAND TP HCM xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng (bản án số 708/HSST ngày 19/6/1995). Ngày 12/10/1995 trộm cắp tài sản, khai tên giả là Nguyễn Quốc Hải, TAND TP HCM xử phạt 2 năm tù giam (bản án số 469/HSST ngày 10/04/1996). Ngày 9/10/2001 Công an TP HCM bắt về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, tàng trữ trái phép chất ma túy.
c. Hành vi phạm tội:
* Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc
Tháng 10/1999 đến tháng 1/2000, Quốc tham gia đánh bạc tại sòng bạc xóc đĩa số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, mỗi ván bị can Quốc đặt tiền từ 500.000 đồng (năm trăm nghìn) đến 1.000.000 đồng (một triệu). Đến cuối năm 2000 tiếp tục tham gia đánh bạc và góp vốn làm cái tại sòng bạc 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, mỗi ván đặt tiền từ 1.000.000 đồng (một triệu) đến 2.000.000 đồng (hai triệu). Cùng với Đào Quang Cường (Cường Hải Phòng) hùn 50 phần: 50.000.000 (năm chục triệu) đồng do Quốc đứng tên. Sòng bạc hoạt động được 27 ngày được chia lời 3.000.000 (ba triệu) đồng. (Bl số :08,19-V4-tập 74)
Tháng 9/2001, Quốc và Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà) được Trương Văn Cam cho phép tổ chức sòng bạc, Quốc nhờ Bùi Viết Hùng (Tùng "Béo") thuê nhà của Nguyễn Văn Nghĩa số 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình với giá 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng mỗi ngày và 2.000.000 (hai triệu) cho Nghĩa làm nhiệm vụ lôi kéo con bạc, bảo vệ an ninh sòng bạc hoạt động. Quốc góp vốn 125.000.000 (một trăm hai mươi lăm triệu) đồng và được chia 1/10 tiền lời làm cái. Đồng thời, Quốc còn tham gia đánh bạc, đặt tiền mỗi ván từ 100.000 đồng (một trăm nghìn) đến 200.000 đồng (hai trăm ngàn). Hàng ngày, Quốc trực tiếp trả cho Nghĩa tiền thuê nhà và tiền lôi kéo con bạc, bảo kê an ninh là 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng. Ngoài ra, Quốc còn chi cho Bùi Viết Hùng mỗi ngày 50.000 (năm chục ngàn) đồng tiền môi giới thuê mướn nhà. Sòng hoạt động được 23 ngày thì Quốc và Nhã dời sòng bạc về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 tiếp tục hoạt động. Số phần hùn và các đối tượng tham gia vẫn giữ nguyên như lúc sòng bạc còn hoạt động ở 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình và sòng hoạt động được 10 ngày thì bị bắt. Việc duy trì hoạt động của sòng bạc do Quốc và Nguyễn Văn Nhã quyết định phân công từng tên làm từng nhiệm vụ trong sòng bạc, quyết định số lượng góp vốn, người góp vốn. Tiền xâu do Quốc quản lý, nhưng giao cho Nguyễn Thị Kim Phượng giữ hộ đến cuối tuần mới chia một lần và chia tiền xâu cho ai, số lượng bao nhiêu do Quốc và Nhã quyết định. Quốc khai được hưởng lợi cả 2 sòng là 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng tiền xâu, 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tiền lời, hành vi đánh bạc Quốc khai bị thua không nhớ bao nhiêu. Riêng tiền xâu tại sòng quận 8 của 5 ngày cuối khi bị bắt Quốc còn giữ 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. (BL số: 1876,1877,1878,1881-V4-tập 26)
Lời khai của Quốc như trên nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào tài liệu là quyển sổ do bị can Nguyễn Thị Kim Phượng là người ghi chép theo dõi hoạt động của sòng bạc tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 từ ngày 5/10/2001 đến ngày 8/10/2001 và lời khai của bị can Nguyễn Thị Kim Phượng, Nguyễn Văn Nhã có đủ cơ sở kết luận: sòng bạc tại quận 9, Quốc có hùn vốn 25.000.000 đồng, được chia lời 10.000.000 đồng và tiền xâu là 19.000.000 đồng.
Sòng bạc tại 1102 đường Tự Lập, Tân Bình, Quốc góp vốn 125.000.000 đồng. Được chia tiền đầu 10 là 200.000.000 đồng, tiền xâu là 170.000.000 đồng; tiền lời góp vốn là 108.000.000 đồng .
- Sòng bạc chuyển về 74/18 Trần Nguyên Hãn từ ngày 29/9 đến 9/10/2001 tiền lời do hùn vốn 1 đầu mười, ghi trong sổ ngày 5 và 6/10/2001 Quốc được chia là 104.550.000 đồng (73.900.000 đồng và 30.650.000 đồng). Phần tiền lời nhà cái chia theo 125 phần hùn ngày 5 và 6/10/2001 là 56.000.000 đồng (39.625.000 đồng và 16.375.000 đồng). Cộng 2 khoản một đầu mười và góp vốn 125 phần là 160.550.000 (một trăm sáu mươi triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Tiền xâu của sòng bạc trong các ngày 4, 5, 6/10/2001 ghi trong sổ là 222 triệu đồng. Số tiền này Quốc còn giữ chưa chia (nếu chia theo tỷ lệ mà Quốc và Nhã thỏa thuận thì Quốc được 55 triệu đồng).
Nguyễn Khánh Quốc thu lợi bất chính trong sòng bạc là 667.550.000 (sáu trăm sáu bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng. Đồng thời, Quốc còn đang chiếm giữ số tiền xâu của sòng bạc chưa chia của các ngày 4, 5, 6/10/2001 vì Quốc giữ chưa đến kỳ chia thì sòng bạc bị bắt là 222.000.000 đồng. Tổng cộng là 889.550.000 đồng (tám trăm tám chín triệu năm trăm năm mươi ngàn). (BL số: 08,19-V4-tập 74)
* Hành vi đưa hối lộ
Nguyễn Khánh Quốc đồng phạm với Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Nhã đưa hối lộ là 153.500.000 đồng (gồm các khoản nộp 2.000.000 đồng/ngày cho Trương Văn Cam: 46 triệu đồng sòng bạc Tân Bình, 14 triệu đồng sòng bạc quận 8 tháng 10/2001, 57.500.000 đồng cùng Nhã giao cho Nghĩa, 36.000.000 đồng cùng Nhã giao cho Cô Đệ). (BL: V5 T3: 202A-202B; V5T4: 214-215, 217)
* Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
Trong lúc bắt quả tang sòng bạc xóc đĩa tại nhà Trương Thoại ngày 9/10/2001, cơ quan điều tra khám xét người Nguyễn Khánh Quốc đã thu giữ trong ví của Quốc 5 viên thuốc tân dược màu đỏ có khắc chữ WY và một gói nylon chất bột màu trắng. Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự kết luận: 05 viên thuốc tân dược màu đỏ có khắc chữ WY nặng 0,5016g có chứa thành phần Methamphetamin và 1,7666g chất bột trắng trong gói nylon là heroin. Mặc dù Quốc không thừa nhận số ma túy trên của mình nhưng một số bị can trong vụ án này như Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Văn Nghĩa đều khai Nguyễn Khánh Quốc nghiện nặng ma túy.
* Hành vi trốn khỏi nơi giam
Nguyễn Khánh Quốc luôn luôn khai báo gian dối về lai lịch bản thân để che giấu tiền án - tiền sự, hành vi trốn trại và đồng bọn cùng phạm tội nhưng cơ quan điều tra chứng minh được quá trình phạm tội của Nguyễn Khánh Quốc như sau:
Ngày 8/9/1984, Quốc bị Công an thành phố Hải Phòng bắt về tội cướp tài sản công dân, bị TAND TP Hải Phòng xử 5 năm tù giam. Trong khi đang chấp hành án phạt tù tại trại Phi Liệt (Nay là trại Xuân Nguyên), Nguyễn Khánh Quốc cùng đồng bọn đánh bạc xóc đĩa, bị bắt quả tang ngày 20/01/1986 (việc đánh bạc do Quốc rủ rê các phạm nhân khác tham gia và chính Quốc là người chuẩn bị dụng cụ như bát, đĩa và cắt lá bài tổ tôm làm đồng vị…).
Ngày 20/4/1986, TAND huyện Thủy Nguyên - Hải Phòng xử phạt Quốc 18 tháng tù về tội đánh bạc, tổng hợp hình phạt 2 tội là 78 tháng tù.
Ngày 4/5/1986, Quốc đang thi hành án phạt tù đến tháng thứ 21 thì trốn trại trong khi trại cải tạo cho đi lao động. Như vậy Quốc còn phải thụ hình tiếp 57 tháng.
Ngày 19/6/1995, TAND TP HCM xử phạt Nguyễn Khánh Quốc 24 tháng tù treo và 24 tháng thử thách về tội đánh bạc và gây rối trật tự công cộng. Ngày 12/10/1995, Quốc bị bắt về tội trộm cắp tài sản công dân (tái phạm trong thời gian thi hành án treo). Ngày 10/04/1996, Quốc bị TAND TP HCM xử 24 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản công dân, nhưng không tổng hợp hình phạt chuyển bản án 24 tháng tù treo do TAND TP HCM tuyên phạt ngày 19/6/1995 thành 24 tháng tù giam (Cơ quan điều tra đã có văn bản gởi VKSND thành phố để đề nghị VKSND Tối cao kháng nghị tái thẩm 2 bản án nêu trên của TAND TP HCM).
Hành vi đưa hối lộ, tổ chức đánh bạc, đánh bạc, tàng trữ trái phép chất ma túy, trốn khỏi nơi giam của bị can Nguyễn Khánh Quốc đã phạm vào các điều 289, 249, 248, 194, 311 của BLHS nước CHXHCN VN.
Kiến nghị Tòa án tổng hợp hình phạt thêm 57 tháng tù giam Quốc chưa thi hành bản án số 31/HSST ngày 20/4/1986, TAND huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, tái thẩm các bản án số 708/HSST ngày 19/06/1995 và bản án số 469/HSST ngày 10/04/1996 của TAND TP HCM.
Vật chứng thu giữ
+ Một điện thoại di động hiệu Nokia.
+ 10.300.000 (mười triệu ba trăm ngàn) đồng, 225 cái phỉnh các loại.
+ 5 viên thuốc tân dược màu đỏ có khắc chữ WY nặng 0,5016 g có chứa thành phần Methamphetamin và 1,7666 g chất bột trắng trong gói nilon là heroin.
Tài sản kê biên: Nhà số 51 Tạ Thu Thâu, phường Bến Thành, quận 1.
33. Bị can Tạ Đắc Lung (Lý "Đôi")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1951 tại Hà Tây
- ĐKNKTT: 679/A3/9 Nguyễn Kiệm, phường 3, Gò Vấp, TP HCM
- Chỗ ở: 106/781N Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gò Vấp, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 6/10
- Con ông: Tạ Đắc Hoàn (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Hụp
- Vợ thứ nhất: Trương Thị Kim Hoa, sinh 1951, đã ly dị năm 1972. Có 3 người con, lớn nhất 34 tuổi, nhỏ 29 tuổi.
- Vợ thứ hai: Nguyễn Thị Kim Loan, sinh 1951 (ly dị 1987), có 3 con, người con lớn 28 tuổi, nhỏ 23 tuổi.
- Vợ thứ ba: Nguyễn Thị Kim Hòa (bị bắt chung vụ án), sống chung 1999-2001).
b. Quá trình hoạt động
Năm 1951-1953: Còn nhỏ sống với cha mẹ tại Hà Tây. Năm 1954-1968: Theo gia đình di cư vào Sài Gòn và đi học văn hóa đến lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1969-1971: bị bắt đi lính quân dịch ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, cấp bậc Binh nhì. Năm 1972-1977: Sống tại 11/32 ấp Nam Hòa, quận Tân Bình làm nghề sửa xe. Năm 1978-1988: Làm nghề buôn bán hàng tàu viễn dương ngụ tại 259/28A và 29 Thoại Ngọc Hầu, phường 11, quận Tân Bình. Năm 1989-2001: Sống ở 490/5 Lê Văn Sĩ, phường 14, quận 3, 414/7B Huỳnh Văn Bánh. Phường 14, quận Phú Nhuận, 679/A3/9 Nguyễn Kiệm, phường 3. Quận Gò Vấp, 679/C4/24 Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gò Vấp, 106/781N Nguyễn Kiệm phường 3, quận Gò Vấp. Không có nghề nghiệp ổn định. Ngày 24/5/1996, bị công an Tỉnh Đồng Nai truy nã về tội tổ chức đánh bạc. Ngày 22/7/1999 Tạ Đắc Lung đến Phòng Cảnh sát hình sự Công an Đồng Nai đầu thú, nhưng chưa bị xử lý, Công an TP HCM đã có công văn số 491 ngày 9/4/2002 gửi VKSND và Công an Tỉnh Đồng Nai đề nghị tiếp tục xử lý về hành vi tổ chức đánh bạc của Tạ Đắc Lung. Ngày 9/10/2001, bị Công an quận 8 bắt giữ quả tang về hành vi tham gia tổ chức đánh bạc tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8.
c. Hành vi phạm tội
- Tháng 10/1999, Tạ Đắc Lung đến đánh xóc đĩa ăn tiền mỗi ván đặt cược từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tham gia phần hùn 30.000.000 đồng tại sòng bạc số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Sòng bạc hoạt động được 4-5 tháng thì nghỉ. Số tiền thu lợi qua việc tham gia phần hùn và tiền xâu được chia là 120.000.000 (một trăm mươi triệu đồng). (BL số: 08,09,20-V4-tập 74)
- Tháng 1/2001 Tạ Đắc Lung đến đánh xóc đĩa ăn tiền, mỗi ván đặt cược từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng và có phần hùn 30.000.000 đồng tại sòng xóc đĩa ở số 351A khu phố I, phường Phước Long A, quận 9 do Nguyễn Văn Nhã tổ chức. Sòng bạc hoạt động được 27 ngày. Số tiền Tạ Đắc Lung được chia qua việc tham gia phần hùn và tiền xâu là 19.500.000 (mười chín triệu năm tăm ngàn) đồng. (BL số 08, 09, 20-V4-tập 74)
- Tháng 7/2001, Tạ Đắc Lung vay lãi của Nguyễn Thị Kiệm (bị bắt chung vụ) 50 triệu đồng, lãi suất 20% tháng để cùng Triệu Tô Hà (bị bắt cùng) tên Trương Mạnh Long (Long Giấy) bàn bạc góp vốn mỗi tên 50 triệu đồng mở sòng xóc đĩa tại số 46/12 đường Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình. Triệu Tô Hà giao cho Lung xin phép Trương Văn Cam mở sòng bạc, Trương Văn Cam không đồng ý. Nhưng Lung và Hà vẫn mở sòng bạc. Sòng bạc hoạt động được 5 ngày, vì không có nhiều con bạc đến chơi nên Lung, Hà chuyển sòng bạc về 27/23 Văn Thân, quận 6 hoạt động khoảng 7 ngày thì Lung, Hà, Quyền chuyển sang nhà 27/6 Văn Thân, quận 6.
Vai trò của Tạ Đắc Lung trong sòng bạc là lo khâu sổ sách, tính toán ăn chia trong sòng bạc và hàng ngày trích tiền từ sòng bạc ra chi các khoản sau:
- Trả “lương” cho các bộ phận giám sát, hồ lỳ, đổi phỉnh giữ tiền, bảo vệ…
- Tiền “phí ngoại giao” mỗi ngày 2 triệu đồng (17 ngày cuối trước khi sòng bạc nghỉ) để Nguyễn Văn Nhã giao cho Nguyễn Thành Thảo đem về nộp cho Trương Văn Cam đi đưa hối lộ. Tổng số tiền đưa hối lộ là 34.000.000 đồng.
- Tiền “an ninh” sòng bạc mỗi ngày 4,5 triệu đồng (10 ngày cuối trước khi sòng bạc nghỉ) giao cho Triệu Tô Hà, để Hà trả tiền thuê nhà mở sòng bạc 200.000 đồng và tiền “ngoại giao” với địa phương nơi mở sòng bạc 4.300.000 đồng.
Tạ Đắc Lung được hưởng lợi bất chính 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu) từ sòng bạc này.
- Tháng 9/2001, Tạ Đắc Lung tiếp tục đến đánh bạc mỗi ván đặt tiền từ 300.000 đến 2.000.000 đồng và có phần hùn 100.000.000 đồng tại sòng xóc đĩa ở 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình. Sòng bạc hoạt động được 23 ngày sau dời về 74/18 và Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, mở thêm được 10 ngày thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tạ Đắc Lung được chia tiền góp vốn và tiền xâu là 175.800.000 đồng (một trăm bảy lăm triệu tám trăm ngàn đồng). (BL số: 20-V4-tập 74)
Tổng số tiền thu lợi bất chính của Tạ Đắc Lung qua việc tham gia tổ chức các sòng bạc từ tháng 10/1999 đến ngày bị bắt (9/10/2001) là: 344.300.000 đồng (ba trăm bốn bốn triệu ba trăm nghìn đồng). Số tiền trên Lung khai đã chi tiêu sinh hoạt hàng ngày và đánh bạc. Số tiền đồng phạm đưa hối lộ là 63.000.000 đồng, gồm 20.000.000 đồng giao cho Trương Văn Cam lo hối lộ cấp thành phố và 4,3 triệu đồng giao cho Triệu Tô Hà lo hối lộ cấp phường, quận. (BL số: 08,20-V4-tập 74)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc, đưa hối lộ của bị can Tạ Đắc Lung đã phạm vào các điều 249, 248, 289 của BLHS nước CHXHCNVN.
Về vật chứng đang tạm giữ của Tạ Đắc Lung:
+ 1 điện thoại di động hiệu NOKIA - 8210
+ Tiền Ngân hàng Việt Nam: 950.000 đồng
+ 10 phỉnh màu vàng
34. Bị can Triệu Tô Hà (Vinh, Tài Ngạn)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1945 tại Chợ Lớn
- ĐKNKTT: 46/12 đường Âu Cơ, P 9, Quận Tân Bình, TP HCM
- Chỗ ở: Không nơi nhất định.
- Quốc tịch : Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: Không đọc thông viết thạo tiếng Việt.
- Con ông: Triệu Bỉnh Nam (chết) và bà: Bành Thị Hảo (chết)
- Vợ 1: Tô Thị Hoa, sinh năm 1961, có 1 con, đang định cư ở Canada.
- Vợ 2: Nguyễn Thị Ngọc Nga, sinh 1967, có 1 con chung.
b. Quá trình hoạt động
Năm 1948-1960: Triệu Tô Hà khi còn nhỏ sống với gia đình, đến năm 1961 cha mẹ chết bệnh, Hà sống bằng nghề làm thuê mướn tại Sài Gòn cho đến năm 1980. Năm 1980-1995: bị bắt về tội tổ chức đưa người trốn đi nước ngoài và tội đưa hối lộ. TAND TP HCM xử 16 năm tù giam, cải tạo đến năm 1991 được ra trại về sống tại 46/12 đường Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình, không nghề nghiệp. Tháng 5/1995 bị TAND quận Tân Bình xét xử sơ thẩm 18 tháng tù về tội gá bạc, cho hưởng án treo. Sau đó, TAND TP HCM xử phúc thẩm tuyên 18 tháng tù giam. Triệu Tô Hà trốn thi hành án, Công an Quận Tân Bình ra lệnh truy nã. Ngày 8/3/2001 Triệu Tô Hà ra đầu thú, được tại ngoại. Ngày 26/4/2001 Công an Quân Tân Bình truy nã Triệu Tô Hà về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngày 21/6/2001 đến Công an Quận Tân Bình đầu thú. Ngày 12/4/2002 TAND quận Tân Bình xét xử về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt tội gá bạc và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là 3 năm tù giam. Ngày 21/1/2002 bị bắt tạm giam về tội tổ chức đánh bạc.
c. Hành vi phạm tội
Tháng 11/1999 và tháng 1/2000, Triệu Tô Hà đến sòng bạc tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 do Trương Văn Cam và Tô Văn Tốt tổ chức để đánh bạc xóc đĩa ăn tiền. Mỗi ván đặt 3 ô, mỗi ô đặt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Triệu Tô Hà thua bạc khoảng 300.000.000 đồng. (BL số: 09,20-V4-tập 74)
Tháng 6/2000, Triệu Tô Hà thuê nhà số 780 Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, quận 3 cùng Trương Văn Cam tổ chức sòng bạc xập xám. Sòng bạc hoạt động được 7 ngày, Triệu Tô Hà được Vương Tử (Xây) chia cho 150.000.000 đồng. Số tiền trên Triệu Tô Hà chia lại cho Vương Tử (Xây) 50 triệu đồng, Lâm Như Thiên 50 triệu đồng, còn lại Triệu Tô Hà được hưởng 50 triệu đồng (BL số: 1507-V4-tập 19). Song lời khai của Hà về việc cho tên Xây, Lâm Như Thiên mỗi tên 50 triệu đồng là không có cơ sở. Do đó Hà phải chịu trách nhiệm về số tiền 150 triệu đồng do tên Xây đưa.
Tháng 12/2000, Triệu Tô Hà cùng tên Xây (tức Vương Tử) và Lâm Như Thiên là Việt Kiều Canada tổ chức sòng bạc xập xám tại 835/1-2 Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5. Sòng bạc mở được 5 ngày Triệu Tô Hà được tên Xây chia cho 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) tiền xâu. (BL số: 1508-V4-tập 19)
Tháng 1/2001, Triệu Tô Hà tham gia phần hùn 35 triệu, tên Vương Tử (Xây) 35 triệu, tên Phát (không rõ địa chỉ) 30 triệu để được lắc cái 01 ca hàng ngày từ 12 giờ đến 15 giờ tại sòng bạc xóc đĩa số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9. Triệu Tô Hà tham gia được 12 ngày thì nghỉ vì thua hết tiền, sòng bạc vẫn tiếp tục hoạt động. (BL số:1505-V4-tập 19)
Tháng 7/2001, Triệu Tô Hà bàn với Tạ Đắc Lung (bị bắt chung vụ) tên Trương Mạnh Long (Long "Giấy") hùn tiền mỗi tên 50 triệu đồng mở sòng bạc xóc đĩa tại nhà Triệu Tô Hà số 46/12 đường Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình, sau chuyển về nhà Hà Gia Quyền và nhà Nguyễn Thị Dung tại số 27/23 và 27/6 Đường Văn Thân, phường 8 quận 6. Sòng bạc hoạt động được 22 ngày.
Vai trò của Triệu Tô Hà là chủ sòng bạc, lo địa điểm thuê nhà và quan hệ với một số cán bộ địa phương để đảm bảo an toàn cho sòng bạc hoạt động. Khi sòng bạc chuyển từ nhà Hà Gia Quyền sang nhà Nguyễn Thị Dung số 27/6 Đường Văn Thân, phường 8, quận 6, trong thời gian 10 ngày, Triệu Tô Hà đã nhận mỗi ngày 4.500.000 đồng của sòng bạc, tổng cộng 45 triệu đồng. Hà đã chi tiền thuê nhà mỗi ngày 200.000 đồng (10 ngày x 200.000 đồng = 2000.000 đồng). Còn lại 43 triệu đồng, Triệu Tô Hà khai thực tế không dùng để mua chuộc cán bộ địa phương mà đem đánh bạc thua hết. Đồng thời, Triệu Tô Hà cùng Tạ Đắc Lung, Nguyễn Văn Nhã giao cho Trương Văn Cam 2 triệu đồng/ngày để Trương Văn Cam đưa hối lộ cho một số cán bộ cấp thành phố, tổng số tiền là 20 triệu đồng. Tiền xâu và tiền lời được chia từ sòng bạc, Triệu Tô Hà nhận được là: 37.200.000 đồng (ba mươi bảy triệu hai trăm nghìn). (BL số 1506-V4 - tập 19)
Tổng số tiền Triệu Tô Hà thu lợi bất chính qua việc tham gia tổ chức các sòng bạc từ tháng 6/2000 đến tháng 8/2001, tại 2 sòng xập xám và sòng bạc xóc đĩa ở quận 6 là 265.200.000 đồng (hai trăm sáu mươi lăm triệu, hai trăm nghìn đồng). Ngược lại Triệu Tô Hà thua bạc tại các sòng xóc đĩa từ năm 1999 đến năm 2001 là 378.000.000 đồng (ba trăm bảy mươi tám triệu đồng). Số tiền đồng phạm đưa hối lộ là 20.000.000 đồng.
Hành vi tổ chức đánh bạc và gá bạc, đánh bạc và đưa hối lộ của bị can Triệu Tô Hà đã phạm vào các điều 249, 248, 289 của BLHS nước CHXHCNVN.
Kiến nghị Tòa án tổng hợp hình phạt 3 năm tù giam (ngày 12/4/2002 của TAND quận Tân Bình xét xử) đối với Triệu Tô Hà về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và gá bạc.
Về vật chứng đang tạm giữ của Triệu Tô Hà:
- 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) đầu tư trong Công ty liên doanh thể thao và giải trí Legend do Siu Shun Tat giao nộp.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:30 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 4 kẻ tổ chức sòng bài


Nguyễn Văn Dương, Bùi Viết Hùng, Trương Mạnh Long và Trần Xuân Cường cùng tham gia tổ chức nhiều sòng bài tại TP HCM. Trong đó có 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 và 46/12 Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình, thu lợi hàng trăm triệu đồng.



[b]Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can[/b]
35. Bị can Nguyễn Văn Dương (Dượng)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 20/3/1962 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 35B khu phố 4, Phước Long B, quận 9, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 8/12
- Con ông: Nguyễn Văn Răng
- Con bà: Nguyễn Thị Tám
- Vợ: Đỗ Thị Thúy Nga, sinh 1964
- Có 4 con, lớn nhất sinh 1983, nhỏ nhất sinh 1994
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1962-1976: Ở với cha mẹ và đi học văn hóa tại Thủ Đức. Từ năm 1976-1982: Làm ruộng tại Phước Long, Thủ Đức. Từ năm 1983-1988: Lái xe lam chở hàng hóa. Từ năm 1989 đến ngày bị bắt (9/10/2001) làm nghề quay heo và đánh bạc.
- Tiền án - tiền sự: Ngày 27/01/1977, Công an Thủ Đức TP HCM bắt về tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản XHCN.
- Tạm giam: 9/10/2001.
c. Hành vi phạm tội
Tháng 1/2001 Nguyễn Văn Nhã nhờ Dương thuê nhà để tổ chức sòng bạc tại quận 9. Dương cùng Nhã đến gặp Nguyễn Thị Liên thuê nhà 351A Khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9. Sau khi Liên đồng ý cho thuê nhà, Nguyễn Văn Nhã cho sòng bạc hoạt động. Dương góp vốn làm cái 20 phần = 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng và tham gia đánh bạc bảy đến tám lần. Dương nhận tiền do Nguyễn Văn Nhã giao 3 lần, mỗi lần 300.000 đồng (ba trăm nghìn) để trả tiền thuê nhà cho Liên.
Quá trình tham gia đánh bạc Dương thua khoảng 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng và được chia tiền lời góp vốn làm cái khoảng 10.000.000 đồng (mười triệu). (BL số 2143-V4-tập 30)
Tháng 9/2001, Dương cùng Trương Văn Lang đến sòng bạc 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình hùn vốn đánh bạc. Tiền đánh bạc Dương 9 phần, Trương Văn Lang 1 phần. Mỗi ván đặt cược từ 500.000 (năm trăm nghìn) đồng đến 1.000.000 (một triệu) đồng. Dương và Trương Văn Lang đến sòng bạc đánh 3 lần bị thua tổng cộng 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng. Theo tỷ lệ góp vốn đánh bạc thì Dương thua 28.800.000 (hai mươi tám triệu tám trăm ngàn) đồng, Trương Văn Lang thua 3.200.000 (ba triệu hai trăm ngàn) đồng. Đồng thời Dương và Lang góp vốn làm cái trong sòng bạc là 50.000.000 (năm chục triệu) đồng (Dương 30 triệu, Trương Văn Lang 20 triệu) Dương và Lang thỏa thuận số tiền góp vốn làm cái nếu thắng thua thì chia 3: Dương 2 phần, Lang 1 phần. (BL số 2131,2132,2128-V4-tập 30)
Ngày 29/9/2001 sòng bạc rời về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, đến ngày 09/10/2001 Dương, Lang đến sòng bạc và bị bắt. Phần góp vốn làm cái 50.000.000 (năm chục triệu) đồng của Dương và Lang vẫn được giữ nguyên. Dương và Lang đến đánh bạc 2 lần và thua 10.000.000 (mười triệu) đồng (Lang bỏ ra 1 triệu đồng, Dương bỏ ra 9 triệu). Tiền lời góp vốn làm cái của Dương và Lang tại sòng bạc 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình và 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, được chia khoảng 50.000.000 (năm chục triệu) đồng. Theo tỷ lệ ăn chia góp vốn thì Dương được chia 33.000.000 (ba mươi ba triệu) đồng, Lang khoảng 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng. (BL số 2128-V4-tập 30)
Như vậy Dương khai nhận trong thời gian tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc, Dương thua bạc khoảng 58.800.000 (năm mươi tám triệu tám trăm nghìn) đồng và được chia lời từ sòng bạc khoảng 43.000.000 (bốn mươi ba triệu) đồng. (BL số 2132-V4-tập 30)
Ngoài ra, Dương còn mượn của Phạm Thị Lượng 50.000.000 (năm chục triệu) đồng với lãi suất 5%/tháng để tham gia đánh bạc và chơi hụi với Lượng còn thiếu 3 kỳ mỗi kỳ 10.000.000 (mười triệu) đồng. Tổng cộng Dương thiếu của Lượng 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng. (BL bố 2124-V4-tập 30)
Nguyễn Văn Dương là một đối tượng tham gia đánh bạc với số lượng lớn, có tiếng trong sòng bạc. Nhưng khi bị bắt khai báo nhỏ giọt, ngoan cố. Cơ quan điều tra đưa ra những chứng cứ cụ thể không chối cãi được Dương mới chịu nhận. Dương là người trực tiếp gặp Nguyễn Thị Liên thỏa thuận giá thuê nhà 351A Khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9. Nhưng việc trả tiền thuê nhà giữa Dương, Liên, Nhã khai không khớp (Dương khai 300.000 đồng/ngày, Liên 200.000 đồng/ngày, Nhã khai 800.000 đồng/ngày kể cả tiền lo bảo vệ an ninh cho sòng bạc). Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Thị Kim Phượng và Bùi Viết Hùng, có đủ cơ sở kết luận Dương nhận tiền từ sòng bạc là 800.000 (tám trăm nghìn) đồng 1 ngày để trả tiền thuê nhà cho thị Liên, còn lại là tiền lo bảo vệ, an ninh cho sòng bạc. Dương khai trả tiền thuê nhà cho thị Liên 300.000 đồng/ngày. Như vậy còn 500.000 đồng/ngày Dương hưởng (500.000 x 27 ngày = 13.500.000 đồng). (BL số 09,21-V4-tập 74)
Dương còn được chia một phần tiền xâu trong sòng bạc vì có công thuê nhà và có phần hùn 50.000.000 đồng, cũng như tham gia đánh bạc với số lượng lớn. Sòng bạc tại quận 9 được chia 3 lần tiền xâu khoảng 21 triệu đồng và 20.000.000 đồng tiền lời góp vốn. Sòng bạc tại Tân Bình , Dương được chia 4 lần tiền xâu là 21 triệu đồng, tiền lời góp vốn là 45.000.000 đồng. Sòng bạc chuyển về quận 8 tháng 10/2001, Dương được chia tiền lời là 27.800.000 đồng và tiền xâu là 7.000.000 đồng. (BL: V4 T74: 09, 21)
Tiền thuê nhà của thị Liên, Dương giữ lại khoảng 13.500.000 đồng. Tổng cộng Dương thu lời bất chính từ các sòng bạc là 155.300.000 (một trăm năm lăm triệu ba trăm nghìn) đồng.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Nguyễn Văn Dương đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Tài sản tạm giữ: 80 triệu đồng do vợ Dương giao nộp trong số 80 triệu Dương vay của Phạm Thị Lượng.
Kê biên nhà 35B Khu phố 4 phường Phước Long B quận 9.
36. Bị can Bùi Viết Hùng (Tùng "Béo")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 12/7/1937 tại Hà Tây
- Nơi ĐKNKTT: 60 Đồng Đen, phường 13, quận Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Thiên chúa
- Trình độ văn hóa: 8/12
- Con ông: Bùi Viết Thuần (chết)
- Con bà: Trần Thị Du (chết)
- Vợ: Phạm Thị Châm, sinh năm: 1945
- Con: 6 người con, con lớn sinh năm 1965, con nhỏ sinh năm 1979
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1937 đến 1954: Sống với gia đình và đi học phổ thông hết lớp 8/12 tại Thường Tín, Hà Tây. Từ năm 1954-1965: Theo cha mẹ di cư vào Nam đi làm thuê. Cư ngụ tại 60 Đồng Đen, Phường 13, quận Tân Bình (khu 9 trại Định cư Tân Việt cũ). Từ năm 1965-1976: Lái xe mướn. Từ năm 1976-1995: Lái xe cho Công ty Hóa chất Vật liệu Điện, Bộ Vật tư. Từ năm 1995-2001: Không việc làm.
- Tiền án: Ngày 9/11/1999, TAND quận Gò Vấp xử 15 tháng tù treo và 30 tháng thử thách về tội tổ chức đánh bạc.
- Tạm giam: 9/10/2001.
c. Hành vi phạm tội của bị can
Sòng bạc hoạt động được 4 tháng rưỡi thì ngưng, Hùng được trả tiền công 16.200.000 đồng. Còn số tiền thắng thua do tham gia đánh bạc, Hùng không xác định được.
Khoảng tháng 1/2001, sòng bạc mở tại 351A Khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, Hùng làm nhiệm vụ giám sát, góp vốn 30 triệu đồng và tham gia đánh bạc mỗi ván đánh từ 100.000 đến 300.000 đồng. Hùng tham gia khoảng 26 ngày thì sòng bạc giải tán.(BL số 705-V4-tập 6)
Hùng được chia tiền lời góp vốn là 14.000.000 đồng và tiền công sòng bạc trả là 3.120.000 đồng.
Còn số tiền thắng thua do đánh bạc bị can không xác định được.
Tháng 7/2001, Tạ Đắc Lung và Triệu Tô Hà mở sòng bạc tại nhà 27/23 và 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6. Hùng tham gia đánh bạc được 2 ngày thì sòng bạc giải tán, mỗi ván đặt cược từ 100 đến 300.000 đồng. (BL số 704-V4-tập 6)
Cuối tháng 8/2001, Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã được Trương Văn Cam cho phép mở sòng bạc tại Quận Tân Bình. Hùng giới thiệu cho Quốc gặp Nguyễn Văn Nghĩa thỏa thuận việc thuê nhà của Nghĩa số 1102 Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình. Đầu tháng 9/2001 sòng bạc hoạt động, Hùng được tên Quốc bố trí làm giám sát sòng bạc và được đưa con là Bùi Thanh Tuấn vào làm nhiệm vụ cảnh giới bảo vệ cho sòng bạc. Đồng thời góp vốn 30 phần trị giá 30 triệu đồng, Hùng còn thỉnh thoảng tham gia đánh bạc mỗi ván đặt cược từ 100 đến 300.000 đồng. Hùng được Quốc trả công giám sát mỗi ngày 120.000đ và tiền công thuê nhà lôi kéo con bạc là 50.000 đồng mỗi ngày. (BL số 696-V4-tập 6).
Sòng bạc hoạt động được 23 ngày thì ngày 29/9/2001 chuyển về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Hùng cũng làm nhiệm vụ giám sát, đánh bạc và có 30 phần hùn làm cái. Cho đến ngày 9/10/2001 Hùng và sòng bạc bị bắt quả tang. Quá trình tham gia sòng bạc Hùng có công lôi kéo con bạc tham gia, giám sát điều hành những tên bảo vệ nên được Quốc chia cho 1 phần tiền xâu.
Tiền thu lợi bất chính của tên Hùng tại sòng bạc Tân Bình và tại quận 8 cho đến khi bị bắt là 81.280.000 (tám mươi mốt triệu hai trăm tám mươi ngàn) đồng. (BL số 706,707-V4-tập 6)
Tổng cộng số tiền thu lợi bất chính do tham gia các sòng bạc là: 114.600.000 đồng.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Bùi Viết Hùng đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Kiến nghị, tòa án tổng hợp thành hình phạt tù bản án 18 tháng tù treo 30 tháng thử thách vì bị can phạm tội trong thời gian thử thách.
Vật chứng tạm giữ tại sòng bạc gồm: 1.450.000 đồng, 26 chiếc phỉnh chơi bạc màu vàng, 3 lá bài tổ tôm.
Tài sản kê biên: Nhà số 60 đường Đồng Đen, phường 13, Tân Bình.
37. Bị can Trương Mạnh Long (Long "Giấy")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 13/07/1960 tại Nam Hà
- ĐKNKTT: số 9 Lương Văn Can, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
- Tạm trú: 351/15/2 Nguyễn Trọng Tuyển, phường 1, Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/10
- Con ông: Trương Mạnh Kiếm (chết)
- Con bà: Bùi Thị Chung
- Vợ: Nguyễn Thị Thu Hà, sinh 1965 (đã ly dị)
- Có 2 con: Lớn 18 tuổi, nhỏ 8 tuổi
b. Quá trình hoạt động:
Năm 1960-1977: Sống với cha mẹ và đi học văn hóa tại Hà Nội. Từ năm 1978-1982: Học nghề và làm công nhân công ty Xây dựng Nhà ở số 2, Hà Nội và làm công nhân hợp tác xã Hợp Thắng, quận Ba Đình, Hà Nội. Năm 1982-1987: Bị tai nạn lao động, nghỉ việc ở nhà phụ việc gia đình và buôn bán giấy. Tháng 1/1987: Bị bắt về tội đánh bạc, Tòa án quận Hoàn Kiếm - Hà Nội xử 12 tháng án treo, 24 tháng thử thách. Tháng 12/1994: TAND Hoàn Kiếm xử 12 tháng tù giam về tội đánh bạc. Ngày 26/11/1999: TAND TP HCM xử 4 năm tù về tội cố ý gây thương tích, tháng 7/2000 được tha trước thời hạn. Năm 2000-2002: Buôn bán và đánh bạc.
c. Hành vi phạm tội:
Căn cứ vào lời khai các bị can tham gia tổ chức sòng bạc (Nguyễn Văn Nhã, Tạ Đắc Lung, Triệu Tô Hà), kết luận: Tháng 7/2001, Trương Mạnh Long tham gia sòng bạc tại 46/12 Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình, 27/23 Văn Thân phường 8, quận 6 và 27/6 Văn Thân phường 8 quận 6 với số vốn là 100.000.000 đồng và đánh bạc mỗi ván từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Được chia 3/15 tiền xâu là 37.200.000 đồng. Riêng tiền lời hùn vốn ban đầu nhà cái thua cho đến khi Nguyễn Văn Nhã tham gia nhà cái ăn lại nên Trương Mạnh Long hòa vốn, không có phần lời do hùn vốn trong sòng bạc.(BL số 13-V4-tập 74,1289-V4-tập 17).
Ngày 12/6/2002, Trương Mạnh Long bị Công an quận Tân Bình bắt tạm giam để điều tra trong vụ án tổ chức đánh bạc cá độ bóng đá khác.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Trương Mạnh Long đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
38. Bị can Trần Xuân Cường (Cường "Biên Hoà")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày 29/07/1959 tại Nam Định
- ĐKNKTT: 185/5C đường 5, phường Tân Mai, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Chỗ ở: 874 quốc lộ 61, phường Tam Hiệp, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 7/12
- Con ông: Trần Xuân Định
- Con bà: Trần Thị Văn.
b. Quá trình hoạt động:
Năm 1959-1975: Sống với gia đình và học văn hóa. Cư ngụ tại thôn Thượng Lối, xã Lộc Vượng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Năm 1976-1977: Đi làm công nhân xây lắp tại Nam Định. Năm 1977-1978: Đi nghĩa vụ quân sự đóng tại Hải Phòng. Tháng 8/1978-1998: Khai thác gỗ và buôn bán tại số 185/5C đường 5, Tân Mai, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Ngày 13/1/1998-13/7/1998: Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt tạm giam về tội tổ chức đánh bạc, Tòa án nhân dân tỉnh tuyên phạt 24 tháng tù giam. Ngày 1/11/2000 được Tòa án nhân dân tỉnh Ba Rịa - Vũng Tàu có quyết định hoãn thi hành án phạt tù để trị bệnh. Năm 1998-2001: Tạm trú tại số 874 quốc lộ 61, Tam Hiệp, TP Biên Hòa, Đồng Nai.
- Tiền án: Tháng 8/2000 bị Tòa phúc thẩm TAND Tối cao xử phạt 24 tháng tù về tội tổ chức đánh bạc, đang được hoãn thi hành án.
- Tạm giam: 9/10/2001.
c. Hành vi phạm tội
Tháng 10/1999, Trần Xuân Cường được Nguyễn Khánh Quốc rủ đến đánh bạc tại nhà 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Cường tham gia đánh bạc khoảng bốn lần thua khoảng 6 triệu đồng, mỗi ván đánh từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng. (BL số 09-V4-tập 74,917-V4 - tập 9)
Tháng 1/2001, Cường cùng Trần Duy Lai đến sòng bạc số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, Cường được Nguyễn Văn Nhã cho góp vốn làm cái 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Cường cho Lai góp vào 5.000.000 (năm triệu) đồng, còn Cường góp 15.000.000 (mười năm triệu) đồng. Ngoài việc góp vốn làm cái Cường còn trực tiếp đánh bạc mỗi ván đặt cược từ 100.000 (một trăm nghìn) đến 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, có ván thắng ván thua, số tiền thắng thua không xác định được. Sòng bạc hoạt động khoảng 26 ngày thì giải tán. Cường được chia tiền lãi góp vốn làm cái là 7.000.000 (bảy triệu) đồng và tiền xâu là 19.000.000 (mười chín triệu) đồng. (BL số 917-V4-tập 9)
Sòng bạc mở tại 27/23 Văn Thân và 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6 trong tháng 7/2001 do Tạ Đắc Lung và Triệu Tô Hà đồng chủ sòng, tên Cường đến tham gia đánh bạc và được Tạ Đắc Lung cho hùn vốn 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Cường đánh bạc mỗi ván từ 100.000 (một trăm ngàn) đồng đến 400.000 (bốn trăm ngàn) đồng, có ván được ván thua, số tiền thắng thua bị can không xác định được. Cường đến tham gia đánh bạc được 3 ngày thì sòng bạc nghỉ. Tiền lời góp vốn làm cái 50.000.000 (năm chục triệu) đồng được chia 4.000.000 (bốn triệu) đồng. (BL số 917,918-V4-tập 9)
Sòng bạc mở tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình vào tháng 9/2001, Trần Xuân Cường được tên Nguyễn Khánh Quốc cho hùn vốn làm cái 15.000.000 (mười năm triệu) đồng, phần vốn này được tính chung trong phần vốn do Quốc đứng tên là 125 phần. Sòng bạc hoạt động được 23 ngày thì chuyển về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Ngoài việc hùn vốn làm cái với Quốc, Cường còn tham gia đánh bạc mỗi ván đặt từ 100.000 (một trăm ngàn) đến 500.000 (năm trăm ngàn) đồng, có ván thắng ván thua. Tiền lãi góp vốn 15 phần Cường được Quốc chia 11 triệu đồng. (BL số 918,919-tập 9)
Sòng bạc từ Tân Bình dời về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 từ ngày 29/9/2001 đến ngày 9/10/2001 thì bị bắt. Phần hùn của Cường vẫn giữ nguyên. Cường đã được Quốc chia tiền lời góp vốn là 6 triệu đồng. (BL số 918-V4- tập 9)
Số tiền thu lợi bất chính Cường được chia trong các sòng bạc là: Tiền lãi được chia từ góp vốn làm cái: 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng; Tiền xâu được chủ sòng chia là: 19.000.000 (mười chín triệu) đồng. Tổng cộng: 47.000.000 (bốn mươi bảy triệu) đồng.
Trần Xuân Cường là bị can đã có bản án 24 tháng tù giam về tội tổ chức đánh bạc, chưa thi hành án lại tiếp tục tái phạm. Khi bị bắt giữ không khai báo thành khẩn.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Trần Xuân Cường đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Kiến nghị Tòa án tổng hợp hình phạt bản án của TAND Tối cao xử phạt Trần Xuân Cường 24 tháng tù giam về hành vi tổ chức đánh bạc nhưng Trần Xuân Cường (trừ 6 tháng bị tạm giam).
Vật chứng tạm giữ của Trần Xuân Cường tại sòng bạc 2.536.000 (hai triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn) đồng là tiền do đánh bạc mà có; 1 (một) điện thoại di động.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:30 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch Hà "Trề" và 9 đàn em thân tín


Lê Thị Thu Hà (Hà "Trề") hùn vốn để tổ chức nhiều sòng bài tại TP HCM, thu lợi hơn 630 triệu đồng. 9 bị can Trần Duy Lai và Nguyễn Ngọc Chung, Vũ Thế Khải, Đào Thế Minh, Lê Đình Bang, Nguyễn Thị Kim Hoà, Trần Quốc Dân, Trịnh Chảy và Vương Thanh đã tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc tại các sòng của Năm Cam.



[b]Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can[/b]
39. Bị can Lê Thị Thu Hà (Hà "Trề")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 6/6/1953
- ĐKNKTT: 47/6 XVNT, phường 21, quận Bình Thạnh TP HCM
- Chỗ ở: 117/1 đường Liên phường, Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 8/12
- Con ông Lê Văn Tồn (chết)
- Con bà Lê Thị Sui, 85 tuổi
- Chồng: Phạm Văn Luông, sinh năm: 1952, ly dị năm 1978. Có 2 con (lớn sinh năm 1973, nhỏ sinh năm 1975)
- Chồng: Phạm Văn Minh, sinh năm: 1956 (bị can chung vụ án). Có 2 con (lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1988).
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1953 đến 1988 ở với cha mẹ, đi học, buôn bán tại phường 21, Bình Thạnh. Từ năm 1989 đến nay tạm trú tại:117/1 đường liên phường, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức.
- Tiền án, tiền sự: Ngày 13/6/1992 bị Công an TP HCM bắt về hành vi đánh bạc, sau đó bị xử phạt hành chính cảnh cáo. Ngày 2/10/1992 bị Công an tỉnh Bình Định bắt về hành vi cùng đồng bọn cướp tài sản. Ngày 20/6/1993, VKSND tỉnh Bình Định đã đình chỉ điều tra. Ngày 22/8/1995 bị Công an Gò Vấp, TP HCM bắt về hành vi đánh bạc. Ngày 9/11/1999 bị Tòa án Gò Vấp xử 18 tháng tù cho hưởng án treo, 36 tháng thử thách. Trong thời gian này, Hà vẫn tiếp tục tham gia tổ chức đánh bạc.
- Tạm giam: 8/12/2001.
c. Hành vi phạm tội
Quá trình điều tra Lê Thị Thu Hà luôn luôn quanh co chối tội và chỉ khai nhận:
Tháng 6/2001, Hà được tên Trần Thị Anh Anh (tự Sơn) rủ hùn vốn vào sòng bạc tại 27/23 và 27/6 đường Văn Thân, phường 8, quận 6, TP HCM do Tạ Đắc Lung làm chủ. Hà đưa cho Sơn 50.000.000 đồng để hùn vào sòng. Khoảng 10 ngày sau Sơn thông báo cho Hà biết là số tiền hùn trên đã bị thua gần hết chỉ còn lại số tiền là 3.600.000 đồng Hà tự rút vốn về. Ngoài ra Hà không tham gia vào sòng bạc nào khác. (BL số 3152,3154-V4-tập 58)
Kết quả điều tra có đủ căn cứ kết luận:
Tháng 10/1999, Lê Thị Thu Hà cùng chồng là Phạm Văn Minh góp 100 triệu đồng làm cái trong sòng bạc xóc đĩa tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Hà làm nhiệm vụ giữ tiền của sòng bạc. Sau đó Hà đưa Trần Thị Anh Anh (Sơn) vào thay Hà giữ tiền của sòng bạc và giao cho Lương Tiểu Chánh làm nhiệm vụ giữ phỉnh đổi tiền thay cho Phạm Thị Thu Trang (con của Hà ). (BL số 10,12-V4-tập 74)
Ngày 26/1/2000 Phạm Văn Minh phạm tội giết người bỏ trốn, sòng bạc tạm ngưng. Cuối tháng 2/2000 sòng bạc hoạt động trở lại. Phần hùn 100 triệu của Minh và Hà vẫn giữ nguyên và được chia hai phần rưỡi tiền xâu là 300.000.000 đồng, tiền lời phần hùn Hà được chia 200 triệu đồng. (BL số 10,22-V4-tập 74)
+ Tháng 1/2001, sòng bạc chuyển về Phường Phước Long A, quận 9. Hà góp vốn làm cái 50 phần bằng 50 triệu. Tuy Hà chỉ có phần hùn, không có công trong sòng bạc nhưng Trương Văn Cam vẫn chỉ đạo Nguyễn Văn Nhã chia cho Hà 0,5 phần xâu để Hà nuôi Phạm Văn Minh đang ở tù. Vì vậy Hà được chia tiền xâu 25 .000.000 đồng (hai mươi lăm triệu), tiền lời được chia 20.000.000 đồng (hai mươi triệu). (BL số 10,22-V4-tập 74)
+ Tháng 7/2001 sòng bạc mở tại 27/23 và 27/6 đường Văn Thân, phường 8, quận 6. Hà Tham gia 50 phần hùn bằng 50 triệu đồng (BL số 10-V4-tập 74), được chia một phần tiền xâu và tiền lời góp vốn, nhưng Hà không khai nhận nên không xác định được số tiền xâu và tiền lời Hà được chia.
+ Tháng 9/2001 sòng bạc mở tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình, Hà tham gia 50 phần hùn bằng 50 triệu, Hà được chia phần tiền xâu là 15 triệu đồng, tiền lời góp vốn được chia 45 triệu đồng. (BL số 10,22-V4-tập 74)
+ Từ ngày 29/9/2001 sòng bạc mở tại74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Hà tham gia 50 phần, từ 4/10/2001 đến 8/10/2001. Hà được chia tiền lời là 27.800.000 đồng tiền xâu chưa được chia. (BL số 22-V4-tập 74)
Tổng cộng tiền thu lợi bất chính từ các sòng bạc, Hà được chia khoảng 632.800.000 (sáu trăm ba hai triệu tám trăm nghìn) đồng (tính cả phần lời của Phạm Văn Minh được chia ở sòng quận 8 năm 1999).
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Lê Thị Thu Hà đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Kiến nghị tổng hợp bản án của TAND quận Gò Vấp ngày 9/11/1999 xử phạt Lê Thị Thu Hà 18 tháng tù treo, 36 tháng thử thách nhưng Lê Thị Thu Hà tái phạm.
- Tài sản thu giữ và kê biên
+ Một xe ôtô hiệu Toyota biển số 52M – 9152. Hà khai là của Hà mua từ năm 1998 giá là 160.000.000 đồng, nhưng chưa chuyển quyền sử dụng cho Hà.
+ Một passport của Lê Thị Thu Hà số P0703705, một điện thoại di động hiệu Samsung, và một số giấy tờ liên quan khác mà khi khám xét thu được Hà xác nhận là của Hà và gia đình.
+ Kê biên 02 căn nhà số: 13 lô C Cư xá Lạc Long Quân, phường 5, quận 11 và 117/1 đường liên phường, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức.
40. Bị can Trần Duy Lai (Lai "Biên Hoà")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1960 tại Nam Định
- ĐKNKTT: 180C tổ 2, khu phố 3, Long Bình, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai.
- Quốc tịch : Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Con ông: Trần Tiến Bình
- Con bà Lê Thị Nghiên.
- Vợ: Nguyễn Thị Vân, sinh 1962
- Có 4 con, lớn nhất sinh 1985, nhỏ nhất sinh 1995
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ ở với cha mẹ học hết lớp 7/10 nghỉ học. Tháng 5/1978 đi nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Campuchia. Tháng 12/1983 bị thương loại 7/8 về điều dưỡng tại Việt Nam. Tháng 1/1984 công tác tại Cục Vận tải trung đoàn 33 đóng quân tại Long Bình – Đồng Nai đến 1998 nghỉ hưu, là thương binh ¼.
- Tiền án – tiền sự: Ngày 24/3/1995 đánh bạc – tổ chức đánh bạc Công an tỉnh Đồng Nai cảnh cáo tha. Tháng 2/1999 tổ chức đánh bạc và đánh bạc TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt 30 tháng tù giam. Ngày 2/9/2000 được đặc xá tha trước thời hạn.
- Tạm giam ngày 19/1/2002.
c. Hành vi phạm tội
Cuối năm 2000 đầu năm 2001 Trần Văn Lai được Trần Xuân Cường đưa đến 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Mỗi ván đặt tiền từ 50.000 đồng đến 150.000 đồng tham gia được gần 23 ngày thì nghỉ, kết quả bị thua: 900.000 đồng. Đồng thời cùng với Trần Xuân Cường tham gia hùn vốn với chủ sòng để tổ chức đánh bạc là 20 phần tương đương 20.000.000 đồng do Trần Xuân Cường đứng tên. Trong đó tên Lai hùn 5 phần tương đương 5.000.000 đồng. Được chia lời từ các phần hùn khoảng 2.000.000 đồng tên Lai sử dụng tiền lời đánh bạc tại sòng thua hết. (BL số 2012-V4-tập 27)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Trần Duy Lai đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
41. Bị can Nguyễn Ngọc Chung (Chung Tâm)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 11/6/1952 tại Hải Phòng
- ĐKNKTT: Số 6, ngõ Cấm, phố Lê Lợi, quận Ngô Quyền, Hải Phòng
- Chỗ ở (tạm trú): 52 Nguyễn Trãi, phường Bến Thành, quận 1
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Văn hóa: 10/10
- Con ông: Nguyễn Ngọc Cáp
- Con bà: Trần Thị Lan
- Vợ: Dương Thị Hồng Tâm
- Con: 2 người, lớn sinh năm 1975, nhỏ sinh năm 1985
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1952-1969: Còn nhỏ đi học hết lớp 10 tại Hải Phòng. Từ năm 1970: Đi nghĩa vụ quân sự, đơn vị Đoàn 539 giải phóng Trường Sơn. Năm 1972–1984: Ngụ tại Hải Phòng. Năm 1985-1987: Buôn bán hàng phi mậu dịch, cùng gia đình tạm trú 44 Đông Du, Phường Bến Nghé, quận 1, TP HCM. Năm 1987-1999: Làm nghề xây dựng, buôn bán bất động sản. Cùng gia đình tạm trú tại 52 Nguyễn Trãi, phường Bến Thành, quận 1. Năm 1999-2001: Nuôi tôm tại Gò Công - Tiền Giang và Tuần Châu - Quảng Ninh.
- Tiền án: Năm 1970 TAND quận Lê Chân, Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù treo về tội trộm cắp tài sản.
- Tiền sự: 3
c. Hành vi phạm tội
Nguyễn Ngọc Chung khai nhận: Khoảng 11/1999 Chung được Đặng Trần Khang (thường gọi Men), sinh năm 1957, ngụ: 322/12 Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, quận 3 (đã xuất cảnh đi Mỹ tháng 6/2001) đưa đến sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 tham gia đánh bạc, được Nguyễn Văn Nhã cho hùn vốn từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng và cho phụ trách lắc cái 1 ca. Được Nhã lấy tiền xâu 2 lần (1 lần 7.000.000 đồng, 1 lần 5.000.000 đồng) trả nợ cho Chung. Tiền lời góp vốn mỗi ngày được chia 600.000 đồng. (BL số 2231, 2232, 2237-V4-tập 32)
Lời khai của Nguyễn Ngọc Chung là không có cơ sở, nhằm che giấu hành vi phạm tội của y. Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Thị Kim Phượng, có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Ngọc Chung tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn năm 1999-2000, trong 3 tháng, góp vốn 70.000.000 đồng. Đánh bạc mỗi ván từ 300.000 đến 1.000.000 đồng, được chia tiền lời góp vốn là 75.000.000 đồng, tiền xâu là 45.000.000 đồng. Tổng cộng 120.000.000 đồng. (BL số 11,22-V4-Tập 74)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Nguyễn Ngọc Chung đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Tài sản kê biên: Căn hộ 52 lầu 1 Nguyễn Trãi, Bến Thành, quận 1.
42. Bị can Lê Đình Bang (Quang "Hói")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1955 tại Hà Tây
- ĐKNKTT: Thôn Ngọc Giả, xã Ngọc Hòa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
- Chỗ ở (tạm trú): 44/8 Phạm Văn Chiêu, phường 13, Gò Vấp, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Con ông: Lê Đình Chiêng (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Việt (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Bích Hợp, sinh 1957
- Có 3 con, lớn nhất sinh 1984, nhỏ nhất sinh 198
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1955-1981: Ở với cha mẹ đi học tại Ngọc Hải, Ngọc Hòa, Chương Mỹ, Hà Tây. Từ năm 1982-2001: Làm nghề thợ mộc, tạm trú tại 44/8 Phạm Văn Chiêu, phường 13, Gò Vấp, TP HCM.
- Tiền án: 1.
Ngày 22/08/1995 bị Công an Gò Vấp bắt về tội đánh bạc. Ngày 9/11/1999 bị Tòa án Gò Vấp xử 15 tháng được hưởng án treo và 30 tháng thử thách.
- Tạm giam: 13/12/2001.
c. Hành vi phạm tội
Tháng 10/1999 trong khi đang được tại ngoại chờ Tòa án Gò Vấp xét xử về hành vi cùng đồng bọn tổ chức đánh bạc, Lê Đình Bang đến sòng bạc xóc đĩa tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 tham gia vào tổ chức đánh bạc, hùn vốn 70 phần = 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng và được phân công thay nhau xóc đĩa làm cái. Bang tham gia được khoảng 4 tháng thì sòng bạc ngưng. Bang được chia khoảng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tiền lời hùn vốn làm cái và khoảng 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng tiền xâu. Tổng cộng số tiền lời bất chính do tổ chức sòng bạc mà Bang tự khai nhận là khoảng 43.000.000 (bốn mươi ba triệu) đồng. (BL số 3084,3086-V4 tập 57)
Ngoài việc tham gia tổ chức đánh bạc Bang còn tham gia đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Bang sử dụng số tiền lời do hùn vốn làm cái và tiền xâu nêu trên để đánh bạc. Mỗi ván đánh từ 100.000 đồng (một trăm nghìn) đến 1.000.000 đồng (một triệu). (BL số 10, 23-V4-tập 74)
Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Thị Kim Phượng có đủ cơ sở kết luận: Lê Đình Bang hùn vốn 70 triệu và tham gia đánh bạc trong thời gian 3,5 tháng tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyễn Hãn, quận 8. Năm 1999–2000, được chia tiền lời góp vốn là 85 triệu đồng và 60 triệu đồng tiền xâu. Tổng cộng là 145 triệu đồng (BL: V4 T74: 10, 23)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Lê Đình Bang đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Kiến nghị Tòa án tổng hợp bản án của TAND quận Gò Vấp ngày 9/11/1999 xử phạt Lê Đình Bang 15 tháng tù treo, 30 tháng thử thách nhưng Lê Đình Bang tái phạm.
43. Bị can Nguyễn Thị Kim Hòa
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 8/2/1959 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 69/33 Nguyễn Công Trứ, phường 19, Bình Thạnh
- Chỗ ở: 106/781 Nguyễn Kiệm, phường 3, Gò Vấp
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật giáo
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Con ông: Nguyễn Thành Long, sinh 1932
- Con bà: Tạ Thị Bút (chết)
- Chồng 1: Trương Văn Mỹ (đã ly dị)
- Chồng 2: Tạ Đắc Lung, sinh 1951 đang bị giam cùng vụ án.
- Con: 2 con riêng (lớn sinh 1982, nhỏ sinh 1991)
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1959-1988: Còn nhỏ, đi học đến lớp 9, cùng gia đình cư ngụ tại 120/3 Nguyễn Công Trứ, phường 19, Bình Thạnh, TP HCM. Năm 1988-1997: Cư ngụ tại 69/33 Nguyễn Công Trứ, phường 19, Bình Thạnh, TP HCM. Năm 1997-2001: Cư ngụ tại 106/781 Nguyễn Kiệm, phường 3, Gò Vấp, TP HCM.
Tiền án – tiền sự
- 4 tiền sự: Ngày 13/6/1979 bị Công an Quận 1 bắt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân, cảnh cáo tha. Ngày 24/3/1983 bị Công an Quận 3 bắt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân, cảnh cáo tha. Ngày 27/8/1983 bị Công an quận 6 bắt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân, trật tự công cộng 3 năm. Ngày 11/12/1992 bị Công an Tân Bình bắt về hành vi cướp tài sản công dân, cảnh cáo tha.
- 1 tiền án: Ngày 30/1/1997, TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Thị Kim Hòa 9 tháng tù về tội đánh bạc.
c. Hành vi phạm tội
- Tháng 10/1999 Nguyễn Thị Kim Hòa đến đánh bạc xóc đĩa tại sòng bạc của Trương Văn Cam cùng đồng bọn tổ chức ở số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Tuần đầu Hòa tham gia đánh bạc mỗi ván từ 100.000 đồng (một trăm nghìn) đến 300.000 đồng (ba trăm nghìn). Sau đó, Hòa được Nguyễn Văn Nhã giao cho giữ phỉnh đổi tiền trong sòng bạc cùng với Nguyễn Thị Kim Phượng. Hòa tham gia liên tục cho đến khi sòng bạc giải tán, ước tính khoảng 105 ngày, mỗi ngày được sòng bạc trả công 120.000 đồng (một trăm hai chục nghìn), số tiền thu lợi bất chính của bị can là 12.600.000 đồng (mười hai triệu sáu trăm nghìn). (BL 767-V4-tập 7)
- Tháng 1/2001 Nguyễn Văn Nhã tổ chức sòng bạc tại nhà Nguyễn Thị Liên số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, Hòa làm nhiệm vụ lên xuống tiền và đổi phỉnh cho sòng bạc. Ngoài việc giữ phỉnh, đổi tiền cho sòng bạc, Hòa còn tham gia đánh bạc mỗi ván từ 100.000 đồng (một trăm nghìn) đến 200.000 đồng (hai trăm nghìn) và hùn vốn làm cái 10 phần = 10.000.000 đồng (mười triệu). Hòa tham gia thường xuyên cho đến khi sòng bạc giải tán, ước tính thời gian khoảng 22 ngày. Tại sòng bạc này Hòa được trả tiền công 25 ngày và được chia tiền lời 3.000.000 đồng từ phần hùn trong sòng bạc là 6.000.000 (sáu triệu) đồng. (BL số 767,771-V4-tập 7)
- Tháng 7/2001 Tạ Đắc Lung cùng Triệu Tô Hà mở sòng bạc tại nhà Triệu Tô Hà số 46/12 Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình rồi chuyển đến nhà Hà Gia Quyền (Băng Châu) số 27/23 Văn Thân và nhà Nguyễn Thị Dung số 27/6 Văn Thân, quận 6. Hòa tham gia đánh bạc và được chủ sòng thuê làm người giữ phỉnh đổi tiền trong thời gian sòng bạc hoạt động khoảng 22 ngày, Hòa được sòng bạc trả công 120.000 đồng/ngày. Tổng cộng số tiền sòng bạc trả công cho Hòa khoảng 2.640.000 đồng (hai triệu sáu trăm bốn mươi ngàn). (BL số 767,769-V4- tập 7)
- Tháng 9/2001 Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã tổ chức sòng bạc tại nhà Nguyễn Văn Nghĩa số 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình, Hòa được Nhã giao nhiệm vụ lên xuống tiền cho cái và đổi phỉnh cùng thị Phượng. Ngoài nhiệm vụ trên thị Hòa còn tham gia đánh bạc mỗi ván từ 100.000 đồng (một trăm nghìn) đến 300.000 đồng (ba trăm nghìn) và góp vốn làm cái 10 phần = 10.000.000 đồng (mười triệu) trong thời gian sòng bạc hoạt động là 23 ngày. Hòa được sòng bạc trả công giữ phỉnh đổi tiền là 2.760.000 đồng (hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn) và chia tiền lời từ hùn vốn làm cái là 9.000.000 đồng (chín triệu). (BL số 767,772-V4-tập 7 )
- Từ 29/9/2001 đến 9/10/2001 sòng bạc từ Tân Bình chuyển về nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Hòa vẫn giữ vai trò giữ phỉnh đổi tiền, góp vốn làm cái và tham gia đánh bạc. Trong 9 ngày tham gia trong sòng bạc, Hòa được sòng bạc trả công 1.080.000 đồng (một triệu lẻ tám chục nghìn) và được chia lời 5.000.000 (năm triệu) đồng. (BL số 767,772-V4-tập 7 )
Tổng số tiền Hòa thu lợi bất chính trong các sòng bạc kể trên là 42.080.000 (bốn mươi hai triệu không trăm tám mươi nghìn) đồng. Hòa khai đã dùng số tiền trên đánh bạc và bị thua hết.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Nguyễn Thị Kim Hòa đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng tạm giữ gồm 1.225.000 đồng (một triệu hai trăm hai mươi lăm) và 14 phỉnh màu vàng (mỗi phỉnh mệnh giá 500.000 đồng). Hòa khai là số tiền trên do thu lợi bất chính trong sòng bạc mà có, còn số phỉnh là của sòng bạc do Phượng bỏ lại.
44. Bị can Vũ Thế Khải
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1946 tại Thái Bình
- ĐKNKTT: 421/31/2 Phạm Văn Hai, phường 3, Tân Bình
- Quốc tịch: Việt Nam
-Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 10/10
- Con ông: Vũ Văn Điềm (chết)
- Con bà: Bùi Thị Kẹo (chết)
- Vợ 1: Vũ Thị Khánh, sinh năm 1950 (đã ly dị). Có 2 con (lớn sinh năm 1971, nhỏ sinh năm 1981)
- Vợ 2: Nguyễn Thị Mười, sinh năm 1957
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1946 đến 1965: Sống cùng gia đình và đi học văn hóa hết lớp 10/10, cư ngụ tại:114 Nam Đồng, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội. Năm 1965-1968: Học Đại học sư phạm Hà Nội. Năm 1968–1971: Làm giáo viên cấp 2-3 trường phổ thông Ba Đình, thị xã Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Năm 1971-1984: Dạy bổ túc văn hóa tại nhà máy Cao su Sao Vàng, quận Đống Đa, Hà Nội. Từ năm 1984–1989: Nghỉ mất sức. Buôn bán hàng điện máy tại số 220 Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, Hà Nội. Từ năm 1990-1994: Vào TP HCM, tạm trú nhà 44 Ngô Đức Kế, quận 1, buôn bán hàng điện máy. Năm 1994–1996: Tạm trú 360 Trần Quang Diệu, quận 3. Buôn bán hàng điện máy. Năm 1996-1998: Cùng vợ bán phở. Tạm trú tại phường 16, quận Tân Bình. Năm 1998-2001: Tạm trú tại 421/31/2 Phạm Văn Hai, phường 3, quận Tân Bình.
Tiền án, tiền sự
- 3 tiền sự: Ngày 29/2/1976, bị Công an thành phố Hà Nội bắt về tội tổ chức đánh bạc, cảnh cáo tha. Ngày 14/6/1978, bị Công an quận Đống Đa bắt về tội đánh bạc, cảnh cáo tha. Ngày 1/8/1997, bị Công an quận Đống Đa bắt về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân. Ngày 20/11/1998, VKSND Đống Đa đình chỉ điều tra.
- 2 tiền án: Ngày 12/12/1986, Công an quận Hoàn Kiếm, Hà Nội bắt về tội đánh bạc, Tòa án quận Hoàn Kiếm xử 8 tháng treo. Ngày 31/1/1997, TAND tỉnh Đồng Nai xử 16 tháng tù về tội tổ chức đánh bạc.
c. Hành vi phạm tội của bị can
- Đầu năm 2000 Vũ Thế Khải được Nguyễn Anh Tuấn (thường gọi Tuấn Tăng) rủ đến đánh bạc tại sòng bạc số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Mấy ngày đầu tên Khải vừa đánh bạc vừa phụ việc cho sòng bạc, sau đó được tên Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Văn Nhã bố trí cho làm “giám sát” cho sòng cùng với Bùi Viết Hùng. Mỗi ngày sòng bạc trả công cho Khải 150.000 đồng, Khải tham gia được khoảng 2 tháng thì sòng bạc giải tán, Khải vừa “giám sát” vừa đánh bạc mỗi ván Khải đánh từ 50.000 đến 200.000 đồng. Khải không xác định được tiền thắng thua do đánh bạc, được trả tiền công giám sát là 9.000.000đ. (BL số 14,23-V4-tập 74)
- Khoảng tháng 1/2001, Nguyễn Văn Nhã mở sòng bạc tại số 351A Khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9. Khải được tên Bùi Viết Hùng (Tùng "Béo") đưa đến sòng bạc làm nhiệm vụ giám sát cho sòng bạc. Khải vừa làm nhiệm vụ giám sát vừa tham gia đánh bạc. Mỗi ván cược từ 50.000 đến 200.000 đồng. Sòng bạc hoạt động được 26 ngày thì giải tán. Khải không xác định được tiền thắng thua do đánh bạc, được trả tiền công giám sát là 3.900.000 đồng. (BL số 14,23-V4-tập 74)
- Tháng 7/2001 Tạ Đắc Lung và Triệu Tô Hà mở sòng bạc tại số 27/23 và 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6. Khải được Tạ Đắc Lung bố trí cho làm giám sát cho sòng bạc, Khải vừa làm giám sát vừa tham gia đánh bạc, mỗi ván đánh từ 50.000 đến 200.000 đồng, Khải tham gia khoảng 15 ngày. Khải không xác định được tiền thắng thua do đánh bạc, được Lung trả tiền công giám sát là 2.250.000 đồng. (BL số 840-V4-tập 8)
- Tháng 9/2001 sòng bạc mở tại 1102 Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình. Khải được Bùi Viết Hùng đưa đến sòng bạc và được Quốc cho làm nhiệm vụ giám sát và đánh bạc, mỗi ván đánh từ 50.000 đến 200.000 đồng. Sòng bạc hoạt động được 23 ngày thì ngày 29/9/2001sòng bạc chuyển về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13 quận 8 cho đến ngày 9/10/2001 Khải cùng sòng bạc bị bắt quả tang. Số tiền thu lợi bất chính của Khải tại sòng bạc này là 4.950.000 đồng.(BL số 840-V4-tập 8)
- Tiền thắng thua do đánh bạc tên Khải không xác định được. Tổng số tiền thu nhập bất chính do tham gia nhiệm vụ giám sát trong các sòng bạc là khoảng: 20.050.000 đồng.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Vũ Thế Khải đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng tạm giữ: 3.530.000 đồng, 1 phỉnh màu vàng.
45. Bị can Đào Thế Minh (Lực)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1952 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 318/122 Phạm Văn Hai, phường 5, Tân Bình, TP HCM
- Chỗ ở: 347 Nguyễn Thái Học, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 10/12
- Con ông: Đào Tiến Phát (chết)
- Con bà: Đào Thị Chắt (định cư Canada)
- Vợ: Vũ Thị Văn, đã ly dị, cư trú tại Canada.
- Có 3 con hiện sống với mẹ tại Canada.
b. Quá trình hoạt động
Năm 1952-1971: Đi học đến lớp 10/12, cùng gia đình ngụ tại 122/1 ấp Chợ Tân Bình - Sài Gòn. Năm 1971-1975: Đi lính biệt động quân Ngụy Sài Gòn, cấp bậc binh nhì. Sau giải phóng rã ngũ, về sống cùng gia đình. Tháng 5/1975–1976: Học tập cải tạo 3 ngày. Sống cùng gia đình. Năm 1976 -1994: Làm thợ hồ, ngụ tại 184/1 Đặng Văn Ngữ, phường 14, Phú Nhuận TP HCM. Năm 1994-200: Ngụ tại 318/22 Phạm Văn Hai, phường 5, quận Tân Bình. Từ năm 2001: Tạm trú tại số 374 Nguyễn Thái Học, Phường Cầu Ông Lãnh.
Tiền án, tiền sự
- 1 tiền sự: Ngày11/11/1982, bị Công an quận Tân Bình bắt về tội đánh bạc, cảnh cáo tha.
- 1 tiền án: Ngày 21/2/1989, TAND quận Tân Bình, TP HCM xử 6 tháng tù treo và 12 tháng thử thách về tội tổ chức đánh bạc.
- Tạm giam: 9/10/2001.
c. Hành vi phạm tội
- Tháng 10/1999, Đào Thế Minh được Lê Đình Bang rủ đến đánh bạc xóc đĩa ăn tiền tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Minh đánh bạc hơn 1 tháng bị thua hết 70 triệu đồng. Sau đó Đào Thế Minh được Ba Mạnh và Tuấn Tăng cho làm “hồ lỳ” (chung chi cho nhà cái) với tiền công mỗi ngày 150.000 đồng. Tên Minh đã tham gia làm hồ lỳ được 105 ngày, được chủ sòng trả tiền công 15.750.000 đồng.(BL số 975,976,979-V4-tập 10)
- Khoảng tháng 1/2001 được Bùi Viết Hùng báo tin sòng bạc mới mở tại 351A Khu phố 1, Phường Phước Long A, Quận 9, Minh đến sòng bạc được Nhã bố trí làm “hồ lỳ” cho sòng. Minh vừa làm nhiệm vụ hồ lỳ vừa tham gia đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 200.000đ đến 300.000đ. Sòng bạc hoạt động được khoảng 30 ngày thì giải tán. Tên Minh được chủ sòng trả công 4.500.000 đồng. (BL số 979-V4-tập 10)
- Tháng 7/2001 Tạ Đắc Lung cùng Triệu Tô Hà mở sòng bạc lần lượt tại nhà 46/12 Âu Cơ, quận Tân Bình, 27/23 Văn Thân và 27/6 Văn Thân phường 8, quận 6. Tên Minh đến tham gia làm “hồ lỳ” cho sòng bạc cùng với các tên Sên, Phát, Trịnh Chảy. Trong thời gian sòng bạc hoạt động, Minh vừa làm hồ lỳ vừa đánh bạc, mỗi ván đặt từ 200.000 đến 500.000 đồng. Sòng bạc hoạt động được khoảng 25 ngày thì giải tán. Tên Minh được chủ sòng trả công 3.750.000 đồng (BL số 975,976-V4-Tập 10)
- Đầu tháng 9/2001 được Tạ Đắc Lung báo tin Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã mở sòng bạc tại 1102 Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình, Minh đến sòng bạc làm nhiệm vụ chung chi tiền bạc cho nhà cái (hồ lỳ). Sòng bạc hoạt động được 23 ngày thì dời chuyển về phường 13, quận 8. Minh vừa làm nhiệm vụ hồ lỳ vừa tham gia đánh bạc mỗi ván đánh từ 200.000 đến 500.000 đồng. Tên Minh được chủ sòng trả công 3.450.000 đồng.
- Ngày 29/9/2001 sòng bạc chuyển đến nhà 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, tên Minh vẫn giữ vai trò tổ chức đánh bạc và đánh bạc như tại sòng bạc phường 4, Tân Bình. Minh được chủ sòng bạc trả công 1.350.000 đồng. (BL số 975,976-V4-tập 10)
- Ngày 9/10/2001 Minh bị bắt quả tang tại quận 8 bị tạm giữ 5.950.000 đồng. Về số tiền bị tạm giữ Minh khai số tiền của y là 700.000 đồng do đánh bạc mà có, còn lại là tiền của sòng bạc.
- Đào Thế Minh làm hồ lỳ trong các sòng bạc xóc đĩa đã thu lợi bất chính tổng số tiền là 28.800.000đ. Số tiền này Minh sử dụng đánh bạc do vậy không xác định quá trình đánh bạc Minh thắng thua là bao nhiêu.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Đào Thế Minh đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng tạm giữ
- 5.950.000 đồng
- 1 phỉnh
46. Bị can Vương Thanh (Sện)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1956 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 84C đường Hòa Bình, phường 5, quận 11, TP HCM
- Chỗ ở: 70A đường Hòa Bình, phường 5, quận 11, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Con ông: Lục Nga (Chết)
- Con bà: Vương Muối, sinh 1933
- Vợ: Huỳnh Thị Bội, sinh 1960
- Có 4 con: Lớn nhất 27 tuổi
b. Quá trình hoạt động
Năm 1956-1973: Ở với cha mẹ đi học văn hóa đến lớp 6/12, phụ giúp gia đình làm ruộng. Năm 1974-1975: bị bắt quân dịch 3 tháng, sau đó trốn lính. Năm 1976-1988: Tham gia quân quản tại khu vực Đầm Sen, làm công nhân bốc xếp ở công ty bột mì Bình Đông và đi học nghề đầu bếp nấu ăn. Năm 1989-2002: Làm đầu bếp tại trung tâm Trẻ lai, số 45 Hòa Bình, quận 11.
Tiền án
- Năm 1990: TAND Tân Bình xử phạt 6 tháng tù giam về tội gây rối trật tự công cộng.
- Năm 1999: Tòa án Tân Bình xử phạt 12 tháng tù giam về tội tổ chức đánh bạc (đá gà).
- Tạm giam: 20/6/2002.
c. Hành vi phạm tội
Tháng 7/2001 Vương Thanh (Sện) được Triệu Tô Hà (Tài Ngạn) thuê làm nhiệm vụ giám sát trong sòng bạc và giám sát việc ăn chia trong sòng bạc do Triệu Tô Hà và Tạ Đắc Lung tổ chức tại 46/12 Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình và 27/23 Văn Thân phường 8 quận 6. Mỗi ngày Vương Thanh được Triệu Tô Hà trả công từ 200.000 đến 300.000 đồng. Vương Thanh tham gia được 12 ngày và được Triệu Tô Hà trả công tổng cộng 8.000.000 đồng. (BL số 1661-V4-tập 21)
Ngoài ra Vương Thanh còn được Triệu Tô Hà nhờ đến sòng bạc nhận tiền của sòng bạc chi cho Triệu Tô Hà đi lo lót bảo vệ cho sòng bạc. Vương Thanh đã nhận hai lần tiền từ Nguyễn Thị Kim Hòa và Tạ Đắc Lung mỗi lần 4.500.000 đồng đem về giao lại cho Triệu Tô Hà. (BL số 1661-V4-tập 21)
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Vương Thanh đã phạm vào các điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
47. Bị can Trịnh Chảy (Bé Dỹ)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 12/11/1949 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 18A/1 Cô Giang, Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 2/12
- Con ông: Tất Đình Huy (chết)
- Con bà: Trịnh Thuận (chết)
- Có 3 em ruột (lớn nhất sinh năm 1951, nhỏ nhất sinh năm 1956)
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1963 – 1975: phụ giúp gia đình ngụ tại 41/18 Cô Giang, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1. Từ năm 1976-2002: Làm thuê và phụ gia đình ngụ tại 18A/1 Cô Giang, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 20/2/2002.
c. Hành vi phạm tội
- Tháng 10/1999, Trịnh Chảy được Mã Chung Phát giới thiệu vào làm việc cho sòng bạc xóc đĩa tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Trịnh Chảy được phân công cùng với Mã Chung Phát, Tăng Văn Sên, Đào Thế Minh làm “hồ lỳ” (chung chi tiền cho cái), mỗi ngày được chủ sòng bạc trả công 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Chảy tham gia được khoảng 50 ngày và được trả công khoảng 5.000.000 (năm triệu) đồng. (BL số 2936-V4-tập 53)
- Tháng 1/2001, Nguyễn Văn Nhã mở sòng bạc tại 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, Chảy tham gia làm “hồ lỳ” được 20 ngày, được trả tiền công 2.000.000 (hai triệu) đồng. (BL số 2936-V4-tập 53)
- Tháng 7/2001, sòng bạc mở tại 46/12 Âu Cơ, quận Tân Bình, 27/23 và 27/6 Văn Thân, quận 6, Trịnh Chảy được chủ sòng bạc là Tạ Đắc Lung và Triệu Tô Hà phân công làm “hồ lỳ” 20 ngày, được trả công 2.000.000 (hai triệu) đồng. (BL số 2937-V4-tập 53)
- Tháng 9/2001 Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Khánh Quốc mở sòng bạc tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình, Chảy làm “hồ lỳ” khoảng 22 ngày. Đến ngày 29/9/2001 sòng bạc chuyển về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Chảy tham gia làm “hồ lỳ” đến ngày 6/10/2001 do bị bệnh tim mạch nên Chảy nghỉ việc về nhà dưỡng bệnh.
Tổng cộng Trịnh Chảy tham gia tổ chức sòng bạc được khoảng 120 ngày, thu lời bất chính số tiền khoảng 12.000.000 (mười hai triệu) đồng. Số tiền thu lợi bất chính Chảy khai đã ăn xài hết.
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Trịnh Chảy đã phạm vào các điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
48. Bị can Trần Quốc Dân (Gia)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm 1966 tại Vĩnh Long
- Hộ khẩu thường trú: 35A, hương lộ 14, phường 18, quận Tân Bình
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Con ông: Trần Minh
- Con bà: Diệp Thị Mới
- Vợ: Đặng Thị Mỹ, 31 tuổi, ly dị năm 1998
- Có 2 con (lớn 10 tuổi, nhỏ 7 tuổi) sống với mẹ ở Mỹ.
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1966-1981: còn nhỏ sống với cha mẹ và đi học văn hóa đến lớp 9/12, ở nhà phụ giúp gia đình. Từ năm 1981-1989: Phụ gia đình kinh doanh vải sợi tại chợ Soái Kình Lâm, quận 5. Ngày 27/10/1987: Công an thành phố khởi tố bắt tạm giam về tội đầu cơ. Ngày 11/8/1989, được VKSND thành phố quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bị can. Năm 1990-1993: Buôn bán vải và học nghề thợ bạc. Năm 1994-2002: Làm cửa hàng trưởng kinh doanh vải thuộc Ban đời sống UBND quận 11. Thành lập Công ty TNHH Thiện Thanh chuyên kinh doanh vải, nhà đất.
- Tạm giam: 25/1/2002.
c. Hành vi phạm tội
Tháng 11/1999 Trần Quốc Dân đến đánh bạc xóc đĩa ăn tiền tại sòng bạc số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 do Trương Văn Cam tổ chức. Thời gian đánh bạc khoảng 3 tháng, Dân thua 400 triệu đồng. (BL số 1333,1359-V4-tập 18)
- Tháng 4/2000, Trần Quốc Dân đến đánh bạc xập xám ở sòng bạc của tên Nguyễn Văn Nghĩa (Nghĩa "Trà Đá"), bị thua bạc 250 triệu đồng. Nguyễn Văn Nghĩa đã bị Công an quận 1 khởi tố điều tra theo vụ án khác. (BL số 1349-V4-tập 18)
- Tháng 6/2000, Trần Quốc Dân được Trương Văn Cam rủ đến đánh xập xám tại 780 Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, quận 3. Khi đến sòng bạc Trần Quốc Dân được tên Vương Tử (tức Xây, Việt kiều Canada) đưa cho chiếc máy rung và hướng dẫn cách chơi xập xám gian lận. Thời gian đánh bạc 7 ngày, mỗi chến đánh từ 15 triệu đồng đến 45 triệu đồng. Kết quả Dân được Trương Văn Cam chia tiền thắng bạc là 37.500 USD (Đô la Mỹ) và 15 triệu đồng.(BL số 1351,1352,1358-V4-tập 18).
- Tháng 12/2000 Trần Quốc Dân được Triệu Tô Hà rủ đến đánh xập xám tại sòng bạc xập xám của Triệu Tô Hà và Nguyễn Thành Thảo ở số 835/1-2 Trần Hưng Đạo P1 Quận 5. Trần Quốc Dân được chủ sòng bạc bố trí máy rung hướng dẫn đánh bạc từ xa và chia tiền thắng bạc. Thời gian đánh bạc 5 ngày, đánh mỗi chến từ 15 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Dân được Nguyễn Thành Thảo chia tiền thắng nhiều lần, tổng cộng là 100.000.000đ (một trăm triệu). (BL số 1353,1355-V4-tập 18)
- Tháng 10/2001, Trần Quốc Dân được Trương Văn Cam rủ đến đánh bạc xập xám tại sòng bạc của Trương Văn Cam mở tại 122 Trần Hưng Đạo B, phường 7, quận 5. Dân đánh bạc được 2 ngày, ngày đầu thua 40 triệu đồng, ngày sau thắng 20 triệu đồng. (BL số 1364-V4-tập 18)
- Tổng số tiền thua tại các sòng bạc của Trần Quốc Dân là 440.000.000 (bốn trăm bốn mươi triệu) đồng.
Tổng số tiền thắng từ các sòng bạc là 37.500 USD (Ba mươi bảy nghìn năm trăm Đô la Mỹ) và 135.000.000 (một trăm ba mươi lăm triệu) đồng.
Ngoài ra Dân còn nợ Nguyễn Thành Thảo 600 triệu đồng gồm 300 triệu đồng Thảo đặt cọc mua đất, 300 triệu đồng nợ tiền đánh bạc, vay của Nguyễn Thị Kiệm 300 triệu đồng lãi suất 3%/tháng và 40 lượng vàng lãi suất 5% tháng, vay của Phạm Thị Lượng 40 lượng vàng lãi suất 5% tháng.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Trần Quốc Dân đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng đang tạm giữ của Trần Quốc Dân
- Tạm giữ số tiền 1,2 tỷ đồng do gia đình Dân giao nộp. Trong đó có 600.000.000 đồng Dân nợ của Nguyễn Thành Thảo và 600.000.000 đồng tiền thắng bạc.
- Kê biên tài sản của Dân trụ sở công ty số 17HK Dương Đình Nghệ, phường 8 quận 11; Khu nhà đất số 46 đường Âu Cơ, phường 9, Tân Bình.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:31 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 11 kẻ tổ chức sòng bài ở quận 8


Lương Cẩm Huy cùng Phạm Văn Lắm và 9 đối tượng khác đã tham gia hùn vốn tổ chức sòng xóc đĩa tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, TP HCM. Hằng tháng các đối tượng thu tiền xâu hàng trăm triệu đồng.
[b]Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can[/b]
[b]

[/b]
49. Bị can Lương Cẩm Huy (Huy "Râu", Huy "Ốm")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 13/5/1963 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 21 đường Ký Hòa, phường 11, quận 5, TP HCM
- Chỗ ở: 660 Trịnh Hoài Đức, Hiệp Phú, quận 9, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật giáo
- Văn hóa: 6/12
- Con ông: Lương Đoan (71 tuổi)
- Con bà: Hứa Vân (chết )
- Vợ: Nguyễn Thị Tuyết Hồng, sinh 1960, có 2 người con (lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh 1991)
- Vợ 2: Đỗ Thị Quyên, sinh năm 1973, có 1 người con (sinh năm 2000).
b. Quá trình hoạt động bản thân
Còn nhỏ ở với cha mẹ, học hết lớp 6 nghỉ, phụ giúp gia đình buôn bán. Ngày 1/10/2002 đến Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an tại TP HCM đầu thú về hành vi đánh bạc được tại ngoại. Ngày 10/3/2002 bị Công an TP HCM bắt quả tang về hành vi đánh bạc tại nhà hàng Lệ Uyển, quận 5, TP HCM.
c. Hành vi phạm tội
* Hành vi tổ chức đánh bạc
Ngày 8 và 9/10/2001 Huy cho Trương Văn Cam thuê phần gác trên của nhà 122 Trần Hưng Đạo B, quận 5 mở sòng bạc xập xám (nhà này Huy thuê nguyên căn cho vợ 2 là Đỗ Thị Quyên sử dụng tầng trệt mở tiệm uốn tóc). Sòng bạc hoạt động được 2 ngày thì sòng bạc xóc đĩa tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 bị bắt nên Trương Văn Cam cho sòng bạc giải tán. Tiền xâu thu được 30 triệu đồng, Trương Văn Cam chia cho Huy 15 triệu đồng. (BL số 2987, 2999-V4-tập 55 và 03-V4-tập 74)
* Hành vi đánh bạc
Tháng 6/2000 Lương Cẩm Huy được Trương Văn Cam rủ đến 780 Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, quận 3 tham gia đánh bạc xập xám. Huy tham gia đánh bạc khoảng 3 tiếng đồng hồ, thua hết 200 triệu đồng. Huy không có tiền trả nên nghỉ. (BL số 2982-V4-tập 55)
Lương Cẩm Huy quen biết Nhã "Lùn" ở TP HCM (không biết địa chỉ) từ năm 1999. Từ tháng 3 đến 12/2001, Huy thường đến quán cà phê 196 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5 để cá độ bóng đá với các đối tượng gồm Huỳnh Chí Đức, Nguyễn Chí Dũng và Nhã "Lùn" (không biết địa chỉ). Huy khai đã cá độ bóng đá với Nhã 3 trận, mỗi trận 2 triệu đồng. Cách thức chơi: Huy và Nhã gặp và bắt độ với nhau tại quán cà phê 196 Trần Bình Trọng, sau khi có kết quả trận đấu, chúng lại gặp nhau tại đây để thanh toán tiền cá độ. Huy thường cá độ những trận đấu tại các giải ngoại hạng Anh, vô địch quốc gia Italy, Cup C1 châu Âu, do lâu ngày Huy không nhớ cụ thể các trận cá độ và kết quả thắng thua như thế nào.
Ngoài ra, từ năm 1999 đến nay, Huy đã chơi cá độ bóng đá với Huỳnh Chí Đức 90 lần, với Nguyễn Chí Dũng 20 lần, mỗi lần 10-20 triệu đồng ở các giải ngoại hạng Anh, giải vô địch quốc gia Italy, giải vô địch Cup C1 châu Âu. Hình thức bắt độ: dùng điện thoại để liên lạc bắt độ với nhau và hẹn địa điểm để hôm sau gặp nhau thanh toán tiền cá độ (trong đó có nhiều lần hẹn nhau thanh toán tiền cá độ tại 196 Trần Bình Trọng). Do lâu ngày Huy không nhớ được cụ thể từng lần chơi, kết quả thắng thua thế nào. Huy chỉ nhớ đã phải vay Trương Hiền Bảo 20.000. USD tương đương 300 triệu đồng để chơi cá độ bóng đá đến nay vẫn chưa trả cho Trương Hiền Bảo. Ngày 7/1/2002, Lương Cẩm Huy đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra để đầu thú và nộp 20.000 USD nói trên và 200 triệu đồng (số tiền 200 triệu này Huy khai do chơi hụi với Bảo, Huy được lấy tiền đợt đầu mà chưa phải đóng tiền hụi lần nào nên Huy nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra).
Hành vi của bị can Lương Cẩm Huy đã phạm vào tội chức đánh bạc và gá bạc, tội danh được quy định tại điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Do tự thú và khai báo hành vi phạm tội của mình nên Lương Cẩm Huy được tại ngoại để điều tra. Nhưng trong thời gian tại ngoại, y tiếp tục cấu kết với một số tên khác đánh bạc tại nhà hàng Lệ Uyển, quận 5 và bị Công an TP HCM bắt vào ngày 10/3/2002. Hành vi đánh bạc tại đây sẽ được điều tra, kết luận và xử lý riêng.
Tài sản và tang vật thu giữ:
- 20.000 USD
- 200.000.000 đồng
- 44 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá
- 29 bộ bài tứ sắc
- 1 bộ xóc đĩa gồm chén, đĩa
- 56 đồng kim loại hình tròn
50. Bị can Phạm Văn Lắm (Lắm "Đen", Lắm "Què")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1950 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 148/12/20/4B Tôn Đản, phường 10, quận 4, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 2/12
- Con ông: Phạm Văn Huệ (chết)
- Con bà: Lê Thị Tám (chết)
- Vợ: Trần Thị Hải, sinh năm 1953.
- Có 4 con (lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1983)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1950-1967: Còn nhỏ sống với cha mẹ, đi học đến lớp 2. Năm 1968-1975: Đi lính ngụy. Năm 1975-1990: Công nhân bốc xếp tại cảng Khánh Hội, quận 4. Năm 1990-2001: Canh gác sòng bạc cho Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Thọ và Nguyễn Văn Lắn tại hẻm 148, phường 8 và phường 10, quận 4. Đến cuối tháng 1/2002 ra đầu thú.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 21/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Vào cuối năm 1999 đầu năm 2000, Phạm Văn Lắm đến sòng bạc tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 để đánh bạc xóc đĩa, Lắm được Nguyễn Văn Nhã cho góp vốn làm cái 10 (mười) phần mỗi phần 1.000.000 (một triệu) đồng. Sòng bạc hoạt động được khoảng 4-5 tháng, Lắm được Nhã chia cho tiền lời góp vốn khoảng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Tại sòng bạc này Lắm tham gia đánh bạc khoảng 5 lần, mỗi lần từ một đến hai ván, mỗi ván đặt tiền từ 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đến 300.000 đồng (ba trăm nghìn), có lúc ăn lúc thua nhưng Lắm không nhớ chính xác thắng được bao nhiêu tiền. (BL số 3646-V4-tập 71 và 14-V4-tập 74)
Đến đầu tháng 9/2001, sòng bạc mở tại số 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình, Nhã cho Lắm hùn cái (hùn khống bằng miệng) 10 triệu đồng. Đến cuối tháng 9/2001, sòng bạc chuyển về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Lắm vẫn giữ nguyên phần hùn khống để được chia lời. Tại 2 sòng này Lắm không đến sòng bạc đánh bạc. Phần tiền lời góp vốn được Nhã chia cho Lắm nhiều lần, tổng cộng khoảng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. (BL14-V4-tập 74)
Ngoài ra Lắm còn làm nhiệm vụ canh gác sòng bạc của Nguyễn Văn Lắn (Lũng "Đầu Bò") và Nguyễn Văn Thọ (Thọ "Đại Úy") tổ chức tại hẻm 148 Tôn Đản, quận 4 từ năm 1991 đến giữa năm 2001, được Lắn, Thọ trả tiền công mỗi ngày từ 100.000 (một trăm nghìn) đến 500.000 (năm trăm nghìn) đồng. Số tiền thu được tại sòng bạc này tổng cộng khoảng gần 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Sòng bạc do Nguyễn Văn Lắn, Nguyễn Văn Thọ tổ chức tại hẻm 148 Tôn Đản đã được Công an quận 4 khởi tố điều tra. (BL số 3648-V4-tập 71)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Phạm Văn Lắm đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Tài sản kê biên: Nhà số: 148/12/20/4B Tôn Đản, phường 10, quận 4; Nhà số: 148/12/30/13 Tôn Đản, phường 8, quận 4.
51. Bị can Nguyễn Hoàng Khương
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 20/8/1972 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 148/12/14/3 đường Tôn Đản, phường 10, quận 4, TP HCM.
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Trình độ văn hóa: 8/12
- Con ông: Nguyễn Văn Nhã (bị bắt chung vụ án)
- Con bà: Nguyễn Thị Hồng Liên, sinh năm 1951
b. Quá trình hoạt động
Năm 1972-1991: Còn nhỏ sống với cha mẹ, đi học tại quận 4. Năm 1991-1993: Làm dân quân tự vệ tại phường đội 10, quận 4. Năm 1993-1999: Phụ làm thợ bạc tại nhà. Năm 1999-2001: Tham gia tổ chức đánh bạc.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
Đầu tháng 10/1999 Nguyễn Hoàng Khương được cha là Nguyễn Văn Nhã (chủ sòng bạc, bị bắt cùng vụ án) đưa vào làm nhiệm vụ xóc đĩa trong các sòng bạc xóc đĩa mở tại các điểm sau:
- Số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 thời gian từ cuối năm 1999 đến đầu năm 2000, Khương làm 135 ngày.
- Số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, cuối năm 2000 đầu năm 2001 tham gia 27 ngày.
- Số 27/23 và 27/6 đường Văn Thân, phường 8, quận 6 tháng 7/2001 tham gia 10 ngày.
- Số 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình tháng 9/2001 tham gia 23 ngày và sòng quận 8, tháng 10/2001 tham gia 10 ngày. Mỗi ngày sòng bạc trả công 120.000 đồng.
Tổng cộng 205 ngày, Khương được trả công 24.600.000 đồng.
Từ khi sòng bạc mở tại quận Tân Bình và quận 8, Khương đều có phần hùn làm cái là 10.000.000 đồng và được chia tiền lời là 14.560.000 đồng.
Tổng số tiền thu nhập bất chính của Nguyễn Hoàng Khương tại sòng bạc khoảng: 39.160.000 đồng. (BL số 14,23-V4-tập 74)
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Nguyễn Hoàng Khương đã phạm vào các điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ tại sòng bạc
+ Tiền ngân hàng Việt Nam: 19.109.000 đồng
+ 707 USD
+ 1 điện thoại di động Nokia số 0504800
+ 15 phỉnh màu vàng
+ 1 máy kiểm tra tiền Money Tester - ST008
+ 1 vỏ lon sữa Lactogen loại 1 lít đựng tiền lẻ theo dõi ăn thua của nhà cái
+ 1 cuốn sổ 96 trang ghi việc ăn chia trong sòng bạc
+ 4 đồng vị dùng làm xóc đĩa
+ 4 lá bài buộc chéo hình chữ thập
52. Bị can Trần Văn Lợi (Lợi "Hói")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày 1/10/1947 tại Quảng Nam
- ĐKNKTT: A1/157 phường Tân Vạn, Biên Hòa, Đồng Nai
- Tạm trú: 22D Hùng Vương, phường 1, quận 10, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Trình độ văn hóa: 10/12
- Con ông: Trần Lương Thiện (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Bé, sinh 1926
- Vợ 1: Phạm Thị Út, sinh 1950
- Vợ 2: Phùng Mai Sinh, sinh 1954
- Có 9 con: Lớn nhất sinh 1974, nhỏ nhất sinh 1983
b. Quá trình hoạt động
Năm 1947-1964: Ở với cha mẹ đi học tại Tam Kỳ, Quảng Nam. Năm 1969-1970: Học nghề thợ máy tại Gia Ray, Xuân Lộc, Đồng Nai. Năm 1970-1975: Thợ máy sửa chữa xe ôtô tại Tân Vạn, Biên Hòa, Đồng Nai. Năm 1975-2000: Phụ lái xe tải, buôn bán đồng hồ tuyến đường Sài Gòn - miền Trung, sửa chữa máy xe ôtô. Năm 2000-2002: Bị tai nạn giao thông, mất sức ở nhà tại 22D Hùng Vương, phường 1, quận 10 không làm gì.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: không
- Tạm giam: 6/07/2002.
c. Hành vi phạm tội
Trần Văn Lợi (Lợi "Hói") khai nhận: Cuối tháng 11/1999, Lợi được Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) đưa vào sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 tham gia đánh bạc và góp vốn trong sòng bạc. Lợi được Ba Mạnh và Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà) cho hùn vốn 100.000.000 đồng, trong đó Ba Mạnh gửi 80.000.000 đồng còn phần của Lợi là 20.000.000 đồng. Tiền xâu hàng tuần Lợi được Ba Mạnh chia cho khoảng 6.000.000 đồng. Tiền lời góp vốn hàng ngày Lợi nhận từ Nguyễn Thị Kim Phượng giao lại cho Ba Mạnh và được Ba Mạnh chia lại cho 2 lần khoảng 13.500.000 đồng. Ngoài ra lợi còn thỉnh thoảng tham gia đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng. Tổng cộng thua khoảng 7.000.000 đồng. (BL số 3533-V4-tập 67)
Tháng 1/2001, Lợi góp vốn 70.000.000 đồng tại sòng bạc 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 và tham gia đánh bạc mỗi ván đặt cược từ 200.000 đến 500.000 đồng. Tiền lời do góp vốn được chia 6.700.000 đồng. (BL số 3533,3534-V4-tập 67)
Lời khai của Trần Văn Lợi về Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) nhờ Lợi đứng tên góp vốn 80.000.000 đồng và số tiền được chia nêu trên là không có cơ sở vì Lợi là người của Trương Văn Cam gửi vào sòng bạc Tô Văn Tốt, là một trong những tên chủ sòng bạc, không cần phải bỏ vốn và có quyền quyết định chia tiền xâu, tiền lời.
Căn cứ vào lời khai các bị can Nguyễn Thị Kim Phượng và Nguyễn Văn Nhã, có cơ sở kết luận tại sòng bạc quận 8 từ năm 1999 đến 2000, Trần Văn Lợi có hùn vốn 100 triệu đồng trong thời gian 3,5 tháng, được chia tiền lời là 140.000.000 đồng. Tiền xâu Lợi được chia một phần, mỗi phần bình quân 6.000.000 đồng/tuần và đã được chia khoảng 13 lần tổng cộng khoảng 80.000.000 đồng. (BL: 10-V4-tập 74)
Tháng 1/2001, Lợi tham gia đánh bạc và góp vốn 70 phần (70.000.000 đồng) trong sòng bạc 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, Lợi được chia một phần tiền xâu tổng cộng khoảng 19 triệu đồng. Tiền lời góp vốn được chia khoảng 27.000.000 đồng.
Tổng cộng tiền thu lợi bất chính trong sòng bạc Lợi được hưởng khoảng 266.000.000 đồng.(hai trăm sáu mươi sáu triệu đồng).
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Trần Văn Lợi đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
53. Bị can Lê Thanh Mão (Mão "Mèo")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 10/5/1955 tại Vĩnh Phúc
- ĐKNKTT: 8A Mai Khôi, phường 7, quận Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 10/10
- Con ông: Lê Văn Chuyển
- Con bà: Nguyễn Thị Hoàn
- Vợ: Vũ Thị Hưng, sinh 1968
- Có 3 con: Lớn nhất sinh 1991, nhỏ nhất sinh 1995
b. Quá trình hoạt động
Năm 1955-1973: Ở với cha mẹ đi học văn hóa tại Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Năm 1973- 1980: Làm ruộng tại Nhạc Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Năm 1980-1985: Đi bộ đội. Năm 1985-1987: Làm ruộng tại Nhạc Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Năm 1987-1993: Làm thợ may tại 35 ấp Nhân Dân, xã Long Thạnh Mỹ, huyện Thủ Đức, TP HCM. Năm 1993-2002: Làm thợ may tại 8A Mai Khôi, phường 7, Tân Bình, TP HCM.
c. Hành vi phạm tội
Tháng 9/2001, Lê Thanh Mão biết Nguyễn Khánh Quốc tổ chức sòng bạc tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình, Mão đến đánh bạc, mỗi ván đặt cược từ 500.000 đến 1.000.000 đồng. Khoảng 10 ngày đánh bạc, Mão thua khoảng 24.000.000 đồng. Sau đó Quốc cho Mão góp vốn trong sòng bạc 70.000.000 đồng. Từ khi góp vốn đến khi sòng bạc bị bắt, Mão được chia lời 26.000.000 đồng. (BL số 1122-V4-tập 14)
Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Thị Kim Phượng, kết luận Lê Thanh Mão được chia tiên lời góp vốn là 45.000.000 đồng. (BL số 24-V4-tập 74)
Bị can tại ngoại và đã nộp cho cơ quan điều tra 26.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Lê Thanh Mão đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
54. Bị can Kiều Văn Xường (Sườn)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1962 tại Hà tây
- ĐKNKTT: Văn Xá, Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây,
- Chỗ ở (tạm trú): 39/19 đường Gò Dầu, phường 16, Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Văn hóa: 7/10
- Con ông: Kiều Văn Súng (chết)
- Con bà Phạm Thị Thiếm
- Vợ: Phùng Thị Hợp (41 tuổi).
- Có 3 con (lớn sinh 1985, nhỏ sinh 1994)
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ đến năm 16 tuổi: Đi học. Năm 1980 đi bộ đội, 1983 xuất ngũ; 1984 -1988 làm ruộng tại Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây. Năm 1989 làm quản lý bãi đậu xe thuê tại nhà máy A43 và kho K8 quân đội đường Cộng Hòa, phường 13, quận Tân Bình đến 1999 chuyển sang thuê mặt bằng làm bãi đậu xe tại 39/19 đường Gò Dầu, phường 13, quận Tân Bình
- Tạm giam: 4/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Bị can Kiều Văn Xường khai: Vào khoảng tháng 9/2001 được bị can Quốc gọi điện thoại và rủ đến đánh bạc tại số 1102 Tự Lập, quận Tân Bình. Xường đến tham gia đánh bạc 5 ngày, mỗi ván đặt tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng, bị thua hết 20.000.000 đồng và tham gia hùn vốn 50 phần tương đương 50.000.000 đồng. Trong thời gian 5 ngày đánh bạc bị thua 42.000.000 đồng và được tên Quốc chia cho Xường 11.000.000 đồng tiền xâu. (BL số 1708,1709-V4-tập 23)
Xường không thừa nhận đánh bạc và hùn tiền tổ chức đánh bạc tại các sòng khác.
Mặc dù bị can Kiều Văn Xường chỉ khai nhận tham gia đánh bạc và tổ chức đánh bạc tại sòng bạc 1102 đường Tự Lập và sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn vào tháng 9 và 10/2001. Nhưng quá trình điều tra có đủ căn cứ kết luận:
- Tháng 10/1999 đến khoảng tháng 4/2000 Xường tham gia đánh bạc xóc đĩa tại sòng bạc 74/16 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 của Tô Văn Tốt và Nguyễn Văn Nhã tổ chức, mỗi ván đánh từ 1.000.000 đồng trở lên. Không có tài liệu, lời khai để xác định được số tiền thắng thua. (BL số 11,24-V4-tập 74)
- Khoảng tháng 1 năm 2001, Xường tham gia đánh bạc và hùn vốn 50 triệu đồng làm cái tại sòng bạc 351A khu phố 1 phường Phước Long A quận 9: Mỗi ván Xường đánh bạc đặt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng, có ván đặt 5.000.000 đồng, tham gia khoảng 26 ngày, được chia lời từ việc hùn vốn khoảng 25 triệu đồng.
- Tháng 7/2001 Xường tham gia đánh bạc và hùn vốn làm cái 50 triệu đồng tại sòng bạc tổ chức tại số 46/12 Âu Cơ, quận Tân Bình, 27/23 và 27/6 đường Văn Thân, quận 6, số tiền thắng thua do đánh bạc không xác định được.
- Tháng 9 và 10/2001 tham gia đánh bạc và hùn vốn làm cái tại sòng bạc số 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình và 74/16 Trần Nguyên Hãn. phường 13, quận 8 với số phần hùn là 70 phần = 70 triệu đồng. Tham gia đánh bạc mỗi ván đặt từ 5 triệu đến 10 triệu đồng. Được chia tiền lời phần hùn chỉ tính 2 ngày được ghi trong sổ sòng bạc ngày 5 và 6/10/2001 là 31.360.000 đồng. Nguyễn Thị Kim Phượng khai đã được Quốc đưa 4 lần tiền xâu để giao cho Xường là 39.200.000 đồng.
Như vậy Kiều Văn Xường được chia lời do hùn vốn và tiền xâu trong sòng bạc tổng cộng 95.600.000 đồng.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Kiều Văn Xường đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
55. Bị can Phạm Ngọc Kim
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 28/5/1958 tại Hà Nội
- ĐKNKTT: 33 Lê Anh Xuân, Bến Thành, quận 1, TP HCM.
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Văn hóa: 10/10
- Con ông Phạm Văn Lộc
- Con bà Giang Thị Tô (chết 1967)
- Chồng: Lê Kim Long (chết )
- Có 2 con (lớn sinh 1982, nhỏ sinh 1983)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1958 -1975: ở với cha mẹ và đi học tại Gia Lâm, Hà Nội. Năm 1976-1978: Học trung học dạy nghề thuộc sở giáo dục Hà Nội. Năm 1978-1986: giáo viên dạy nghề trường cấp 3 Cao Bá Quát và Việt Đức - Hà Nội. Năm 1986-2001: buôn bán tại quận 1, TP HCM.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
c. Hành vi phạm tội
Tháng 11/1999 đến tháng 4/2000 tham gia đánh bạc xóc đĩa tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 được 13 lần. Mỗi lần đặt cược từ 500 nghìn đến 3.000.000 đồng. Tổng cộng thua 60 triệu đồng. (BL số 2465 -V4 - tập 36)
- Tháng 1/2001 tham gia đánh bạc tại 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, 4 lần mỗi ván đặt cược từ 2 đến 3 triệu đồng, góp vốn làm cái trong sòng bạc 70 phần = 70 triệu đồng. Được sòng bạc chia tiền lời làm cái và sử dụng số tiền được chia đánh bạc. Tổng cộng thua 20 triệu đồng. (BL số 2465, 2467 - V4 - tập 36).
- Tháng 7/2001 tham gia đánh bạc tại sòng bạc 27/6 Văn Thân, quận 6, 3 lần. Mỗi ván đánh từ 2 đến 3 triệu đồng. Tổng cộng thua khoảng 15 triệu đồng. Tham gia góp vốn 50 phần tương đương 50 triệu đồng. Tiền lời được chia không nhớ cụ thể. (BL số 2467 - V4 - tập 36)
- Tháng 9/2001 tham gia đánh bạc tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình khoảng 3 lần. Mỗi ván đánh từ 2 đến 5 triệu đồng và góp vốn làm cái trong sòng bạc 100 phần = 100 triệu đồng. Sau đó sòng bạc dời về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, tham gia đánh bạc 2 ngày và giữ nguyên số vốn góp làm cái 100 phần. Tổng cộng số tiền thua trong tháng 9 và 10/2001 khoảng 25 triệu đồng. Tiền lời góp vốn trong sòng bạc thị Kim đã sử dụng vào việc đánh bạc nên không nhớ cụ thể là bao nhiêu. (BL số 2467 - V4 - tập 36)
Khoảng tháng 12/2000, Kim còn tham gia đánh bạc xập xám 2 lần tại 835/1-2 Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5, bị thua 60 triệu đồng.
Phạm Ngọc Kim khai việc tham gia đánh bạc bị thua khoảng 180 triệu đồng. Trong đó thua trong sòng xóc đĩa khoảng 120 triệu đồng, sòng xập xám 60 triệu đồng. Được chia lời từ tiền góp vốn làm cái trong sòng xóc đĩa tổng cộng khoảng 80 triệu đồng. (BL số 2468 - V4 - tập 36)
Sau khi bị bắt, Kim nhận thức được hành vi sai phạm của mình và khai báo thành khẩn, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra mở rộng vụ án.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Phạm Ngọc Kim đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ: 6.475.000 đồng, 1.302USD, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 vòng đeo tay bằng đá màu xanh.
Tài sản kê biên: Nhà số 33-35 Lê Anh Xuân, Bến Thành, quận 1.
56. Bị can Đào Quang Cường (Cường "Hải Phòng", Cường "Nghiện", Cường "Hiện")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1963 tại Hải Phòng
- ĐKHKTT: 181 Ngô Quyền, Vạn Mỹ, Ngô Quyền, Hải Phòng
- Chỗ ở: Từ 1998 đến 2001, không nơi ở nhất định
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Con ông: Đào Quang Hiện (sinh 1924) Con bà: Trần Thị Nhuật (sinh 1934)
- Vợ: Lưu Bích Hiền, sinh 1970.
- Có 2 con (lớn sinh 1984, nhỏ sinh 1989).
b. Quá trình hoạt động
Năm 1963-1979: Ở với cha mẹ và đi học tại Hải Phòng. Ngày 23/12/1979 bị Công an quận Ngô Quyền, Hải Phòng bắt giữ 6 ngày về hành vi trộm cắp. Ngày 15/4/1980 bị Công an quận Ngô Quyền, Hải Phòng bắt, bị tòa án xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp theo bản án số: 141/HSST ngày 28/8/1980. Ngày 25/2/1982 bị Công an quận Ngô Quyền - Hải Phòng bắt về hành vi cưỡng đoạt tài sản. Năm 1982-1996: Ở với cha mẹ, buôn bán tại Hải Phòng. Năm 1996-1997: Buôn lậu hàng điện tử bị Công an Hải Phòng bắt giữ hàng, Cường bỏ trốn. Năm 1997 Cường ra đầu thú, tạm đình chỉ điều tra. Ngày 31/10/1998 bị Công an Hà Nội bắt, xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Năm 1998-2001: Vào TP HCM tham gia tổ chức đánh bạc.
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
Bị can Đào Quang Cường bị bắt quả tang trong sòng bạc, nhưng trong quá trình điều tra ngoan cố không khai nhận hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Căn cứ vào chứng cứ thu thập được (cuốn sổ ghi ăn chia tiền bạc thu tại sòng bạc) và lời khai của các bị can, có đủ căn cứ kết luận:
- Tại sòng bạc số 351A Khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9: Đào Quang Cường thường xuyên cùng đi với Nguyễn Khánh Quốc đến đánh bạc trong thời gian khoảng 20 ngày, mỗi ván đặt cược từ 500.000 đến 3.000.000 đồng; góp vốn trong sòng bạc cùng với Nguyễn Khánh Quốc 25 triệu, được chia lời 10 triệu đồng. (BL số 11, 25 - V4 - tập 74)
- Tại sòng bạc 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình, sau đó dời về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Sòng bạc này do Nguyễn Khánh Quốc cùng Nguyễn Văn Nhã tổ chức, Cường góp vốn làm cái, số tiền ban đầu là 120 triệu đồng, sau đó tăng lên 190 triệu; và tham gia đánh bạc mỗi ván đặt tiền từ 500.000 đến 3.000.000 đồng, tham gia từ khi sòng bạc hoạt động cho đến khi bị bắt khoảng 30 ngày. (BL số 11, 25 - V4 - tập 74)
Căn cứ lời khai của Nguyễn Thị Kim Phượng: Phượng hùn vốn 10 triệu đồng ở sòng bạc 1102 Tự Lập, Tân Bình được chia lời 9 triệu và tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, quận 8 (tháng 10/2001) được chia lời 5.560.000 đồng. Như vậy Đào Quang Cường hùn vốn ban đầu tại 1102 Tự Lập lúc đầu 140 triệu, sau tăng lên 190 triệu đồng. Bình quân phần hùn của Cường là 150 triệu x 9 triệu đồng/phần là 135 triệu; tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, Cường được chia tiền lời là 190 triệu, tương đương 190 phần x 5.560.000 đồng/phần là 105.640.000 đồng. (BL: V4 T74: 19-28)
Tổng cộng Cường được chia tiền lời do đóng góp vốn trong sòng bạc là 250.640.000 đồng.
Tài sản của Đào Quang Cường bị tạm giữ tại sòng bạc (nhằm đảm bảo thi hành án) gồm: 1 dây chuyền vàng 18K/70% nặng 2,083 lượng có mặt dây chuyền bằng đá màu xanh nặng 0,596 lượng. Một lắc vàng nặng 1,963 lượng vàng 18K70%, một nhẫn kim loại màu trắng gắn hột đá có trọng lượng 2,47 chỉ, một đồng hồ đeo tay hiệu Rolex, 100.000 đồng; 1.500 USD và một điện thoại di động hiệu Nokia.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Đào Quang Cường đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
57. Bị can Trương Văn Lang (Chín "Đờn Cò")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1956 tại Long An
- ĐKNKTT: 12 Nguyễn Công Trứ, phường 19, Bình Thạnh, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 8/12
- Con ông: Trương Văn Táng (chết)
- Con bà Phạm Thị Bưng
- Vợ: Nguyễn Thị Tuyết Anh, sinh năm 1964
- Có 4 con (lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1985)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1956-1971: Còn nhỏ, đi học đến lớp 8/12 tại Long An. Năm 1971-1996: Làm nghề điện lạnh, lái xe tại TP HCM. Năm 1997-2001: Cổ đông công ty TNHH Vận tải biển Tài chính.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 2
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
Đầu tháng 9/2001 Trương Văn Lang cùng Nguyễn Văn Dương (tự Dượng) đến sòng bạc xóc đĩa ăn tiền tại số 1102 Tự Lập, phường 4, Tân Bình để cùng đồng bọn tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Lang trực tiếp góp tiền hùn cái 20 phần (mỗi phần 1.000.000 đồng) cho Nguyễn Thị Kim Phượng (người theo dõi sổ sách) và hùn bằng miệng chung với Nguyễn Văn Dương 20 phần để được nhà cái chia tiền lời, sòng bạc hoạt động được 23 ngày. Tại đây bị can Lang hùn tiền cùng Dương đánh bạc 2 lần, Lang 1 phần còn Dương 9 phần nhưng chỉ hùn miệng và giao cho Dương trực tiếp đánh bạc. Một lần thua 10.000.000đ, Lang phải bỏ ra 1.000.000 đồng. Một lần thắng bạc 8.000.000 đồng, Lang được chia 800.000 đồng. Đến cuối tháng 9/2001 sòng bạc chuyển về số: 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Lang vẫn giữ nguyên phần hùn cái và cùng Dương đến sòng bạc để đánh bạc thì bị bắt quả tang. (BL số 3718, 3719 - V4 - tập 72)
Phần tiền lời của 40 phần hùn của Trương Văn Lang tại sòng bạc ở quận Tân Bình và quận 8 được chia tổng cộng 50.000.000 đồng.
Ngoài ra vào cuối tháng 9/2001 Trương Văn Lang vay của Phạm Thị Lượng số tiền 100.000.000 đồng quy thành 20 cây vàng 9999, lãi suất 3%/tháng. Hiện tại vợ của bị can Trương Văn Lang (Nguyễn Thị Tuyết Anh) đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra số tiền 100.000.000 đồng mà Trương Văn Lang vay của Phạm Thị Lượng. (BL số 3714 - V4 - tập 72)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Trương Văn Lang đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ của Lang khi bắt giữ gồm:
- 1.049.000 (một triệu không trăm bốn mươi chín ngàn đồng) tiền Việt Nam
- 1 ĐTDĐ hiệu NOKIA - 8210
-1 đồng hồ đeo tay hiệu Longient
- 100.000.000 đồng (một trăm triệu) vay của Phạm Thị Lượng do vợ Lang đem nộp
Tài sản kê biên: Nhà số 12 Nguyễn Công Trứ, phường 19, Bình Thạnh.
58. Bị can Tăng Văn Sên
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1934 tại Kiên Giang
- ĐKNKTT: Ấp Phước Rung, Vĩnh Phước, Gò Quao, Kiên Giang
- Chỗ ở (tạm trú): Ấp 2, Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 2/12
- Con ông: Tăng Văn Chương (chết)
- Con bà: Phan Thị Dậu (chết)
- Vợ 1: Huỳnh Thị Hai (chết) có 5 con (lớn sinh 1957, nhỏ sinh 1968)
- Vợ 2: Đỗ Thị Phương, sinh 1947. Có 2 con (lớn sinh 1979, nhỏ sinh 1983)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1934-1984: ở với cha mẹ tại Kiên Giang làm ruộng. Năm 1984 bị Công an TP HCM bắt về tội đánh bạc, sau đó được trả tự do không truy cứu trách nhiệm hình sự. Năm 1996 sống với người vợ sau tạm trú tại ấp 2, Hiệp Bình Phước, Thủ Đức. Năm 1999-2001 tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 1
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 10/1999 đến tháng 10/2001 Tăng Văn Sên tham gia đánh bạc và tổ chức đánh bạc với vai trò làm “hồ lỳ” (chung chi tiền bạc cho sòng bạc), tại các sòng bạc sau:
- Sòng bạc tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 (cuối năm 1999 đầu năm 2000) mỗi ngày Sên được trả công 100.000 đồng (một trăm nghìn). Tăng Văn Sên tham gia được 15 ngày thì ngưng và được trả công tổng cộng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn).
- Sòng bạc do Lý Đôi và Triệu Tô Hà tổ chức tại quận 6 vào tháng 7/2001 Tăng Văn Sên tham gia được 10 ngày và được trả công 1.000.000 đồng (một triệu).
- Sòng bạc tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình vào tháng 9/2001 Tăng Văn Sên tham gia được 13 ngày và được trả công 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn).
- Sòng bạc tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 vào tháng 10/2001, Tăng Văn Sên tham gia được 10 ngày và được trả công 1.000.000 đồng (một triệu) thì y cùng sòng bạc bị bắt.
Tổng cộng Tăng Văn Sên đã thu lợi bất chính từ hành vi tham gia tổ chức đánh bạc tại 3 sòng trên là 4.800.000 (bốn triệu tám trăm ngàn) đồng. Bị can khai đã tiêu xài hết còn lại 104.000 (một trăm lẽ bốn ngàn) đồng hiện đang bị tạm giữ. (BL số 2057, 2058 - V4 - tập 28)
Ngoài ra Tăng Văn Sên còn trực tiếp đánh bạc trong các sòng bạc xóc đĩa mỗi ván đặt từ 100.000 (một trăm ngàn) đồng đến 150.000 (một trăm năm mươi ngàn) đồng, bị thua khoảng 13.000.000 (mười ba triệu) đồng. Do thua bạc thiếu tiền nên Sên đã vay của Phạm Thị Lượng 3.000.000 (ba triệu) đồng để đánh bạc với lãi suất 20%/tháng. (BL số 2057 - V4 tập 28)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Tăng Văn Sên đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ 104.000 (một trăm lẻ bốn ngàn) đồng.
59. Bị can Nguyễn Văn Nghĩa
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1958 tại Sài Gòn
- ĐKNKTT: 57/3 Bùi Thị Xuân, phường 5, quận Tân Bình, TP HCM
- Chỗ ở: 291/9 Cách Mạng Tháng 8, phường 7, quận Tân Bình, TP HCM
- Văn hóa: 10/12
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Thiên Chúa
- Con ông Nguyễn Văn Tôi (chết)
- Con bà Lê Thị Thứ (chết)
- Vợ: Trần Thị Xuân Mai, sinh 1964
- Có 2 con (lớn sinh 1984, nhỏ sinh 1993)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1958-1976: Ở với cha mẹ, đi học. Năm 1976-1977: Đi thanh niên xung phong. Năm 1977-2000: Sửa xe gắn máy. Tháng 6/2000 đến 2001: Bán cà phê tại 1102 Tự Lập, phường 4, Tân Bình.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 9/12/2001
c. Hành vi phạm tội
Căn nhà 1102 Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình do vợ chồng Nguyễn Văn Nghĩa và Trần Thị Xuân Mai đứng tên chủ quyền và kinh doanh quán cà phê truyền hình cáp cho khách xem trực tiếp bóng đá quốc tế. Đầu tháng 9/2001 Bùi Viết Hùng (bị bắt chung vụ), giới thiệu Nguyễn Khánh Quốc(cũng bị bắt chung vụ) thuê nhà của Nghĩa để tổ chức đánh bạc, Quốc, Hùng và Nghĩa thỏa thuận giá thuê nhà mỗi ngày là 4.500.000 đồng, trong đó tiền thuê nhà 2.000.000 đồng và 2.500.000 đồng để Nghĩa lo việc bảo đảm an toàn cho sòng bạc. (BL số 3382, 3383 - V4 - tập 64)
Tên Nghĩa khai nhận: Sau khi nhận 4.500.000 đồng mỗi ngày của sòng bạc do tên Quốc và tên Hùng giao (gồm 2.000.000 đồng tiền cho thuê nhà và 2.500.000 đồng tiền hối lộ địa phương), y không dùng tiền của sòng bạc lo hối lộ mà dùng số tiền đó mua thuốc chữa bệnh cho mẹ vợ. Ngày 28/9/2001 Nghĩa sợ bị bắt nên không cho Quốc tiếp tục thuê nhà. Ngày 29/9/2001 sòng bạc chuyển về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 hoạt động tiếp. Nghĩa đã giao nộp số tiền thu lợi bất chính gồm tiền cho sòng bạc thuê nhà và tiền để đưa hối lộ của 23 ngày là 103.500.000 đồng. (BL số 3382 - V4 - tập 64)
Hành vi gá bạc của bị can Nguyễn Văn Nghĩa đã phạm vào các điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Tài sản kê biên: Nhà số 291/9 Cách Mạng Tháng Tám, phường 7, Tân Bình và nhà số 1102 Tự Lập, phường 4 Tân Bình.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:32 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 12 đối tượng tổ chức đánh bạc


Nguyễn Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Giang (Mợ Giang) tham đổi phỉnh, ghi chép sổ sách thu chi và góp vốn làm cái tại các sòng bài ở quận 6, 9 và Tân Bình. Nguyễn Văn Hơn (Út Mỡ) làm nhiệm vụ giám sát, phục vụ sòng 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 với tiền công 130.000 đồng/ngày.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
60. Bị can Nguyễn Thị Kim Phượng
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 17/11/1967 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 69/23 Nguyễn Công Trứ, phường 19, quận Bình Thạnh, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 7/12
- Con ông: Nguyễn Thành Long
- Con bà: Tạ Thị Bút (chết)
- Chồng: Nguyễn Tấn Bửu, sinh năm: 1963
- Có 1 con, sinh năm: 1993
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1967-1981: Sống với gia đình và đi học đến lớp 7/12. Năm 1981-2001: Buôn bán, cư ngụ tại 69/23 Nguyễn Công Trứ, phường 19, quận Bình Thạnh.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam từ ngày 9/10/2001 đến ngày 14/1/2001
c. Hành vi phạm tội
- Tháng 11/1999 Nguyễn Thị Kim Phượng được Nguyễn Văn Nhã đưa vào sòng bạc tại số nhà 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 làm nhiệm vụ lên xuống tiền và đổi phỉnh cùng với Nguyễn Thị Kim Hòa. Ngoài ra Phượng còn được giao nhiệm vụ ghi sổ theo dõi phần hùn thu chi hàng ngày cho sòng bạc. Mỗi ngày được sòng bạc trả công 120.000 đồng. Phượng tham gia được 135 ngày thì sòng bạc giải tán. Phượng được sòng bạc trả công là 16.200.000 đồng.
- Tháng 1/2001 sòng bạc mở tại số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 do Nguyễn Văn Nhã làm chủ sòng, Phượng được Nhã giao nhiệm vụ lên xuống tiền cho cái, đổi phỉnh và ghi chép thu chi cho sòng bạc. Phượng tham gia 26 ngày được tại sòng bạc trả công 3.120.000 đồng.
- Tháng 7/2001, Triệu Tô Hà và Tạ Đắc Lung mở sòng bạc tại số 27/23 và 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6, Thị Phượng được Thị Hòa (vợ tên Lung) rủ đến tham gia làm nhiệm vụ lên xuống tiền và đổi phỉnh, ghi chép sổ sách theo dõi phần hùn, thu chi cho sòng bạc. Phượng tham gia được 20 ngày được trả công là 2.400.000đ.
- Tháng 9/2001 sòng bạc mở tại nhà 1102 Tự Lập, Phường 4, Quận Tân Bình, Thị Phượng tham gia lên xuống tiền, đổi phỉnh, ghi chép sổ sách thu chi sòng bạc và góp vốn làm cái 10 triệu đồng. Sòng bạc hoạt động được 23 ngày, Thị Phượng thu lợi bất chính gồm: 9.000.000đ tiền lời góp vốn làm cái và 2.760.000đ tiền công.
- Ngày 29/9/2001 sòng bạc mở tại nhà 74/18 Trần Nguyên Hãn Phường 13 Quận 8, Thị Phượng vẫn còn làm nhiệm vụ lên xuống tiền cho cái và đổi phỉnh, ghi sổ sách theo dõi phần hùn, thu chi cho sòng bạc và hùn vốn 10 triệu đồng. Phượng được sòng bạc chia tiền lời và tiền công là 5.560.000 đồng.
Sòng bạc hoạt động đến ngày 09/10/2001 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Khi bị bắt Phượng khai báo thành khẩn. Tổng cộng số tiền thu lợi bất chính của Thị Phượng tại các sòng bạc là 39.040.000 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng) (BL số 18 - V4 - tập 74). Khi bị bắt, Nguyễn Thị Kim Phượng khai báo thành khẩn.
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Nguyễn Thị Kim Phượng đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
61. Bị can Nguyễn Văn Hơn (Út Mỡ)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 28/09/1957 tại TP HCM
- ĐKNKTT: D8 khu Tái Thiết, đường 38, phường 4, quận 4, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 5/12
- Con ông: Nguyễn Văn Năm (chết)
- Con bà: Trần Thị Bé, sinh 1928
- Vợ 1: Phạm Thị Lan, sinh 1957, có 2 con, lớn nhất sinh 1976, nhỏ nhất sinh 1978
- Vợ 2: Nguyễn Thị Huệ, sinh 1957, có 2 con, lớn nhất sinh 1981, nhỏ nhất sinh 1982
- Vợ 3: Nguyễn Thị Dung, sinh 1960, có 1 con
- Vợ 4: Châu Thị Mai, sinh 1965, có 4 con, lớn nhất sinh 1986, nhỏ nhất sinh 1996
b. Quá trình hoạt động

Năm 1957-1970: Ở với cha mẹ và đi học văn hóa ở quận 4. Năm 1970-1972: Học sửa xe gắn máy tại quận 4. Năm 1972-1975: Sửa xe gắn máy và học đờn ca tài tử tại quận 4. Năm 1975-1977: Thành viên ban nhạc Nhà văn hóa quận 4. Năm 1977-1979: Thành viên Ban Văn nghệ, Công ty Xây lắp - Bộ Nội thương. Năm 1979-1989: Phụ bán quần áo tại chợ Dân Sinh, quận 1. Năm 1989-2002: Lái xe du lịch thuê và đàn ca tại các tụ điểm ca nhạc.
c. Hành vi phạm tội
Tháng 11/1999, Nguyễn Văn Hơn (tự Út Mỡ) được Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) đưa vào sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 làm nhiệm vụ giám sát, phục vụ dọn dẹp trong sòng bạc. Mỗi ngày Ba Mạnh giao cho Nguyễn Văn Nhã trả công cho Nguyễn Văn Hơn 130.000 đồng. Hơn tham gia khoảng hai tháng rưỡi và được trả công khoảng 11.250.000 đồng. Ngoài ra thỉnh thoảng Nguyễn Văn Hơn tham gia đánh bạc mỗi ván đặt cược 100.000 đến 200.000 đồng. Tổng cộng thua khoảng 15.000.000 đồng. (BL số 2902 - V4 - tập 51)
Bị can Nguyễn Văn Hơn tại ngoại và đã nộp cho cơ quan điều tra 11.250.000 đồng số tiền thu lời bất chính do tham gia tổ chức sòng bạc.
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Nguyễn Văn Hơn đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
62. Bị can Nguyễn Thị Giang (Mợ Giang, Châu)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1930 tại Nam Định
- ĐKNKTT: 202 phố Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 5/10
- Con ông: Nguyễn Duy Ninh (chết)
- Con bà: Trần Thị Thuận, 90 tuổi
- Chồng: Nguyễn Duy Châu, chết 1994
- Có 3 con: Lớn nhất 48 tuổi, nhỏ nhất 40 tuổi
b. Quá trình hoạt động
Năm 1948-1954: Ở với cha mẹ tại Nam Định. Năm 1954-1985: Nhân viên Công ty Ăn uống Hà Nội, ngụ tại 202 phố Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Năm 1985-2002: Nghỉ hưu, ở tại 202 phố Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
- Tạm giam: 8/7/2002.
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 11/1999, Nguyễn Thị Giang từ Hà Nội vào TP HCM tham gia hùn vốn làm cái tại các sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, số 351A Khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, số 27/23 và 27/6 Văn Thân phường 8 quận 6, số 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình và 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Mỗi sòng bạc, Giang hùn 10 phần: 10.000.000 đồng và tham gia đánh bạc ở các sòng bạc nêu trên, mỗi ván đặt cược từ 50.000 đến 500.000 đồng. (BL số 3295, 3296 - V4 - tập 61)
Giang khai nhận quá trình đánh bạc bị thua khoảng 4.400.000 đồng. Riêng tiền lời được chia do góp vốn 10.000.000 đồng trong sòng bạc Giang không nhớ được chia bao nhiêu. Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Văn Nhã thì cứ 10 phần hùn tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 năm 1999-2000, trong bốn tháng rưỡi thì mỗi tháng bình quân được chia 20.000.000 đồng. Sòng bạc tại quận 9 là khoảng 5.000.000 đồng, sòng bạc tại quận 6 huề vốn và tại sòng bạc 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình chuyển về số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 khoảng 13.000.000 đồng. Như vậy Giang hùn vốn 10.000.000 đồng trong các sòng bạc được chia lời khoảng 38.000.000 đồng. (BL số 3287 - V4 - tập 61 và số 25 - V4 - tập 74)
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Nguyễn Thị Giang đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
63. Bị can Trương Thoại (Thoại Kỳ)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1943 tại Chợ Lớn
- ĐKNKTT: 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Con ông: Trần Liên (chết)
- Con bà: Trương Thoại Chi (chết)
- Vợ: Huỳnh Muối, sinh 1944.
- Có 4 con (lớn nhất 35 tuổi, nhỏ nhất 19 tuổi)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1943-1968: Ở với cha mẹ đi học đến lớp 6/12, phụ giúp gia đình. Năm 1968 đi lính Bộ binh ngụy được 6 tháng đào ngũ về nhà cùng gia đình cư ngụ tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 và hành nghề ướp trà bán cho đến năm 1981. Tháng 6/1981 bị Công an quận 8 bắt về hành vi đánh bạc cảnh cáo tha. Năm 1981-2001: Làm nghề ướp trà và cho thuê nhà mở sòng bạc.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Tháng 6/1981 bị Công an quận 8 bắt về hành vi đánh bạc, cảnh cáo tha
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
- Từ đầu tháng 10/1999 đến đầu tháng 1/2000 Trương Thoại cho Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà) cùng Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) thuê nhà của Thoại để mở sòng bạc với giá 400.000 đồng/ngày (bốn trăm nghìn). Ngoài việc cho thuê nhà mở sòng bạc Trương Thoại còn giúp Nguyễn Văn Nhã, Ba Mạnh đem tiền phân phát cho 8 (tám) hộ dân tại hẻm 74 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 mỗi hộ 20.000 đồng/ngày (hai chục ngàn) để các hộ dân không tố giác hành vi phạm tội của y và đồng bọn. Sòng bạc hoạt động được hơn hai tháng tạm ngưng. Số tiền Trương Thoại thu lợi bất chính từ việc cho thuê nhà khoảng 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng. (BL số 2800 - V4 - tập 46)
- Cuối tháng 2/2000 Trương Thoại lại tiếp tục cho Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà), Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) thuê nhà để mở sòng bạc với giá 400.000 đồng/ngày (bốn trăm ngàn). Lần này Trương Thoại cũng nhận tiền từ sòng bạc đem phân phát cho 8 (tám) hộ dân trong hẻm, mỗi hộ 20.000 đồng/ngày (hai chục nghìn). Tháng 4/2000 sòng bạc ngưng, Trương Thoại đã thu lợi bất chính khoảng 24.000.000. (hai mươi bốn triệu) đồng. BL số 2800 - V4 - tập 46)
- Từ ngày 29/9/2001 đến 9/10/2001 Trương Thoại lại tiếp tục cho Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc thuê nhà 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 để mở sòng bạc với giá 500.000 đồng/ngày (năm trăm nghìn), đồng thời nhận tiền từ sòng bạc đem phân phát cho 8 (tám) hộ dân tại hẻm 74 Trần Nguyên Hãn phường 13 quận 8 mỗi hộ 20.000 đồng/ngày (hai chục nghìn) cũng nhằm mục đích để họ không tố giác hành vi phạm tội của y và đồng bọn. Số tiền Trương Thoại thu lợi bất chính trong 10 ngày cho thuê nhà là 5.000.000 (năm triệu) đồng. (BL số 2800 - V4 - tập 46)
Tổng cộng 3 lần cho thuê nhà mở sòng bạc Trương Thoại được bọn tổ chức sòng bạc trả tiền thuê nhà là 61.000.000 đồng (sáu mươi mốt triệu).
Khi bắt giữ sòng bạc, cơ quan điều tra thu giữ tại nhà Thoại một máy phát điện và 13.000.000 (mười ba triệu) đồng. Trương Thoại khai máy phát điện là của y mua vào năm 1990, và sử dụng phát sáng cho sòng bạc chơi bạc chơi bạc khi mất điện, còn 13.000.000 đồng cũng là tiền do y cho thuê nhà mở sòng bạc mà có, còn lại những đồ vật phục vụ cho việc tổ chức sòng bạc bị thu giữ là của bọn tổ chức sòng bạc bỏ tiền ra mua.
Hành vi gá bạc của bị can Trương Thoại đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Tài sản kê biên: Nhà số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8.
64. Bị can Hà Gia Quyền (Băng Châu)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1963 tại Chợ Lớn
- ĐKNKTT: 27/5 Văn Thân, phường 8, quận 6, TP HCM
- Chỗ ở: 27/23 Văn Thân, phường 8, quận 6, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 2/12
- Con ông: Hà Tế (chết)
- Con bà: Trương Muối, 68 tuổi
- Vợ: Đàm Nguyệt Hương, sinh 1964 (bị can cùng vụ án)
- Có 5 con (lớn sinh 1988, nhỏ sinh 1998)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1963-1975: Ở với cha mẹ đi học văn hóa tại quận 6. Năm 1975-1985: Buôn bán phụ tùng xe và sản xuất phụ tùng xe. Năm 1986: xuất cảnh trái phép bị bắt, tháng 5/1986 được trả tự do. Tháng 5/1986-1990: Làm thợ sắt gia công. Năm 1990: bị bắt về tội tổ chức đá gà ăn tiền bị đưa ra tổ dân phố kiểm điểm. Năm 1991-1994: Không nghề nghiệp, thường tổ chức đá gà ăn tiền. Tháng 7/2001 cho thuê nhà tổ chức đánh bạc.
- Tạm giam: 7/1/2002
c. Hành vi phạm tội
Tháng 7/2001 Triệu Tô Hà đến gặp Hà Gia Quyền đặt vấn đề thuê nhà Quyền để chuyển sòng bạc xóc đĩa từ nhà Hà số 46/12 Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình về nhà Quyền số 27/23 Văn Thân, phường 8 quận 6. Quyền đồng ý cho Hà mở sòng bạc nhưng không lấy tiền thuê nhà vì Hà và Quyền là bạn thân thiết. Đồng thời Quyền dẫn Hà đến gặp Nguyễn Thị Dung chủ nhà 27/6 Văn Thân Q6 thuê nhà Dung để két sắt giữ tiền của chủ sòng bạc. Sòng bạc hoạt động tại nhà Quyền được khoảng 7 ngày thì Quyền cùng Hà đến thuê nhà Nguyễn Thị Dung với giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng một ngày để dời sòng bạc sang nhà Dung. Khi sòng bạc dời về nhà Dung thì chiếc két sắt đựng tiền của sòng bạc do Trần Thị Anh Anh (Sơn) quản lý lại đưa về nhà Quyền cất giữ. (BL số 3459, 3460, 3463, 3464 - V4 - tập 66)
Hà Gia Quyền không lấy tiền thuê nhà nên Triệu Tô Hà cho 5 người con của Quyền mỗi ngày từ 10.000 (mười nghìn) đồng đến 20.000 (hai mươi nghìn) đồng một người. (BL số 3487 - V4 - tập 66)
Mặc dù trong thời gian bị tạm giam Hà Gia Quyền không khai nhận việc nhận tiền cho thuê nhà mở sòng bạc, nhưng hành vi cho mượn nhà và đi thuê nhà của Hà Gia Quyền để cho Triệu Tô Hà và Tạ Đắc Lung tổ chức sòng bạc đã đủ căn cứ kết luận Hà Gia Quyền phạm tội gá bạc.
Hành vi gá bạc của bị can Hà Gia Quyền đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng tạm giữ: Một điện thoại di động hiệu Samsung; một hộ chiếu số PT - A0094904B.
Tài sản kê biên: Nhà số 27/23 Văn Thân, phường 8, quận 6.
65. Bị can Nguyễn Thị Liên (Năm Liên)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1955 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 351A Khu phố 1, Phước Long A, quận 9, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Con ông: Trần Văn Tăng (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Sổ (85 tuổi)
- Chồng: Lê Công Đức (chết)
- Con: 2 con (lớn sinh năm 1984 và nhỏ sinh năm 1988)
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ sống với cha mẹ đi học đến lớp 6 ở quận 9. Sau đó làm thợ may rồi theo phụ xe chở hàng thuê đến nay.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Cuối tháng 1/2001 (tháng chạp âm lịch) Nguyễn Văn Dương dẫn Nguyễn Văn Nhã đến thuê nhà của Nguyễn Thị Liên để mở sòng bạc. Sau khi Dương và Liên bàn bạc giá cả thuê nhà, thị Liên đồng ý cho Nhã thuê nhà tổ chức sòng bạc. Liên khai cho Nhã thuê nhà với giá 6.000.000 (sáu triệu) đồng/tháng, mỗi ngày 200.000 đồng, đưa tiền trước nửa tháng. Nhã đã đưa trước cho Liên 3.000.000 (ba triệu) đồng tiền thuê nhà nửa tháng. Sòng bạc tổ chức tại nhà Liên được khoảng nửa tháng thì nghỉ Tết. Sau tết 2001 tiếp tục hoạt động trở lại gần nửa tháng thì nghỉ và Nhã chưa trả tiền nhà cho thị Liên. Sau khi sòng bạc nghỉ, Liên bán máy lạnh của sòng bạc (do Nhã lắp đặt để phục vụ cho sòng bạc) được 2.000.000 (hai triệu) đồng để trừ số tiền thuê nhà 15 ngày cuối Nhã chưa trả. (BL số 3337 - V4 - tập 63)
Nguyễn Văn Dương lại khai đã trả đủ tiền thuê nhà cho Liên 300.000 (ba trăm nghìn) đồng/ngày. Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Thị Kim Phượng khai: hàng ngày giao cho Nguyễn Văn Dương 800.000 đồng để trả tiền nhà và tiền lo an ninh cho sòng bạc. (BL số 3348, 3352, 3354 - V4 - tập 63)
Lời khai của Liên về giá cả cho thuê nhà và trả tiền trước là không có cơ sở vì quy luật của bọn tổ chức sòng bạc là thuê nhà với giá cao và sòng bạc hoạt động ngày nào thì trả tiền thuê nhà ngày đó, không đưa trước tiền thuê nhà tháng. Vì vậy kết luận Liên cho thuê nhà với giá 300.000 (hai trăm ngàn) đồng/ngày. Sòng bạc hoạt động 27 ngày, Liên được bọn tổ chức sòng bạc trả tiền thuê nhà là 8.100.000 (tám triệu một trăm nghìn) đồng và 2.000.000 (hai triệu) đồng do Liên bán máy lạnh của sòng bạc. Tổng cộng 10.100.000 đồng.
Hành vi gá bạc của bị can Nguyễn Thị Liên đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Tài sản kê biên: Nhà số 351A KP1 - phước Long A - quận 9.
66. Bị can Nguyễn Thị Dung
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1959 tại TP HCM
- Nơi ĐKNKTT: 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6, TP HCM
- Văn hóa: 4/12
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật giáo
- Con ông Nguyễn Văn Triệu (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Nghiêm (ở Mỹ)
- Chồng: Trần Đăng Xuyên, sinh năm 1958
- Con: 4 người (lớn sinh năm: 1986, nhỏ sinh năm 1996)
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ sống với bà nội đi học đến lớp 4 tại TP HCM. Năm 1995 đến 2002 là tổ trưởng tổ dân phố 57, phường 8, quận 6.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Vào tháng 7/2001 Triệu Tô Hà và Tạ Đắc Lung mở sòng bạc xóc đĩa tại nhà Hà Gia Quyền số 27/23 Văn Thân, phường 8, quận 6. Nguyễn Thị Dung cho Triệu Tô Hà thuê nhà mình tại số 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6 để két sắt đựng tiền của sòng bạc với giá 50.000 (năm mươi nghìn) đồng/ngày.
Sòng bạc tổ chức tại nhà Hà Gia Quyền được 1 tuần thì Quyền giới thiệu Triệu Tô Hà chuyển sòng bạc sang nhà Dung với giá thuê nhà chứa bạc là 200.000 đồng/ngày. Sòng bạc hoạt động tại nhà Dung 10 ngày thì ngưng, Dung khai đã nhiều lần được Triệu Tô Hà trả tiền thuê nhà mở sòng bạc, tổng số tiền đã nhận khoảng 800.000 đồng. Ngày đầu được nhận 200.000 đồng, các ngày sau được nhận từ 100.000 đến 150.000 đồng/ngày. Số tiền này Dung đã tiêu xài hết. (BL số 3427 - V4 - tập 65)
Lời khai của Triệu Tô Hà và Hà Gia Quyền về việc thỏa thuận giá thuê nhà mở sòng bạc giữa Dung, Hà, Quyền có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thị Dung đã nhận số tiền thu lợi bất chính của tổ chức đánh bạc thuê nhà là 1.550.000 đồng.
Hành vi gá bạc của bị can Nguyễn Thị Dung đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
67. Bị can Nguyễn Thành Hiệp
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 29/1/1962 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 69/33 Nguyễn Công Trứ, phường 19, Bình Thạnh, TP HCM
- Chỗ ở: 37/4/30 Ngô Tất Tố, phường 21, quận Bình Thạnh, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: Không biết chữ
- Con ông: Nguyễn Thành Long (sinh 1932)
- Con bà: Tạ Thị Búp (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Ngọc Dung, sinh 1972
b. Quá trình hoạt động
Năm 1962-1969: Ở với cha mẹ tại đường Nguyễn Công Trứ, Bình Thạnh. Năm 1969-1999: Phụ giúp gia đình. Từ năm 1999 chạy xe ôm, đến tháng 10/1999 làm bảo vệ cho sòng bạc.
- Tiền án: 3
- Tiền sự: 3
+ Năm 1985: Công an Phú Nhuận bắt tội “trộm cắp tài sản”, Tòa án Phú Nhuận xử phạt 24 tháng tù giam.
+ Tháng 4/1987: Công an Bình Thạnh bắt tội “cùng đồng bọn cướp giật tài sản”, án phạt 36 tháng tù.
+ Tháng 4/1992: Công an Quận 1 bắt tội “cùng đồng bọn cướp giật tài sản”, Tòa án Nhân dân TP HCM xử phạt 36 tháng tù giam.
+ Tháng 5/1998 cùng đồng bọn trộm cắp tài sản, sau đó bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM khởi tố bị can, ra lệnh truy nã. Ngày 8/2/2002, Nguyễn Thành Hiệp bị bắt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM phục hồi điều tra đối với Hiệp (quyết định số 2035-49 ngày 11/4/2002)
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 12/1999 đến tháng 10/2001 Nguyễn Thành Hiệp được Nguyễn Thành Thảo, Nguyễn Văn Nhã và Tạ Đắc Lung giao nhiệm vụ cảnh giới bảo vệ các sòng bạc xóc đĩa và hướng dẫn con bạc vào sòng bạc đánh bạc. Mỗi ngày Hiệp được trả công 100.000 (một trăm ngàn) đồng. Cụ thể:
- Sòng bạc tổ chức tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 từ tháng 12/1999 đến tháng 4/2000, Hiệp tham gia 120 ngày. Số tiền được sòng bạc trả công 12.000.000 (mười hai triệu) đồng.
- Sòng bạc 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 tháng 1 và 2/2001 Hiệp tham gia 27 ngày với số tiền thu được 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn).
- Sòng bạc tại 46/12 Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình, Số 27/23 và 27/6 Văn Thân phường 8 quận 6 tháng 7/2001, Hiệp tham gia 21 ngày, được trả công 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng.
- Sòng bạc tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình tháng 9/2001 và 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 tháng 10/2001, Hiệp tham gia khoảng 33 ngày được trả công 3.300.000 (ba triệu ba trăm nghìn) đồng. (BL số 2350, 23651 - V4 - tập 34)
Tổng số tiền Hiệp thu nhập bất chính trong việc bảo vệ, cảnh giới cho sòng bạc là 20.100.000 (hai mươi triệu một trăm nghìn) đồng.
Ngày 9/10/2001 sòng bạc bị bắt quả tang, Hiệp bảo vệ phía ngoài sòng bạc nên có điều kiện chạy trốn. Ngày 8/2/2002 bị bắt theo lệnh truy nã.
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Nguyễn Thành Hiệp đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
68. Bị can Nguyễn Minh Tiến
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 20/11/1974 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 52A Tôn Thất Thuyết, phường 1, quận 4, TP HCM
- Chỗ ở: Không nơi ở nhất định
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Trình độ văn hóa: 3/12
- Con ông Nguyễn Văn Minh
- Con bà Phạm Thị Ràng (chết)
- Vợ 1: Phạm Thị Loan, sinh năm: 1974
- Vợ 2: Chung Hà, sinh năm 1967
b. Quá trình hoạt động
Năm 1974-1979: Còn nhỏ sống với cha mẹ ở Tôn Thất Thuyết, phường 1, quận 4. Năm 1979-1982: Học bổ túc ban đêm tại trường Nguyễn Khoái, phường 1, quận 4. Năm 1982-1988: Nghỉ học ở nhà phụ cha mẹ dệt chiếu. Năm 1988-1996: Đi làm mướn. Năm 1996: Lấy vợ làm nghề buôn bán cua.
- Tạm giam ngày 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
Đầu tháng 10/1999, Nguyễn Minh Tiến được bọn tổ chức sòng bạc giao nhiệm vụ bảo vệ cảnh giới sòng bạc xóc đĩa, mỗi ngày được trả công 100.000 đồng. Cụ thể Tiến tham gia tại các sòng sau:
- Số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Tiến tham gia 135 ngày; số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 Tiến tham gia 27 ngày; số 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình; Sau đó chuyển về số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 cho đến khi bị bắt Tiến tham gia 33 ngày. (BL số 2503 - V4 - tập 37 và số 11, 26 - V4 - tập 74)
Tổng thu nhập bất chính của Nguyễn Minh Tiến là 20.500.000 đồng.
Thái độ thiếu thành khẩn, che giấu đồng bọn và che giấu quá trình tham gia cảnh giới, bảo vệ sòng bạc.
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Nguyễn Minh Tiến đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
69. Bị can Đặng Thị Bé
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1961 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 65/20 Huỳnh Văn Bánh, phường 17, Phú Nhuận, TP HCM
- Chỗ ở: 65/35 Huỳnh Văn Bánh, phường 17, quận Phú Nhuận, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Con ông: Đặng Văn Triền (chết)
- Con bà: Dương Thị Sử (chết)
- Chồng: Nguyễn Tất Thích, sinh 1954
- Có 3 con (lớn nhất sinh 1987, nhỏ nhất sinh 1997)
b. Quá trình hoạt động
Sinh ra lớn lên tại Sài Gòn, được cha mẹ nuôi dưỡng cho ăn học hết lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình, sau đó lấy chồng ở riêng.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
- Đầu tháng 10/1999 đến đầu tháng 1/2000, Đặng Thị Bé được người quen là Nguyễn Ngọc Chuỷ (thầy cúng) giới thiệu đến sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 để xin làm công cho sòng bạc, được Sáu Nhà đồng ý và giao cho công việc hằng ngày là quét dọn sòng bạc, phục vụ khăn lạnh, bưng bê cơm nước, phụ kiểm tiền, đổi phỉnh và làm một số công việc khác khi có yêu cầu. Tại đây Bé tham gia khoảng 120 ngày và được chủ sòng bạc trả công mỗi ngày 100.000 đồng. Sau đó Đặng Thị Bé tiếp tục phục vụ tại các sòng bạc:
- Sòng bạc tại 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 vào tháng 1 và 2/2001 Bé tham gia 26 ngày. (BL số 2757 - V4 - tập 65)
- Sòng bạc tại 27/23 và 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6, Bé tham gia 10 ngày thì sòng bạc ngưng. (BL số 2757 - V4 - tập 65)
- Đầu tháng 9/2001, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc tổ chức sòng bạc tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình. Tại đây, Bé tham gia được 20 ngày thì ngày 29/9/2001 sòng bạc chuyển về số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Tại đây, Bé phục vụ theo yêu cầu của bọn tổ chức sòng bạc và được trả công mỗi ngày 100.000 đồng. Ngày 9/10/2001, Bé bị bắt quả tang tại sòng bạc. (BL số 2757 - V4 - tập 65)
- Tổng số tiền Bé thu lợi bất chính từ việc phục vụ tại các sòng bạc từ năm 1999 đến ngày bị bắt (9/10/2001) là khoảng 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng. Số tiền thu lợi bất chính trên Bé khai đã tiêu xài hết, khi bị bắt chỉ còn lại 10.000 (mười nghìn) đồng.
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Đặng Thị Bé đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
70. Bị can Mã Chung Phát
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1927 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 284/558B Ngô Gia Tự, phường 4, quận 10, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật
- Con ông: Mã Tin (chết)
- Con bà: Lâm Phúc (chết)
- Vợ: Lâm Kiều, sinh 1952
- Có 2 con (lớn sinh 1970, nhỏ sinh 1972)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1934-1949: Ở với cha mẹ, học văn hóa và học nghề thợ sắt. Năm 1949-1952: Phụ hồ và phụ việc nhà tại quận 4, TP HCM. Năm 1952-1955: Bán đậu phộng rang. Năm 1955-1960: Thợ sắt. Năm 1960-1964: Làm thợ hồ. Năm 1964-1999: Phụ bán cà phê tại chợ Cầu Ông Lãnh. Năm 1999-2001: Tham gia tổ chức đánh bạc.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 10/1999 đến tháng 10/2001, Mã Chung Phát tham gia tổ chức sòng bạc xóc đĩa với vai trò “hồ lỳ, phát hỏa” (chung chi tiền bạc cho chủ sòng bạc) được chủ sòng trả công 100.000 (một trăm nghìn) đồng/ngày tại các sòng bạc sau:
- Sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 năm 1999-2000, Phát tham gia hơn 4 tháng, được trả công khoảng 12.000.000 (mười hai triệu) đồng.
- Sòng 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 từ tháng 1 và 2/2001, Phát tham gia 27 ngày được trả công 2.700.000 (hai triệu bảy trăm) đồng.
- Các sòng mở tại 46/12 Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình, 27/23 Văn Thân và 27/6 Văn Thân, quận 6 vào tháng 7/2001, Phát tham gia 21 ngày, được trả công khoảng 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn).
- Sòng 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình vào tháng 9/2001 Phát tham gia 23 ngày sau đó sòng bạc dời về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Phát tham gia được 10 ngày thì bị bắt, được trả công khoảng 3.300.000 (ba triệu ba trăm nghìn) đồng. (BL số 2964, 2965 - V4 - tập 54)
Tổng số tiền thu lợi bất chính từ sòng bạc khoảng 20.000.000 (hai chục triệu) đồng.
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Mã Chung Phát đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
71. Bị can Lương Tiểu Chánh
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1970
- ĐKNKTT: 51/8 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, Bình Thạnh, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 5/12
- Con ông: Lương Muội
- Con bà: Tư Tố Hà
b. Quá trình hoạt động
Năm 1970-1988: Ở với cha mẹ và đi học tại Bình Thạnh. Năm 1988-1998: Buôn bán cà phê. Năm 1999-2000: Tham gia tổ chức đánh bạc tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn phường 13, quận 8. Năm 2000-2002: Buôn bán cà phê.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Vào tháng 10/1999, Lương Tiểu Chánh tham gia tổ chức sòng bạc với vai trò giữ phỉnh đổi tiền mỗi ngày được Nguyễn Văn Nhã trả công 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Đồng thời tham gia đánh bạc mỗi ván đánh từ 100.000 (một trăm nghìn) đồng đến 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Chánh tham gia trong sòng bạc được 90 ngày, được sòng bạc trả công 9.000.000 (chín triệu) đồng. Số tiền thua do đánh bạc là 10.000.000 đồng. (BL số 3059, 3060 - V4 - tập 56).
Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của bị can Lương Tiểu Chánh đã phạm vào các điều 249, 248 của BLHS nước CHXHCNVN.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:32 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch điều tra viên Đặng Hải Tương


Trong quá trình điều tra vụ án Phan Lê Sơn, Đặng Hải Tương (Phòng Cảnh sát điều tra Công an TP HCM) luôn cố để các đối tượng: Trương Văn Cam, Dương Ngọc Hiệp, Nguyễn Văn Thọ, Lê Thị Kim Anh… ra khỏi diện liên quan đến vụ án, nhất là việc liên quan đến hành vi che giấu tội phạm, tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài



[b]Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can[/b]
72. Bị can Đặng Hải Tương
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 23/4/1958 tại Thái Bình.
- Nơi ĐKNKTT: 62/10 Trần Bình Trọng, phường 5, Bình Thạnh, TP HCM.
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không.
- Văn hoá: 10/10
- Con ông: Đặng Xuân Chuyển (chết)
- Con bà: Trần Thị Chiện (chết).
- Vợ: Trần Thị Cẩm Tú, sinh năm 1962.
- Con: có 2 người con, lớn 11 tuổi, nhỏ 6 tuổi.
b. Quá trình hoạt động
Từ khi sinh ra và lớn lên ở tại Thái Bình. Năm 1977, học hết 10/10. Từ năm 1977-1984 là cán bộ trại giam Đồng Tháp - Bộ Nội vụ. Năm 1984-1989 là học viên trường Đại học Cảnh sát Nhân dân. Từ 1989-8/2002 công tác tại Phòng Cảnh sát điều tra Công an TP HCM.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 7/8/2002
c. Hành vi phạm tội
Với những tài liệu, chứng cứ thu thập được, thể hiện: Trong quá trình điều tra vụ án, điều tra viên Đặng Hải Tương luôn có ý thức loại các đối tượng: Trương Văn Cam, Dương Ngọc Hiệp, Nguyễn Văn Thọ, Lê Thị Kim Anh… ra khỏi diện liên quan đến vụ án, nhất là việc liên quan đến hành vi che giấu tội phạm, tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép của các đối tượng nêu trên. Nên đã có hành vi tổ chức đối chất, tạo các lời khai không đúng sự thật, có lợi cho bọn tội phạm, dẫn đến việc bỏ lọt các đối tượng phạm tội che giấu tội phạm như đã nêu trên. Mặc dù không thừa nhận sai phạm của mình, nhưng hành vi của Đặng Hải Tương phạm vào tội làm sai lệch hồ sơ vụ án quy định tại Điều 300 - BLHS.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:33 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 10 đối tượng tham gia tổ chức sòng bài


Nguyễn Hữu Đức và Võ Thị Kim Hương được Năm Cam giao nhiệm vụ ghi sổ sách và phục vụ ăn uống tại sòng bạc xập xám ở hẻm đường Trần Nguyên Hãn, quận 8. Nguyễn Thanh Tuấn phục vụ ăn uống dọn dẹp vệ sinh trong sòng bạc xóc đĩa, tiền công 100.000 đồng/ngày.
Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can

73. Bị can Võ Thị Kim Hương (Bé Ba)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1969 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 109D/96/30 Bến Vân Đồn, phường 8, quận 4, TP HCM
- Chỗ ở: 180 - 181 Lô H, Hoàng Diệu, phường 8, quận 4, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Con ông: Võ Văn Còn, sinh 1949
- Con bà: Phạm Thị Kim Chi, sinh 1950
- Chồng: Nguyễn Hữu Đức, sinh 1970, bị can cùng vụ.
- Có 3 con: Lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh 1996
b. Quá trình hoạt động
Năm 1969-1990: Ở với gia đình đi học đến hết lớp 6 nghỉ học phụ giúp gia đình buôn bán. Năm 1990-2002: Nội trợ và làm chủ hụi.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 20/6/2002
c. Hành vi phạm tội
Ngày 8, 9/10/2001 Trương Văn Cam tổ chức đánh bạc xập xám tại số 122 Trần Hưng Đạo B, phường 7, quận 5. Trương Văn Cam thuê Võ Thị Kim Hương cùng chồng là Nguyễn Hữu Đức làm nhiệm vụ ghi sổ sách theo dõi việc thắng, thua của các con bạc, thu tiền xâu và phục vụ ăn uống cho các con bạc. Mỗi ngày Trương Văn Cam trả tiền công cho Hương và Đức mỗi người 50.000 đồng.
Võ Thị Kim Hương còn khai nhận năm 1999 Hương cùng chồng là Nguyễn Hữu Đức được Trương Văn Cam giao nhiệm vụ ghi sổ sách và phục vụ ăn uống tại sòng bạc xập xám ở một căn nhà trong hẻm đường Trần Nguyên Hãn, quận 8 do Trương Văn Cam và Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) tổ chức, Hương và Đức làm được 10 ngày, được Trương Văn Cam trả công mỗi người 50.000 đồng/ngày. Sòng bạc này Ba Mạnh đã chết, Trương Văn Cam khai những con bạc là người Hoa do Ba Mạnh đưa đến nên không xác định được tên tuổi từng con bạc tham gia. (BL số 3570 - V4 - tập 68)
Số tiền thu lợi bất chính của Hương trong sòng bạc là 600.000 đồng đã được Nguyễn Hữu Đức nộp cho cơ quan điều tra.
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Võ Thị Kim Hương đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
74. Bị can Nguyễn Hữu Đức
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1970 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 109D/96/30 Bến Vân Đồn, phường 8, quận 4, TP HCM
- Chỗ ở: 180-181 Lô H, Hoàng Diệu, phường 8, quận 4, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 5/12
- Con ông: Nguyễn Văn Thôn, sinh 1931 và bà: Nguyễn Thị Ngọc, sinh 1932
- Vợ: Võ Thị Kim Hương, sinh 1969 (bị can cùng vụ)
- Có 3 con: Lớn nhất sinh 1990, nhỏ nhất sinh 1996
b. Quá trình hoạt động
Năm 1970-1988: Ở với gia đình đi học đến lớp 5/12. Năm 1988-1990: Đi nghĩa vụ quân sự. Năm 1990-2002: Buôn bán và làm chủ hụi.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Ngày 8, 9/10/2001 Trương Văn Cam tổ chức đánh bạc xập xám tại số 122 Trần Hưng Đạo B phường 7 quận 5. Trương Văn Cam thuê Nguyễn Hữu Đức cùng vợ là Võ Thị Kim Hương làm nhiệm vụ ghi sổ sách theo dõi việc thắng, thua của các con bạc, thu tiền xâu và phục vụ ăn uống cho các con bạc. Mỗi ngày Trương Văn Cam trả tiền công cho Hương và Đức mỗi người 50.000 đồng.
Năm 1999 Nguyễn Hữu Đức và Võ Thị Kim Hương được Trương Văn Cam giao nhiệm vụ ghi sổ sách và phục vụ ăn uống tại sòng bạc xập xám ở một căn nhà trong hẻm đường Trần Nguyên Hãn, quận 8 do Trương Văn Cam và Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) tổ chức, Hương và Đức làm được 10 ngày và được Trương Văn Cam trả công mỗi người 50.000 đồng/ngày. Sòng bạc này Ba Mạnh đã chết, Trương Văn Cam khai những con bạc là người Hoa do Ba Mạnh đưa đến nên không xác định được tên tuổi từng con bạc tham gia. (BL số 3613, 3614 - V4 - tập 70)
Số tiền thu lợi bất chính của Đức trong sòng bạc là 600.000 đồng Nguyễn Hữu Đức đã nộp lại cho cơ quan điều tra.
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Nguyễn Hữu Đức đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
75. Bị can Nguyễn Thanh Tuấn
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1978 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 32/11c Nguyễn Chí Thanh, phường 5, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
- Chỗ ở: 462/8E Nguyễn Tri Phương, phường 9, quận 10, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Văn hóa: 6/12
- Con ông: Nguyễn Văn Chí
- Con bà Nguyễn Thị Phương Oanh
b. Quá trình hoạt động
Năm 1978-1989: Còn nhỏ đi học đến lớp 6 sống với cha mẹ tại 32/11C Nguyễn Chí Thanh, khóm 2, phường 5, thị xã Vĩnh Long. Năm 1989-1993: phụ cha mẹ buôn bán. Từ năm 1993: Học nghề sửa xe gắn máy và lái xe, ngụ tại nhà chị họ tại 462/8E Nguyễn Tri Phương, phường 9, quận 10. Tháng 11/2000-2/2001: Làm việc tại nhà hàng 236 Lê Hồng Phong, phường 4, quận 5.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
Đầu tháng 9/2001 Nguyễn Thanh Tuấn được Mã Chung Phát (bị bắt cùng vụ) giới thiệu vào làm việc cho sòng bạc tại số 1102 Tự Lập, phường 4, Tân Bình, Tuấn được Nguyễn Khánh Quốc giao nhiệm vụ phục vụ ăn uống dọn dẹp vệ sinh trong sòng bạc xóc đĩa mỗi ngày được Quốc trả công 100.000 đồng. (BL số 2571 - V4 - tập 39)
Ngày 29/9/2001 sòng bạc dời về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Tuấn vẫn được Quốc phân công làm nhiệm vụ phục vụ cơm nước, khăn lạnh cho các con bạc và dọn dẹp sòng bạc cho đến khi Tuấn và sòng bạc bị bắt. Tổng cộng Tuấn tham gia được khoảng 25 ngày và được sòng bạc trả công khoảng 2.500.000 đồng. (BL số 2571 - V4 - tập 39)
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Nguyễn Thanh Tuấn đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
76. Bị can Nguyễn Văn Quang
a. Lý lich bị can
- Sinh ngày: 29/3/1952 tại Nam Định
- ĐKNKTT: 362/15 Hai Bà Trưng, Tân Định, quận 1, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 10/12
- Con ông: Nguyễn Văn Lâm
- Con bà: Lê Thị Xuân
- Vợ: Nguyễn Thị Phát, sinh năm 1960
- Có 2 con (lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1954-1966: theo cha mẹ di cư vào Nam, và đi học tại Châu Đốc. Năm 1966-1969: đi học hết lớp 10/12 tại quận Gò Vấp TP HCM. Năm 1970-1975: đi lính Không quân ngụy (văn thư hành chính), cấp bậc: binh nhất. Năm 1975-1986: phụ cha mẹ buôn bán. Năm 1986-2001: Làm thợ ảnh.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Đầu tháng 9/2001, Nguyễn Văn Nhã cùng Nguyễn Khánh Quốc tổ chức mở sòng bạc xóc đĩa tại số 1102 Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình. Nguyễn Thành Thảo gợi ý Nguyễn Văn Quang hùn vào sòng bạc 20.000.000 đồng để làm cái chia tiền lời, Nguyễn Văn Quang đồng ý. Nguyễn Thành Thảo nhận 20 triệu đồng của Quang góp vốn làm cái và đưa cho Nguyễn Văn Nhã để ghi vào danh sách góp vốn của sòng bạc.
Sau 23 ngày sòng bạc hoạt động, Quang khai được Thảo đưa 3 lần tiền lãi tổng cộng 19.000.000 (mười chín triệu đồng). Khi sòng bạc dời về quận 8 được 1 tuần Quang được Thảo thông báo sòng bị thua nên phải nộp vào 6.500.000 đồng. Quang được hưởng tiền lời góp vốn trong sòng bạc là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). Quang đã nộp cho Cơ quan điều tra 12.500.000 đồng tiền thu nhập bất chính. Ngoài ra Quang còn khai nhận Nguyễn Thành Thảo đưa cho Quang 20 triệu đồng để góp tiền hụi cho Trương Hiền Bảo (thay Thảo) nhưng Quang chưa kịp đưa cho Bảo thì Bảo bị bắt. (BL số 2861, 2862 - V4 - tập 49)
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Nguyễn Văn Quang đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng tạm giữ: 32.500.000đ (ba mươi hai triệu năm trăm ngàn), trong đó có 20.000.000 đồng (hai mươi triệu) của Nguyễn Thành Thảo.
77. Bị can Nguyễn Văn Quý
a. Lý lich bị can
- Sinh năm: 1940 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 462/32 Nguyễn Tri Phương, phường 9, quận 10, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 7/12
- Con ông: Nguyễn Văn Phú (chết)
- Con bà: Huỳnh Thị Liên (chết)
- Vợ 1: Bùi Thị Hạnh, sinh năm 1944, đã ly dị năm 1983
- Vợ 2: Nguyễn Thị Giang, sinh năm 1959
- Có 6 con (lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1997)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1940-1965: Ở cùng cha mẹ tại Sài Gòn, đi học đến lớp 7/12, làm thợ sơn. Năm 1966-1975: Đi lính cảnh sát ngụy, cấp bậc trung sỹ nhất. Năm 1975-1983: Học tập cải tạo tại trại Gia Trung (tỉnh Kon Tum). Năm 1983-2001: buôn bán tại nhà.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
c. Hành vi phạm tội
- Đầu tháng 9/2001 Nguyễn Văn Quý được Nguyễn Thành Thảo cho biết Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc tổ chức mở một sòng bạc xóc đĩa ăn tiền tại số 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình, Thảo nói với Nguyễn Văn Nhã cho Nguyễn Văn Quý tham gia góp vốn 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để kiếm tiền lời tiêu xài và Nhã đồng ý.
Mỗi lần sòng bạc chia lời phần hùn, Nhã nhận tiền đem về giao cho Thảo và Thảo giao lại cho Quý. Sau 23 ngày sòng bạc hoạt động tại Tân Bình, Nguyễn Văn Quý khai nhận đã được Nguyễn Thành Thảo đưa tiền lời 3 (ba) lần là 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng). Cuối tháng 9/2001, sòng bạc rời về quận 8 nhà cái bị lỗ Quý phải nộp lại cho Thảo 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng cộng 2 nơi Quý được chia lời 12.500.000 đồng, đã nộp lại số tiền chia lời bất chính nói trên. (BL số 2841, 2842 - V4 - tập 48)
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Nguyễn Văn Quý đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng tạm giữ: Tiền ngân hàng Việt Nam 12.500.000 đồng
78. Bị can Đàm Nguyệt Hương
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1964 tại TP HCM
- ĐKHKTT: 27/5 Văn Thân, phường 8, quận 6, TP HCM
- Chỗ ở: 27/23 Văn Thân, phường 8, quận 6, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật giáo
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Con ông: Dương Thế Văn (63 tuổi)
- Con bà: Trần Muối (chết)
- Chồng: Hà Gia Quyền (bị can cùng vụ án)
- Có 5 con (lớn 13 tuổi, nhỏ 4 tuổi)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1964-1985: Ở với cha mẹ ở quận 6, đi học tiếng Hoa đến lớp 6. Năm 1986-2001: Nội trợ tại 27/23 Văn Thân, phường 8, quận 6.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Năm 1978 bị bắt giam 1 tháng về tội xuất cảnh trái phép
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Tháng 7/2001 Triệu Tô Hà và Tạ Đắc Lung thuê nhà số 27/23 Văn Thân, phường 8, quận 6 của Đàm Nguyệt Hương để tổ chức đánh bạc xóc đĩa. Sòng bạc hoạt động được 7 ngày thì Hà Gia Quyền và Triệu Tô Hà thuê nhà Nguyễn Thị Dung để tổ chức đánh bạc tiếp. Khi sòng bạc chuyển sang nhà Dung, chủ sòng bạc thuê nhà vợ chồng Hương để két sắt đựng tiền. Trong thời gian tổ chức sòng bạc tại nhà Hương và nhà Dung, Hương đã nhiều lần nhận tiền thuê nhà và tiền lo an ninh cho sòng bạc do Tạ Đắc Lung và Nguyễn Thị Kim Phượng trực tiếp giao nhưng Hương khai số tiền trên Hương đưa lại cho Triệu Tô Hà. Mặc dù Hương cùng chồng là Hà Gia Quyền khai không lấy tiền của sòng bạc nhưng hành vi của Hương và Quyền cho sử dụng nhà mở sòng bạc với số người tham gia đông, đánh bạc với số lượng lớn đã phạm tội gá bạc. (BL số 3311, 3313 - V4 - tập 62)
Hành vi gá bạc của bị can Đàm Nguyệt Hương đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
79. Bị can Lê Định Quốc
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 10/12/1938 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 74/16 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 2/12
- Con ông: Lê Phước (chết)
- Con bà: Hà Ngọc Chiêu (chết).
- Vợ: Hà Đại Đệ, 63 tuổi
- Có 7 con (lớn nhất 37 tuổi, nhỏ nhất 26 tuổi)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1938-1954: còn nhỏ ở với cha mẹ và đi học văn hóa hết lớp 2/12 thì nghỉ học theo cha đi làm thuê. Năm 1956-1978: thợ dệt vải. Năm 1978-1982: Công nhân xí nghiệp dệt Bình Minh, quận 8. Năm 1982-1985: Nghỉ công nhân đi làm tư nhân (nghề lắp ráp máy dệt). Năm 1985-2001: Xay chế biến gia công thuốc bắc. Năm 1999-2001 hai lần cho bọn tổ chức sòng bạc thuê nhà để két sắt đựng tiền.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
- Cuối tháng 10/1999 đến tháng 4/2000 các tên Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Nhã và Tô Văn Tốt tổ chức sòng bạc xóc đĩa ăn tiền tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Để có nơi cất giữ tiền của sòng bạc được an toàn, Tô Văn Tốt thuê nhà của Lê Định Quốc cho thủ quỹ ngồi và làm nơi để két sắt đựng tiền quỹ của sòng bạc, mỗi ngày trả 30.000 đến 50.000 đồng, Lê Định Quốc đồng ý cho để két sắt trong phòng ngủ của y trong thời gian khoảng 4 (bốn) tháng sòng bạc hoạt động. Hàng ngày Trần Thị Anh Anh (Sơn) ngồi tại nhà Quốc canh giữ, quản lý tiền của sòng bạc. Quốc đã được sòng bạc trả bình quân mỗi ngày 40.000 đồng trong thời gian 120 ngày là 4.800.000 (bốn triệu tám trăm nghìn) đồng. Ngoài việc cho thuê nhà để két đựng tiền của sòng bạc Quốc còn được bọn tổ chức sòng bạc cho 20.000 (hai mươi nghìn) đồng/ngày để không tố giác sòng bạc trong thời gian 120 ngày là 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn) đồng.
- Cuối tháng 9 đầu tháng 10/2001 sòng bạc xóc đĩa do Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc mở lại tại nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Nguyễn Văn Nhã thông qua Trương Thoại thuê nhà Quốc cho Trần Thị Anh Anh (Sơn) để két sắt, quản lý tiền của sòng bạc, mỗi ngày trả tiền thuê nhà cho Quốc 30.000 đến 50.000 đồng. Lê Định Quốc đồng ý cho để két sắt đựng tiền của sòng bạc tại phòng ngủ của Quốc được 10 ngày thì sòng bạc bị bắt. Khi sòng bạc bị bắt, Anh bỏ trốn, két sắt đựng tiền vẫn để trong phòng ngủ của Quốc. Trong khi bắt giữ sòng bạc, Cơ quan Công an yêu cầu Quốc giao nộp những đồ vật tài sản của sòng bạc gửi tại nhà Quốc nhưng Quốc không giao nộp mà cố tình che giấu chiếc két sắt đựng 1 lượng lớn tiền của sòng bạc. Sau khi cơ quan Công an bắt giữ xong sòng bạc, ngay trong đêm Anh quay lại nhà Quốc mở két sắt lấy đi toàn bộ số tiền khoảng 800 triệu đồng (theo cuốn sổ của bị can Phượng ghi số lượng tiền phần hùn) rồi bỏ trốn. 3 ngày sau Anh cho người đến chở chiếc két sắt đi tẩu tán, sau nhiều lần bị cơ quan điều tra gọi hỏi Quốc mới khai nhận hành vi cho thuê nhà cất giữ tiền của sòng bạc. (BL số 2719, 2720, 2722 - V4 - tập 44)
Qua 2 đợt cho thuê nhà, Lê Định Quốc được bọn tổ chức sòng bạc (Tô Văn Tốt, Nguyễn Văn Nhã) trả tiền thuê nhà là khoảng 5.200.000 đồng và nhận tiền để không tố giác hành vi phạm tội của chúng là 2.600.000 đồng.
Hành vi gá bạc của bị can Lê Định Quốc đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
80. Bị can Bùi Thanh Tuấn (Tuấn "Mập")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 19/05/1979 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 60 Đồng Đen, phường 13, quận Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Thiên Chúa
- Trình độ văn hóa: 10/12
- Con ông: Bùi Viết Hùng
- Con bà: Phạm Thị Trâm
b. Quá trình hoạt động
Năm 1979-1998: Còn nhỏ đi học đến lớp 10 ở Tân Bình. Từ tháng 3/1999 đến tháng 3/2001: Đi nghĩa vụ quân sự. Từ tháng 3/2001: Học nghề lái xe.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
- Ngày 8/9/2001 Bùi Thanh Tuấn được cha ruột là Bùi Viết Hùng (Tùng Béo) đang làm nhiệm vụ giám sát trong sòng bạc mở tại số 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình giới thiệu và xin Nguyễn Khánh Quốc cho Tuấn làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ vòng ngoài cho sòng bạc hoạt động, đồng thời hướng dẫn các con bạc vào sòng bạc để đánh bạc. Mỗi ngày Tuấn được Quốc và Nhã trả tiền công là 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Tuấn tham gia được 20 ngày (từ ngày 8/9/2001 đến ngày 27/9/2001) và đã được trả công 2.000.000 (hai triệu) đồng. (BL số 2701 - V4 - Tập 43)
- Ngày 29/09/2001, sòng bạc chuyển về số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Tuấn vẫn được phân nhiệm vụ canh gác cho sòng bạc tại đầu hẻm 74 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Tuấn đã tham gia được 10 ngày và được trả công số tiền 1.000.000 đồng. Ngày 9/10/2001 sòng bạc bị bắt, Bùi Thanh Tuấn chạy thoát. Tổng cộng số tiền Tuấn thu lợi bất chính từ việc tham gia trong tổ chức sòng bạc là 3.000.000 đồng. (BL số 2702 - V4 - tập 43)
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Bùi Thanh Tuấn đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
81. Bị can Trương Diệu Hán
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 21/10/1983 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 74/2 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hán
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Con ông: Trương Văn Chỗng (sinh 1960)
- Con bà: Trần Thúy Hồng (sinh 1962)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1983-2001: sống với cha mẹ tại quận 8, đi học đến lớp 9/12. Ngày 9/10/2001, bị bắt quả tang đang phục vụ tại sòng bạc xóc đĩa số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Trương Diệu Hán là cháu ruột của Trương Thoại. Đầu tháng 10/2001, Trương Thoại thuê Trương Diệu Hán phục vụ tại sòng bạc xóc đĩa. Công việc hằng ngày của Hán là phụ giúp Trương Thoại mua bán đồ ăn, thức uống, dọn dẹp… tại sòng bạc số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 do Trương Thoại làm chủ nhà. Thoại trả công cho Hán là 30.000 đồng/ngày. Trương Diệu Hán đã làm được 8 ngày tại sòng bạc và được Trương Thoại trả công tổng cộng 240.000 đồng. Ngày 9/10/2001, Công an quận 8 bắt quả tang sòng bạc xóc đĩa, Trương Diệu Hán bị tạm giữ 3 ngày, sau đó thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (BL số 2598 - V4 - tập 40)
Hành vi tổ chức đánh bạc của bị can Trương Diệu Hán đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng tạm giữ: 45.000 đồng
82. Bị can Trần Thị Cẩm
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 10/10/1952 tại Hải Phòng
- ĐKNKTT: 2764 Net Word va Fullerton, California, Mỹ
- Chỗ ở: 373/47 Phạm Ngũ Lão, Phạm Ngũ Lão, quận 1, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Trần Quang Trường (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Khang
- Chồng: Vũ Như Lân (đã ly dị)
- Có 3 con (lớn nhất sinh 1971, nhỏ nhất sinh 1973) ở Mỹ
b. Quá trình hoạt động
Năm 1952-1966: Ở với cha mẹ và đi học tại quận 4, TP HCM. Năm 1967-1969: Buôn bán tại phi trường Tân Sơn Nhất. Năm 1970-1974: Nội trợ tại Pleiku, Kon Tum. Năm 1974-1990: Buôn bán tại quận 4, TP HCM. Năm 1990-2002: Định cư tại Mỹ diện ODP (chưa nhập quốc tịch Mỹ).
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 1. Năm 1986 bị Cơ quan An ninh Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt tạm giam 4 tháng về hành vi kinh doanh trốn thuế, sau đó được đình chỉ điều tra trả tự do.
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Tháng 12/2000 Trần Thị Cẩm tham gia đánh bạc xập xám tại sòng bạc số 835/1-2 Trần Hưng Đạo P1Q5. Đánh mỗi chến từ 15 triệu đến 30 triệu đồng, ăn thua mỗi chi 500.000 đồng. Sau 02 ngày đánh bạc, Trần Thị Cẩm thua 100 triệu đồng. (BL số 2522, 2523 - V4 - tập 38)
Hành vi đánh bạc của bị can Trần Thị Cẩm đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Chủ đề này đã bị khóa, bạn không thể sửa những bài viết của mình hay trả lời bài viết thêm nữa.  [ 74 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1 ... 3, 4, 5, 6, 7, 8  Trang kế tiếp

Múi giờ UTC + 7 Giờ


Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
cron


Protected by Anti-Spam ACP Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group
Vietnamese translation by nedka