Chào bạn, Hãy ĐĂNG KÝ hoặc ĐĂNG NHẬP để tham gia cùng chúng tôi

WWW.DVDVOTHUAT.COM/FORUM

Diễn đàn của website DVD Võ Thuật

Thông báo

DIỄN ĐÀN DVD VÕ THUẬT ĐỔI GIAO DIỆN MỚI !!

Hôm nay, 19/11/17, 8:59

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Chủ đề này đã bị khóa, bạn không thể sửa những bài viết của mình hay trả lời bài viết thêm nữa.  [ 74 bài viết ]  Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5 ... 8  Trang kế tiếp
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 5:34 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết
Nhận xét và đề nghị
Vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn phạm tội giết người, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, cưỡng đọat tài sản, tổ chức đánh bạc và đánh bạc, đưa nhận hối lộ… là một vụ án đặc biệt nghiêm trọng gây hậu quả lớn, hoạt động có tổ chức diễn ra trong một thời gian dài, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn rộng, nhiều đối tượng, tội phạm hoạt động lộng hành trong thời gian dài ở nhiều tỉnh, thành phố khác nhau. Vụ án được lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cán bộ viên chức nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm.



Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có đủ cơ sở kết luận Trương Văn Cam là một đối tượng cầm đầu, chỉ huy các hoạt động giết người, tổ chức đánh bạc, đưa nhận hối lộ, che giấu tội phạm bằng nhiều thủ đoạn đê hèn, tinh vi và xảo quyệt. Trương Văn Cam đã quy tụ, nuôi dưỡng được một số lượng lớn đàn em thân tín có nhiều tiền án tiền sự ở nhiều địa bàn tỉnh, thành phố có phân công và chỉ đạo cho từng tên hoạt động tội phạm ở các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các hoạt động thanh toán nhau theo kiểu xã hội đen như giết người, cố ý gây thương tích, thu lợi bất chính từ hệ thống sòng bạc là nguồn tài chính quan trọng của tổ chức tội phạm của Trương Văn Cam.
Để các hoạt động tội phạm tồn tại lâu dài, ngoài việc tổ chức chặt chẽ, bọn chúng còn rất chú trọng dùng nguồn tiền thu được qua các sòng bạc để mua chuộc, hối lộ cho một số cán bộ biến chất trong các cơ quan thi hành pháp luật và cơ quan báo chí tuyên truyền để bao che cho hoạt động phạm tội của chúng. Cụ thể khi bị bắt năm 1995, Trương Văn Cam và gia đình gồm vợ con đã dùng một số tiền lớn (1,3 tỷ đồng) để hối lộ một số viên chức nhà nước và được tha trước thời hạn. Sau khi được tha, Trương Văn Cam tiếp tục các hoạt động phạm tội cờ bạc và đã sử dụng số tiền bảo kê thu của các sòng bạc xóc đĩa (2 triệu đồng /ngày) để y ăn nhậu, ngoại giao, lo lót cho một số cán bộ làm nhiệm vụ chống tệ nạn xã hội bị tha hoá biến chất. Đồng bọn của y là Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) và Nguyễn Văn Thọ (Thọ “Đại Úy”) sử dụng tiền của sòng bạc 4,5 triệu đồng/ngày để hối lộ cho một số cán bộ biến chất và cho một số hộ dân ở khu vực sòng bạc để bao che cho sòng bạc họat động.
Băng nhóm tội phạm do Trương Văn Cam cầm đầu đã móc nối và làm tha hoá nhiều cán bộ trong bộ máy cơ quan Nhà nước các cấp, các cơ quan bảo vệ pháp luật. Có nhiều cán bộ công an, kiểm sát và cán bộ một số ngành khác có liên quan, trong đó có cả một số cán bộ do Trung ương quản lý. Chính vì vậy, một số cán bộ trong các cơ quan Nhà nước như công an, kiểm sát, báo chí đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự như Trần Mai Hạnh, Phạm Sỹ Chiến, Dương Minh Ngọc, Võ Văn Tâm, Lê Minh Hùng, Trần Văn Chính, Vũ Quốc Đạt, Đặng Văn Hoãn, Huỳnh Văn Long, Nguyễn Bá Thanh, Huỳnh Công Thành về tội nhận hối lộ; Nguyễn Mạnh Trung, Dương Minh Ngọc, Võ Quang Thắng về tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Bùi Quốc Huy, Lâm Xuân Phát về tội thiếu trách nhiệm; Hoàng Linh về tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đọat tài sản… Sự sa sút phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật là bài học sâu sắc cho các cấp, các ngành, các địa phương về công tác phòng, chống tội phạm, công tác tổ chức cán bộ, bảo vệ nội bộ.
Đối với hành vi phạm tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của Lê Quốc Lâm; hành vi tổ chức đánh bạc của Trần Quốc Sơn (Sơn “Bạch Tạng”) tham gia sòng bạc của Vịnh ngựa ở 171 đường Bưởi, quận Cầu Giấy, Hà Nội và Nguyễn Văn Lắn tham gia tổ chức đánh bạc ở quận 4, TP HCM với Phạm Văn Lắm và Nguyễn Văn Thọ (Thọ “Đại Uý”) do không có tài liệu chứng minh liên quan đến hành vi phạm tội của Trương Văn Cam và đồng bọn nên đã có quyết định tách vụ án nhập vào các vụ án có liên quan đến hành vi của các đối tượng này để kết luận điều tra đề nghị xử lý.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã phát hiện và khởi tố thêm một số hành vi phạm tội khác như vụ đánh bài ở 171 đường Bưởi, Cầu Giấy, Hà Nội gồm 8 đối tượng Nguyễn Thanh Bình (Bình “Bồ”), Nguyễn Minh Thắng (Thắng “Mẩu”), Trần Văn Vinh (Vinh “Biên”), Trần Thị Tuyết Hương, Nguyễn Tiến Vịnh (Vịnh “Ngựa”), Nguyễn Chí Hùng, Lưu Văn Thắng, Nguyễn Văn Hải; vụ Huỳnh Văn Hải (Hải “Hấp”) cố ý gây thương tích cho anh Nguyễn Đức Mậu; vụ Nguyễn Văn Sinh lừa đảo chiếm đọat tài sản (chiếm đọat 5 triệu đồng của Tường Linh – vợ Hoàng Linh); phục hồi điều tra vụ Nguyễn Duy Dũng (Dũng “Đui”) mua bán ma tuý tại khách sạn Embassy- TP HCM và vụ Nguyễn Văn Lắn cố ý gây thương tích (dùng dao chém anh Phạm Ngọc Cường và Huỳnh Nhật). Sau khi điều tra thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của Trương Văn Cam, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an đề nghị kết luận điều tra xử lý riêng.
Các bị can Trần Quốc Dân và Triệu Tô Hà khai đã tham gia đánh bạc xập xám tại sòng bạc của Nguyễn Minh Nghĩa (Nghĩa “Trà Đá”), Cơ quan Điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an quận 1 khởi tố điều tra theo vụ án khác. Hành vi cố ý gây thương tích của Nguyễn Xuân Trường chuyển cho Công an thành phố Hà Nội tiếp tục điều tra, xử lý riêng.
Một số bị can trong vụ án này còn là bị can của vụ án khác như: Lương Cẩm Huy, Nguyễn Duy Dũng, Nguyễn Hiếu Minh, Trương Mạnh Long (hiện đang bị tạm giam trong các vụ án khác), Nguyễn Thị Kiệm có hành vi cho vay lãi nặng trong các sòng bạc và tham gia đánh bạc tại sòng bạc của Nguyễn Văn Lắn (Lũng “Đầu Bò”), Phạm Thị Thảo (Thảo “Tẻo”), Trịnh Bá Hiếu (Ba Tê), Cơ quan Điều tra Bộ Công an đã phối hợp chuyển tài liệu cho Công an quận 4, Công an quận Gò Vấp để tiếp tục điều tra xử lý.
Đối với sòng bài ở quận 8 do Trương Văn Cam tổ chức: Trong thời gian sòng bạc ở quận 8 hoạt động, cơ quan điều tra xác định có 8 hộ trong hẻm 74 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 với đại diện của từng hộ là: Trương Hương, Trần Xuân, Trương Nga, Trần Tứ Kim, Lâm Tế Muội, Trương Tô Hà, Chung Lục, Lê Định Quốc (Lê Định Quốc đã khởi tố điều tra) đã nhận tiền của sòng bạc để không tố giác tội phạm. Cụ thể khi sòng bạc hoạt động, Tô Văn Tốt và Nguyễn Văn Nhã giao tiền cho Trương Thoại đi phân phát cho mỗi hộ 20.000 đồng/ngày. Xét hành vi nhận tiền của sòng bạc của những người nêu trên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan điều tra đã giao cho Công an quận 8 ra quyết định xử phạt hành chính, truy thu số tiền thu lợi bất chính và đưa ra kiểm điểm trước tổ dân phố.
Riêng tên Nguyễn Ngọc Chủy được bọn tổ chức sòng bạc thuê làm thầy cúng cho sòng bạc và đã giới thiệu một số con bạc đến sòng bạc đánh bạc. Cơ quan điều tra nhận thấy Nguyễn Ngọc Chủy tuổi cao, bị bệnh tim nặng nên không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Ba đối tượng Nguyễn Thị Ngọc Thư, Phạm Thị Mai Nga và Nguyễn Thị Quyến có mặt tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 ngày 9/10/2001 (lúc bắt quả tang) nhưng cơ quan điều tra không khởi tố hình sự vì không có hành vi đánh bạc. Riêng Trịnh Lang được Trương Thoại thuê bưng bê cơm nước nhưng mới làm thời gian ngắn nên Cơ quan điều tra xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Số tiền tạm giữ 1.250.000 đồng của Nguyễn Thị Ngọc Thư và 51.000 đồng của Trịnh Lang trong khi bắt giữ sòng bạc, Công an quận 8 đã nộp vào kho bạc nhà nước, đề nghị Toà ra quyết định trả lại cho Lang và Thư.
Một số tên tham gia góp vốn trong sòng bài và tham gia đánh bạc, nhưng chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên chưa điều tra xử lý được như: Long Thành, Trung Heo, Trung Đen, Thăng, Tuân, Nam, Liêm, Vân, Dung, Thân, Phát Con, Dũng Cận, Tý, Thành, thị Thảo, Chinh, Lâm Như Thiên (Việt kiều Canada), Khui (Việt kiều Canada), Dũng Đen, Tum, Lý, Hoàng, Hà… Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xác định xử lý sau.
Đối với vụ hối lộ tại quận 8: Trường hợp Nguyễn Ái Vĩnh (nguyên là cán bộ trực ban hình sự Công an phường 13, quận tuy có hành vi nhận hối lộ nhưng sớm nhận ra sai phạm, tự thú khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình và đồng bọn, giúp Cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ sự thật vụ án; tự giác nộp lại số tiền 8.200.000 đồng đã nhận của sòng bạc, xử lý hành chính là thỏa đáng nên không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với các trường hợp Nguyễn Văn Phương, Lê Kỳ Nam tuy có hành vi nhận hối lộ nhưng đã thành khẩn khai báo, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ sự thật vụ án, đã nộp lại đủ tiền thu lợi bất chính, đã bị xử lý hành chính tước danh hiệu Công an Nhân dân, xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với các trường hợp Lý Chí Thanh, Nguyễn Liêm Thảo, Phạm Văn Thắng tuy có nhận tiền hối lộ nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại số tiền thu lợi bất chính, xét thấy xử lý hành chính là thỏa đáng, không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với các trường hợp Nguyễn Văn Móng, Phạm Hùng Tuấn, Lê Thanh Hùng, Nguyễn Văn Đua tuy có nhận tiền nhưng không biết là tiền hối lộ của sòng bạc, đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Riêng các trường hợp Lê Ngọc Thanh, Huỳnh Chí Công, Nguyễn Văn Hường do chỉ có một lời khai về việc nhận tiền nên không có đủ cơ sở kết luận.
Việc đưa hối lộ để mua chuộc cán bộ công an địa phương cấp quận, phường bao che cho sòng bạc xóc đĩa thời gian sòng bạc hoạt động ở quận 8 từ năm 1999 đến 2000 do Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) thực hiện. Vì Tô Văn Tốt đã chết nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi sòng bạc hoạt động ở quận 9, quận 6 và nhà số 46/12 Âu Cơ (phường 9 quận Tân Bình), quá trình điều tra không xác định được việc đưa hối lộ.
Các đối tượng tham gia phạm tội như Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Thế Phát, Phạm Thái Hoà (Bò “Lục”), Nguyễn Văn Thắng (Thắng “Tài Dậu”), Hoàng Quốc Thắng (Thắng “Điếc”), Cô Đệ (Tư “Râu”), Trần Thị Anh Anh (tự Sơn), Phạm Thị Thu Trang, Nguyễn Anh Tuấn (Tuấn Tăng), Vương Tử (Xây) đã bỏ trốn, cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi đánh bạc và tham gia gây rối của Nguyễn Hữu Đại, xét thấy chưa cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên đề nghị chuyển xử lý hành chính.
Quá trình điều tra, hầu hết các bị can đều che giấu, không khai báo thành khẩn hành vi phạm tội gây khó khăn cho việc điều tra, nhất là hành vi đánh bạc. Chúng đều khai báo không đúng số tiền thắng thua trong sòng bạc và số tiền được ăn chia trong việc góp vốn làm “cái” và thu tiền xâu nên xác định hậu quả thiệt hại về thu nhập bất chính đối với từng tên rất khó khăn.
Vì những lẽ trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an quyết định:
Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến VKSND Tối cao đề nghị truy tố các bị can có tên dưới đây trước pháp luật, cụ thể như sau:
1. Trương Văn Cam (Năm Cam)
Tội giết người (điều 93 BLHS).
Tội cố ý gây thương tích (điều 104 BLHS).
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS).
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS).
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép (điều 275 BLHS)
2. Nguyễn Tuấn Hải (Nguyễn Tuấn Hải)
Tội giết người (điều 93 BLHS)
Cố ý gây thương tích (điều 104 BLHS)
Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (điều 230 BLHS)
3. Nguyễn Việt Hưng (Hưng “Chùa”, Hưng “Phinhon”)
Tội giết người (khoản O điều 93 BLHS)
Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (điều 230 BLHS).
4. Nguyễn Xuân Trường (Trường “Xoăn”)
Tội giết người (điểm O, khoản 1, điều 93 BLHS)
5. Lưu Tấn Nhơn (Lưu Bạch Đằng, Đằng Tây)
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
Tội tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng (điều 230 BLHS)
6. Nguyễn Thị Anh Thư
Tội không tố giác tội phạm (điều 314 BLHS)
7. Lê Duy Long (Long “Tây”)
Tội không tố giác tội phạm (điều 314 BLHS)
Tội cố ý gây thương tích (điều 104 BLHS)
8. Nguyễn Hữu Thịnh
Tội giết người (điều 93 BLHS)
9. Phạm Văn Minh (tức Minh “Bu”)
Tội giết người (điều 93 BLHS)
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
10. Bùi Anh Việt (tức Bảy Việt)
Tội giết người (điều 93 BLHS)
11. Văn Công Tiến (tức Khắc Sinh)
Tội giết người (điều 93 BLHS)
12. Hồ Thanh Tùng (Hai “Lợi”)
Tội giết người (điều 93 BLHS).
13. Từ Anh Kiệt (tức Út “Lùn”)
Tội giết người (điều 93 BLHS).
14. Nguyễn Hùng Cường (Cường “Anh”)
Tội giết người (điều 93 BLHS)
15. Trương Tấn Phi
Tội giết người (điều 93 BLHS)
16. Võ Song Toàn
Tội giết người (điều 93 BLHS)
17. Trần Dương
Tội giết người (điều 93 BLHS)
18. Nguyễn Hữu Chung
Tội giết người (điều 93 BLHS)
19. Taing Peng Chheu (Tư Miên)
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép (điều 275 BLHS)
20. Tôn Vĩnh Đắc (Long “Đầu Đinh”)
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (điều 291 BLHS).
Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép (điều 275 BLHS)
21. Nguyễn Thị Kim Yến
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
22. Nguyễn Tấn Lộc
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép (điều 275 BLHS)
23. Phan Thị Trúc
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
Cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
Che giấu tội phạm ( điều 313 BLHS)
24. Nguyễn Tuấn Hùng (Cường “Em”)
Tội không tố giác tội phạm (điều 314 BLHS)
25. Huỳnh Anh Tuấn (Hùng “Nhỏ”)
Tội không tố giác tội phạm (điều 314 BLHS)
26. Nguyễn Mạnh Trung
Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (điều 281 BLHS)
27. Đặng Hải Tương
Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án (điều 300 BLHS)
28. Lê Thị Hồng Ngọc
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
29. Lê Thị Kim Anh
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS).
Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép (điều 275 BLHS).
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
30. Dương Ngọc Hiệp (Hiệp “Phò Mã”)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
Tội cưỡng đọat tài sản (điều 135 BLHS).
Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS)
Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép (điều 275 BLHS)
31. Nguyễn Văn Nhã
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS).
32. Nguyễn Thành Thảo
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS).
33. Nguyễn Khánh Quốc
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (điều 194 BLHS)
Tội trốn khỏi nơi giam (điều 311 BLHS)
34. Tạ Đắc Lung
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
35. Triệu Tô Hà
Tội tổ chức đánh bạc và gá bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
36. Nguyễn Văn Dương
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
37. Bùi Viết Hùng
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
38. Trương Mạnh Long
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
39. Trần Xuân Cường
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
40. Lê Thị Thu Hà
Tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc (điều 249 BLHS)
41. Trần Duy Lai
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
42. Nguyễn Ngọc Chung
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
43. Lê Đình Bang
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
44. Nguyễn Thị Kim Hòa
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
45. Vũ Thế Khải
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
46. Đào Thế Minh
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
47. Vương Thanh
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
48. Trịnh Chảy
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
49. Trần Quốc Dân
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
50. Lương Cẩm Huy
Tội tổ chức đánh bạc và gá bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
51. Phạm Văn Lắm
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
52. Nguyễn Hoàng Khương
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
53. Trần Văn Lợi
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
54. Lê Thanh Mão
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
55. Kiều Văn Xường
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
56. Phạm Ngọc Kim
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
57. Đào Quang Cường
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
58. Trương Văn Lang
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
59. Tăng Văn Sên
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
60. Nguyễn Văn Nghĩa
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
61. Nguyễn Thị Kim Phượng
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
62. Nguyễn Văn Hơn
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
63. Nguyễn Thị Giang
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
64. Trương Thoại
Tội gá bạc (điều 249 BLHS)
65. Hà Gia Quyền
Tội gá bạc (điều 249 BLHS)
66. Nguyễn Thị Liên
Tội gá bạc (điều 249 BLHS)
67. Nguyễn Thị Dung
Tội gá bạc (điều 249 BLHS)
68. Nguyễn Thành Hiệp
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
69. Nguyễn Minh Tiến
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
70. Đặng Thị Bé
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
71. Mã Chung Phát
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
72. Lương Tiểu Chánh
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
73. Võ Thị Kim Hương
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
74. Nguyễn Hữu Đức
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
75. Nguyễn Thanh Tuấn
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
76. Nguyễn Văn Quang
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
77. Nguyễn Văn Quý
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
78. Đàm Nguyệt Hương
Tội gá bạc (điều 249 BLHS)
79. Lê Định Quốc
Tội gá bạc (điều 249 BLHS)
80. Bùi Thanh Tuấn
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
81. Trương Diệu Hán
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
82. Trần Thị Cẩm
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
83. Trần Văn Hên
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
84. Hồ Thị Út
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
85. Nguyễn Thị Thuỷ
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
86. Đặng Văn Chung
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
87. Lê Tấn Hổ
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
88. Đỗ Tuấn Khoa
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
89. Nguyễn Văn Lý
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
90. Nguyễn Duy Dũng
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
91. Nguyễn Hiếu Minh
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
92. Phạm Văn Phàn
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
93. Phạm Văn Đào
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
94. Trần Lệ Nguyên
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
95. Phạm Công Tuyến
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
96. Nguyễn Xuân Liệu
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
97. Lương Trung
Tội gá bạc (điều 249 BLHS)
98. Lý Minh Tòng
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
99. Võ Văn Tâm
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
100. Lê Minh Hùng
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
101. Trần Văn Chính
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
102. Vũ Quốc Đạt
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
103. Đặng Văn Hoản
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
104. Huỳnh Văn Long
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
105. Huỳnh Công Thành
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
106. Nguyễn Bá Thanh
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
107. Đoàn Minh Chánh (Tư Chánh)
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
108. Nguyễn Văn Sy (Bảy Sy)
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
109. Nguyễn Anh Minh (Cu Nhứt)
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (điều 230 BLHS)
110. Trương Hiền Bảo
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
111. Lê Văn Đại
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
112. Lưu Hồng Lâm
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
113. Hồ Việt Sử
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
114. Huỳnh Chí Đức
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
115. Nguyễn Văn Thành (Mười “Lù”)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
116. Hứa Tấn Bửu (Bò Nghé)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
117. Tiêu Quân (Hải “Ba Càng”)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
118. Nguyễn Chí Dũng (Dũng “Nội”)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
119. Ngô Quang Vinh (Man)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
120. Châu Phát Lai (Lai Anh)
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
121. Hứa Văn Em
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
122. Hồ Văn Nhị (Sang “Lùn”)
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
123. Phạm Minh Tâm
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
124. Huỳnh Phú Hải
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
125. Trần Tuấn Anh
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
126. Châu Đức Nghĩa
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
127. Võ Anh Dũng
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
128. Trần Văn Thuyết (Thuyết “Chăn Voi”)
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (điều 291 BLHS).
Tội bắt giữ người trái pháp luật (điều 123 BLHS)
129. Nguyễn Thập Nhất
Tội lợi dụng ảnh hưởng đốùi với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (điều 291 BLHS)
130. Trương Thị Lan
Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
131. Phạm Sỹ Chiến
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
132. Trần Mai Hạnh
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
Tội cố ý làm lộ bí mật công tác (điều 286 BLHS)
133. Bùi Quốc Huy
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (điều 285 BLHS)
134. Dương Minh Ngọc
Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS)
Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (điều 281 BLHS)
135. Võ Quang Thắng
Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ(Đ281 BLHS).
Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đọat tài sản (điều 280 BLHS).
136. Hoàng Linh
Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đọat tài sản (điều 280 BLHS).
Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (điều 281 BLHS).
137. Châu Phát Lai Em
Tội giết người (điều 101 BLHS 1985)
Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135BLHS)
138. Lâm Xuân Phát
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 220 BLHS 1985)
139. Châu Phát Út
Tội cố ý gây thương tích (điều 104 BLHS)
140. Nguyễn Trần Lam
Tội cố ý gây thương tích (điều 104 BLHS)
141. Đinh Tuấn Huy
Tội cố ý gây thương tích (điều 104 BLHS)
142. Nguyễn Bá Phong
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (điều 294 BLHS)
143. Nguyễn Minh Khánh (Khánh “Bà Mì”)
Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135BLHS)
144. Đỗ Đạt Giang
Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135BLHS)
145. Trần Văn Minh (Minh “Cuội”)
Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135BLHS)
146. Lê Văn Thơm (Thơm “Đui”)
Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135BLHS)
147. Trần Văn Tâm
Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135BLHS)
148. Nguyễn Kim Thịnh (Thịnh “Già”)
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
149. Đinh Văn Được
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
150. Đỗ Thị Phương Nga
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
151. Nguyễn Thị Phương Hải
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
152. Nguyễn Thị Kiệm
Tội tổ chức đánh bạc (điều 249 BLHS)
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
153. Hồ Văn Phú Ba
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
154. Trần Anh Tú
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
155. Phạm Thị Lượng
Tội đánh bạc (điều 248 BLHS)
Tội cho vay lãi nặng (điều 163 BLHS)
Vật chứng tạm giữ
- Tiền Việt Nam: 5.454.578.128 đồng
- Tiền ngân phiếu: 20 tờ x 1.000.000 đồng = 20.000.000 đồng
- 98.418 USD
- 20.000 AUD
- Vàng SJC: 155,3 lượng
- Vàng trang sức: 22 lượng, 1 dây chuyền, 1 dây, 1 lắc, 1 nhẫn, 1 vòng đá.
- Ôtô: 9 chiếc
- Xe máy: 12 chiếc
- Đồng hồ đeo tay: 8 chiếc
- Điện thoại di động: 43 chiếc
- CPU vi tính: 5 chiếc
- Máy vi tính xách tay: 1 chiếc
- Máy quay Video: 1 chiếc
- Ổ đĩa cứng vi tính: 2 chiếc
- Ti vi 25in: 2 chiếc
- Đầu truyền hình cáp: 1 chiếc
- Kính đeo mắt: 2 chiếc
- Đĩa mềm vi tính: 29 chiếc
- Đĩa CD: 80 chiếc
- Đĩa cứng: 15 chiếc
- Rượu các loại : 124 chai
- Thuốc lá ngoại: 356 bao
- Máy ảnh: 1 chiếc
- La bàn: 1 chiếc
- Dao các loại: 3 chiếc
- Súng hơi cay: 1 súng, 2 băng đạn, 9 viên
- Súng săn: 1 viên và 14 viên đạn
- Áo chống đạn: 1 chiếc
- Bộ bài tây: 196 bộ
- Kính chiếu hậu xe máy: 23
- Bao cao su: 21
- Côn nhị khúc: 11
- Két sắt: 1
- Máy chơi game: 1 chiếc, 1 kg tiền xu
- Băng Video: 22
- Thuốc gây nghiện: 7 viên, 1,7 g Heroin
- Con dấu các loại: 14
- Phụ tùng sửa xe máy: 7
- Chìa khoá các loại: 13
- Ví da: 1
- Quần áo rằn ri: 2 bộ
- Dây nilon: 2 cuộn
- Máy ghi âm: 1 chiếc, 1 cuốn băng
- Máy phát điện: 1
- Máy kiểm tra tiền: 1
- Phỉnh đánh bạc: 389
Tài sản kê biên
- 38 căn nhà
- 19.363m2 đất
- 31 máy lạnh
- 9 tivi 29 in
- 1 máy phát điện
Kèm theo bản kết luận điều tra này là hồ sơ vụ án, được đánh số bút lục theo thứ tự như sau:
- Tập tố tụng hình sự gồm 270 trang, được đánh STT từ 1 đến 270
- Vụ giết Vũ Hoàng Dung (Dung Hà) có ký hiệu V1, gồm 11 tập, được đánh STT từ 1 đến 1369.
- Vụ giết Phan Lê Sơn, có ký hiệu V2, gồm 2 tập, được đánh STT từ 1 đến 3169.
- Vụ cố ý gây thương tích Lê Ngọc Lâm, có ký hiệu V3, gồm 1 tập, được đánh STT từ 1 đến 224.
- Vụ tổ chức đánh bạc tại quận 8, có ký hiệu V4, gồm 74 tập, được đánh STT từ 1 đến 3911.
- Vụ đưa hối lộ tại quận 8, có ký hiệu V5, gồm 17 tập, được đánh STT từ 1 đến 931
- Vụ tổ chức đánh bạc do C16 thụ lý, có ký hiệu V6, gồm 24 tập, được đánh STT từ 1 đến 2970.
- Vụ hối lộ Trương Văn Cam, Thuyết, Nhất, Tôn Vĩnh Đắc, Trần Mai Hạnh, Phạm Sỹ Chiến và thiếu trách nhiệm của Bùi Quốc Huy có ký hiệu V7.
- Vụ Minh Ngọc, Quang Thắng có ký hiệu V8.
- Vụ Hoàng Linh, có ký hiệu V9, gồm 01 tập, được đánh STT từ 01 đến 144.
- Giết Đổng Chí Nam, có ký hiệu V10, gồm 4 tập, được đánh STT từ 1 đến 318.
- Châu Phát Út chém Trát Minh Dũng và Trần Văn Minh, ký hiệu V11, gồm 03 tập, được đánh STT từ 1 đến 434.
- Vụ Lê Duy Long, có ký hiệu V12, gồm 1 tập, được đánh STT từ 1 đến 126.
- Vụ Nguyễn Tuấn Hải cố ý gây thương tích, có ký hiệu V13, gồm 1 tập, được đánh STT từ 1 đến 118.
- Vụ cưỡng đọat, có ký hiệu V14, gồm 7 tập, được đánh STT từ 1 đến 1011.
- Vụ cho vay lãi nặng, có ký hiệu V15, gồm 14 tập, được đánh STT từ 1 đến 1518.
- Vụ Trần Văn Thuyết bắt, giữ người trái pháp luật, có ký hiệu V16, gồm 1 tập, được đánh STT từ 1 đến 122.
Kết thúc phiên tòa Năm Cam: 6 án tử hình
Các bị cáo ra khỏi toà sau khi nghe tuyên án.
14h chiều 5/5, bản án của phiên tòa hình sự lớn nhất trong lịch sử tố tụng Việt Nam đã được tuyên tại TAND TP HCM. Năm Cam và 5 bị cáo khác lĩnh án tử hình. Trần Mai Hạnh 10 năm tù, Phạm Sĩ Chiến 6 năm, Bùi Quốc Huy 4 năm.
Nhân danh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, HĐXX quyết định:
Tuyên phạt Trương Văn Cam tử hình về tội giết người trong vụ án giết Dung Hà, tử hình về tội đưa hối lộ, 15 năm tù về tội cố ý gây thương tích trong vụ tạt axit Lâm “Chín Ngón”, 7 năm tù về tội đánh bạc, 10 năm tù về tội tổ chức đánh bạc, 5 năm tù về tội tổ chức đưa người khác trốn đi nước ngoài, 5 năm tù về tội che giấu tội phạm. Tổng hợp hình phạt với 7 tội danh là tử hình.
Trong vụ án giết Dung Hà, cùng lĩnh án chết với kẻ chủ mưu Trương Văn Cam còn có bị cáo Nguyễn Việt Hưng – người trực tiếp nổ súng. Đồng phạm với vai trò giúp sức là Nguyễn Xuân Trường, lĩnh án tù chung thân. Tương tự, Nguyễn Tuấn Hải bị chung thân về tội giết người, 2 năm tù về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Ngoài ra Hải “Bánh” còn chịu hình phạt 1 năm tù trong vụ cố ý gây thương tích tại quán ăn Tân Hải Vân, và đang phải thụ án 30 tháng tù giam trong bản án trước đó do TAND tỉnh Đồng Nai tuyên. Tổng hợp hình phạt, Hải chịu án chung thân.
Vụ án giết hại cảnh sát hình sự Phan Lê Sơn và anh Hồ Phước Hưng, 3 bị cáo lĩnh án tử hình gồm Nguyễn Hữu Thịnh (vai trò chủ mưu, cầm đầu, và tích cực đâm chém), Hồ Thanh Tùng và Phạm Văn Minh (tích cực tham gia gây án). Ngoài ra Minh còn bị thêm 6 năm tù về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Cũng trong vụ án gây chấn động dư luận này, 2 bị cáo khác là Bùi Anh Việt, Văn Công Tiến cùng bị tuyên phạm tội giết với án tù chung thân. 6 đồng phạm của chúng lĩnh án 8-16 năm tù.
Liên quan đến vụ này, bị cáo Đặng Hải Tương, nguyên điều tra viên thành phố, lĩnh án 3 năm tù về tội làm sai lệch hồ sơ vụ án. Nguyên trưởng Phòng Cảnh sát điều tra, bị cáo Nguyễn Mạnh Trung lĩnh án 5 tù về tội lợi dụng chức vụ quyền hạn. Nhiều bị cáo khác như Lê Thị Hồng Ngọc, Lê Thị Kim Anh, Tô Vĩnh Đắc… và cả Năm Cam lĩnh án tù về tội che giấu tội phạm, tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép. Cô vợ hờ Kim Anh của Nguyễn Mạnh Trung còn bị phạt tổng cộng 5 năm tù về các tội không tố giác tội phạm, đánh bạc, tổ chức đánh bạc, tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép.
Châu Phát Lai Em lĩnh án tử hình về tội giết người trong vụ án Đổng Chí Nam. Liên quan trách nhiệm bỏ lọt tội phạm, làm mất hồ sơ của vụ án xảy ra 15 năm trước này, các ông Nguyễn Minh Tuân (nguyên điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM) và Lâm Xuân Phát (nguyên kiểm sát viên VKSND thành phố) được rút quyết định truy tố, với lý do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Lai Em còn bị truy tố về hành vi cưỡng đoạt tài sản tại chợ cá Cầu Ông Lãnh. Tuy nhiên HĐXX nhận thấy chưa đủ cơ sở buộc tội, nên trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Nhóm các bị cáo bị truy tố về tội đưa hối lộ, ngoài Trương Văn Cam lĩnh án tử hình còn có Trần Văn Thuyết – “công trình sư” giúp gia đình Năm Cam chạy tội cho y khi bị bắt cải tạo tập trung năm 1995. Vì hành vi này, Thuyết “Buôn Vua” lĩnh án 20 năm tù, và 7 năm tù về tội lợi dụng ảnh hưởng người có chức vụ quyền hạn để trục lợi – tổng hợp là 20 năm tù. Vợ Năm Cam là Phan Thị Trúc cũng lĩnh án 20 năm tù về tội đưa hối lộ. Bà ta còn bị phạt 2 năm tù về tội che giấu tội phạm, 3 năm tù tội cho vay lãi nặng, tổng hợp hình phạt là 20 năm tù. Con rể Năm Cam, Dương Ngọc Hiệp cũng lĩnh án tổng hợp 20 năm tù cho các tội đưa hối lộ (20 năm tù), che giấu tội phạm (3 năm tù), không tố giác tội phạm (1 năm tù), tổ chức người khác đi nước ngoài (3 năm tù). Hiệp “Phò Mã” được HĐXX tuyên không phạm tội cưỡng đoạt tài sản. Trước đó trong cáo trạng, Hiệp bị cáo buộc quỵt tiền ở khách sạn Phong Phú. Nhưng tới phiên tòa chủ khách sạn đã rút lại lời tố cáo này.
Về hành vi đưa hối lộ cho nhiều cảnh sát để truy trì hoạt động cờ bạc của tổ chức Năm Cam, bị cáo Nguyễn Văn Nhã bị tù chung thân. Tổng hợp các hình phạt về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc, Nhã phải chịu án chung thân. Đồng phạm Nguyễn Khánh Quốc 13 năm tù về tội đưa hối lộ, 3 năm đánh bạc, 7 năm tổ chức đánh bạc, 1 năm tù trốn khỏi nơi giam – 23 năm tù. Quốc còn “nợ” bản án hơn 4 năm tù của TAND huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, vì vậy tổng hợp 2 bản án là hơn 27 năm tù. Các tay chân khác của Năm Cam là Tạ Đắc Lung, Nguyễn Thành Thảo, Triệu Tô Hà, Nguyễn Trung Liệu… cũng phải chịu hình phạt 10-15 năm tù về tội đưa hối lộ. Hầu hết họ còn phải chịu thêm án tù về 2 tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc.
Trong nhóm bị cáo nguyên là cán bộ cao cấp, Phạm Sĩ Chiến bị phạt 6 năm tù, Trần Mai Hạnh 10 năm tù – cùng về hành vi nhận hối lộ của gia đình Năm Cam thời điểm “ông trùm” bị bắt cải tạo giam giữ năm 1995. Nguyên phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam được rút truy tố tội làm lộ bí mật công tác. Bị cáo Bùi Quốc Huy có trách nhiệm lớn khi để Năm Cam hoành hành suốt thời gian dài ở TP HCM, và hàng loạt cán bộ dưới quyền sa ngã, bị tổ chức Năm Cam thao túng. Vì vậy nguyên ủy viên trung ương này bị phạt 4 năm tù về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Các bị cáo trên còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ tại cơ quan nhà nước trong thời hạn 5 năm sau khi mãn hạn tù.
Cũng về hành vi nhận hối lộ còn có một loạt bị cáo nguyên là công an TP HCM. Như Dương Minh Ngọc lĩnh án 6 năm tù (về tội nhận hối lộ và tội lợi dụng chức vụ quyền hạn), Võ Văn Tâm bị phạt 4 năm tù, Lê Minh Hùng 4 năm tù, Trần Văn Chính 4 năm tù, Vũ Quốc Đạt 3 năm tù, Đặng Văn Quảng 3 năm tù…
Hai bị cáo nguyên là nhà báo là Hoàng Linh lĩnh án 7 năm tù về tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, 5 năm tù tội lợi chúng chức quyền hạn trong khi thi hành công vụ – tổng hợp hình phạt 12 năm tù. Võ Quang Thắng bị phạt 6 năm tù về tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, 4 năm tù tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ – tổng hợp hình phạt 10 năm tù. Còn nguyên trưởng Phòng Kiểm sát giam giữ cải tạo VKSND Hà Nội Nguyễn Thập Nhất lĩnh án 5 năm tù về tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ để trục lợi.
Về các vụ án cố ý gây thương tích, cưỡng đoạt tài sản do nhiều đối tượng trong tổ chức Năm Cam gây ra, HĐXX tuyên phạt Châu Phát Lai Út 14 năm tù, Nguyễn Trần Lam 6 năm tù, Đinh Tuấn Huy 6 năm tù cùng về tội cố ý gây thương tích (chém anh Trần Văn Minh và Trát Minh Dũng). Cũng trong vụ án này, nguyên viện trưởng VKSND quận 1 Nguyễn Bá Phong lĩnh án 2 năm tù về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội.
Một số đàn em của Năm Cam bị phạt tù về tội cưỡng đoạt tài sản, như Nguyễn Minh Khánh 5 năm tù, Trần Văn Tâm 2 năm tù… Riêng vụ án cưỡng đoạt tài sản của bị cáo Trần Văn Minh và Đỗ Đạt Giang, HĐXX tuyên trả hồ sơ điều tra bổ sung. Các bị cáo tiếp tục bị tạm giam để điều tra.
Trong nhóm các bị cáo về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc, Trần Lệ Nguyên thoát khỏi án tù giam, được hưởng án treo 3 năm và 3 năm thử thách. Nhiều bị cáo khác bị tuyên phạm cả hai tội, như Bùi Anh Đức Hùng hình phạt tổng hợp 8 năm tù; Trương Mạnh Long 7 năm tù; Phạm Văn Lắm 5 năm tù. Gần 70 bị cáo khác bị phạt tù. Tuy nhiên tổng hợp hình phạt thường chỉ dưới 8 năm tù, hoặc phải cho hưởng án treo từ 3 năm tù trở xuống, bởi khung hình phạt với tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc rất thấp.
Tương tự, hơn 10 bị cáo lĩnh án về tội cho vay lãi nặng. Như Nguyễn Thị Kiệm 6 năm tù; Châu Phát Lai Anh bị 8 năm tù về 2 tội đánh bạc và cho vay lãi nặng, Phạm Thị Lượng 2 năm án treo (tổng hợp với tội đánh bạc thành 3 năm án treo); Đỗ Phương Nga 1 năm tù (tổng hợp với bản án khác của TAND TP HCM thành 3 năm 6 tháng tù); Nguyễn Thị Phương Hải 1 năm án treo.
Một số bị cáo được trả tự do ngay tại tòa, với bản án đúng bằng số ngày đã bị tạm giam: Đỗ Tuấn Khoa, hình phạt 1 năm 7 tháng 26 ngày; Hà Gia Quyền phạt tù 1 năm 4 tháng 28 ngày, Nguyễn Kim Thịnh hình phạt tù 1 năm 4 tháng 28 ngày, Nguyễn Thị Anh Thư 1 năm 5 tháng 20 ngày tù, Châu Đức Nghĩa 1 năm 5 tháng 14 ngày tù.
Cũng trong phần hình sự, HĐXX còn tuyên phạt tiền bổ sung hơn 1,1 tỷ đồng với các bị cáo Năm Cam, Dương Ngọc Hiệp, Trương Hiền Bảo… Các bị cáo như Trần Văn Thuyết bị phạt tiền 27 triệu đồng và 59.000 USD, Phạm Sĩ Chiến nộp phạt 27 triệu đồng, Trần Mai Hạnh 8.500 USD. Hai cựu quan chức cao cấp này bị cấm đảm nhiệm chức vụ trong cơ quan nhà nước trong thời gian 5 năm sau khi mãn hạn tù. Rất nhiều bị cáo khác phải chịu hình phạt bổ sung này.
HĐXX yêu cầu tiếp tục tạm giam với số bị cáo lĩnh án tù để đảm bảo thi hành án, giao các bị cáo được hưởng án treo cho địa phương giám sát trong thời gian thử thách.
Về phần dân sự, HĐXX buộc Trương Văn Cam bồi thường cho nạn nhân Lê Ngọc Lâm (Lâm “Chín Ngón”) hơn 400 triệu đồng so với gần 2 tỷ đồng gia đình ông Lâm yêu cầu. Bị cáo trong vụ Phan Lê Sơn liên đới trách nhiệm bồi thường cho bà Lê Thị Hạnh (mẹ Sơn) 60 triệu đồng, với số tiền cấp dưỡng 250.000 đồng/tháng. Trước đó, bà Hạnh cùng luật sư yêu cầu bồi thường 725 triệu đồng.
Tòa tiếp tục kê biên nhiều tài sản giá trị lớn để đảm bảo thi hành án. Một số tài sản không liên quan đến vụ án được trả lại cho chủ sở hữu.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 5:35 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết
Lý lịch Năm Cam


Năm Cam (1948 – 2004) tên khai sinh: Trương Văn Cam là một trùm xã hội đen ở Việt Nam, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm Cam còn là bị cáo chính trong Vụ án Năm Cam và đồng bọn nổi tiếng Việt Nam. Năm Cam và băng nhóm của mình trong quá trình bảo kê các nhà hàng karaoke và các tụ điểm đánh bạc ở Thành phố Hồ Chí Minh đã gây nhiều tội hình sự. Năm Cam bị tòa án Việt Nam tuyên có tội tháng 10 năm 2003 và bị tử hình vào tháng 6 năm 2004. Vụ xét xử Năm Cam và đồng bọn đã gây sự chú ý của dư luận Việt Nam và trên thế giới. Số lượng tội phạm ra hầu tòa là 155, ở mức kỷ lục. Vụ xử sơ thẩm kéo dài từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2003 với bản án dài hàng trăm trang. Việc phá được Vụ án Năm Cam được báo giới và chính quyền Việt Nam công nhận là một chiến công lớn trong phòng chống tội phạm. Bên cạnh đó vụ án cũng được coi là mang ý nghĩa chống tham nhũng. Mục lục Tuổi trẻ 2 Các trọng tội hình sự 2.1 Vụ án giết Dung Hà 2.2 Hối lộ quan chức 3 Tội danh và hình phạt 4 Chú thích 5 Liên kết ngoài [sửa] Tuổi trẻ Khi mới 15 tuổi, Năm Cam từng đâm chết một người trong một cuộc cãi cọ, và đã phải ngồi tù hai năm. Khi ra tù, Năm Cam nhập ngũ Quân lực Việt Nam Cộng hòa năm 1966. Sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ năm 1975, Năm Cam đã bị đưa đi học tập cải tạo. [sửa] Các trọng tội hình sự Năm Cam vẫn không sửa đổi sau lần cải tạo, bắt đầu mưu sinh bằng những việc phạm pháp. Năm 1994, Năm Cam lại bị bắt, nhưng được ân xá ngay năm sau đó nhờ Trần Mai Hạnh và Phạm Sỹ Chiến. Không chỉ hai người này, Năm Cam còn hối lộ cho các quan chức từ địa


Năm Cam


phương đến quan chức cấp cao hơn trong chính phủ để những công việc phạm pháp mình trót lọt. [sửa] Vụ án giết Dung Hà Một trong các trọng tội dẫn đến án tử hình dành cho Năm Cam là việc chủ mưu giết Vũ Hoàng Dung (tức Dung “hà” hay Dung Hà), một nữ trùm xã hội đen nổi tiếng gốc Hải Phòng sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và là đối thủ của Năm Cam. Năm Cam từng đề nghị Dung Hà hợp tác mở rộng mạng lưới cờ bạc ra miền Bắc nhưng Dung Hà lại có ý định thành lập băng đảng riêng. Năm Cam đã lệnh cho đàn em là Hải “bánh” giết Dung Hà, Hải “bánh” chỉ đạo cho đàn em của mình bắn chết Dung Hà trên phố vào đêm ngày 1 tháng 10 năm 2000. Năm Cam đã bị khởi tố do có liên quan đến cái chết của Dung Hà, nhưng đã hối lộ cho các quan chức điều tra để bưng bít vụ việc. [sửa] Hối lộ quan chức Bùi Quốc Huy, nguyên thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam, khi làm Giám đốc Sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1996-2001) đã nhận tiền để điều tra qua loa các sòng bài của Năm Cam. Năm Cam cũng hối lộ Trần Mai Hạnh, nguyên Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam. Việc ân xá cho Năm Cam năm 1995 là nhờ hối lộ Phạm Sỹ Chiến, nguyên Viện phó Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. [sửa] Tội danh và hình phạt Ngày 30 tháng 10 năm 2003, tại phiên xét xử sơ thẩm, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án Trương Văn Cam về 7 tội danh: giết người, hối lộ, cố ý gây thương tích, đánh bạc, tổ chức đánh bạc, che dấu tội phạm, tổ chức đưa người khác trốn đi nước ngoài. Tổng hợp hình phạt chung đối với 7 tội danh là tử hình. Năm Cam có đơn kháng cáo, tuy nhiên tại phiên xét xử phúc thẩm, mức hình phạt tổng hợp đối với Năm Cam không thay đổi. Ngày 3 tháng 6 năm 2004, bản án được thi hành. Trước đó Năm Cam đã gửi đơn xin ân xá đến Chủ tịch nước Trần Đức Lương nhưng đã bị bác đơn. Trước khi ra pháp trường Năm Cam đã viết lá thư cho con gái út hiện đang đi tu nói là rất xin lỗi và ân hận. Còn có 4 người bị xử tử chung với Năm Cam là Châu Phát Lai Em, Nguyễn Hữu Thịnh, Nguyễn Việt Hưng, Phạm Văn Minh.[1]
Thi hành án tử hình Năm Cam

Năm Cam khi nghe tuyên án tử hình.



Minh Bu trong phiên toà xét xử vụ án Năm Cam và đồng phạm.


5h30 sáng nay, Hội đồng thi hành án TP HCM đã tiến hành xử bắn Trương Văn Cam cùng 4 tử tù trong vụ án Năm Cam và đồng phạm tại trường bắn Thủ Đức, quận 9. Trước đó, vào lúc 3h30, “ông trùm” một thời đã viết thư gửi cô con gái đang đi tu – ni cô Ánh.
Ông Phan Tánh, Phó chánh án TAND TP HCM, cho VnExpress biết, Năm Cam trước khi đi ra pháp trường bình tĩnh và cho biết đã nhận ra tội lỗi của mình và xin được nhân dân tha tội. Lá thư Năm Cam viết hiện được toà án giữ để chuyển cho cô con gái út đang đi tu, có nội dung chủ yếu là xin lỗi gia đình, ân hận về những việc mình đã làm và dặn dò các con giữ gìn sức khoẻ, sống lành mạnh, không phạm pháp luật.
Trương Văn Cam bị HĐXX TAND Tối cao tại TP HCM kết án bảy tội danh, trong đó có hai án tử hình về tội giết người và đưa hối lộ.
Minh Bu trong phiên toà xét xử vụ án Năm Cam và đồng phạm.
Cũng trong sáng nay, Hội đồng thi hành án cũng tiến hành xử tử hình 4 phạm nhân khác là Châu Phát Lai Em (phạm tội giết người và đánh bạc, cá độ), Nguyễn Hữu Thịnh, Nguyễn Việt Hưng, Phạm Văn Minh (Minh Bu – chồng của Hà Trề) bị tử hình về tội giết người.
Các tử tù này nhận được quyết định bác đơn ân xá của Chủ tịch nước từ ngày 7/5. Tuy nhiên, cơ quan công an đã không thi hành án ngay mà cho họ cơ hội khai thêm những tình tiết mới. Theo cơ quan công an, các tử tù này đều khẳng định đã khai hết tội trạng và sẵn sàng chịu đựng hình phạt của pháp luật. Cũng chính vì có thêm thời gian nên Năm Cam và các đồng phạm chuẩn bị tâm lý tốt, không có phạm nhân nào bị sốc khi ra pháp trường.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 5:53 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết
Vụ giết Dung Hà



Để mở rộng uy tín trong giới giang hồ, Trương Văn Cam đã chỉ đạo đàn em thủ tiêu những kẻ không chịu quy phục. Trong đó, nổi lên vụ giết Vũ Hoàng Dung (tức Dung Hà, nữ quái cầm đầu băng nhóm tội phạm ở Hải Phòng vào làm ăn



tại TP HCM). Đây là đầu mối để cơ quan điều tra lần ra thế giới ngầm của "ông trùm".
Nội dung vụ án

A. Các vụ án do Trương Năm Cam và đồng bọn thực hiện

I. Vụ giết Vũ Hoàng Dung

Khoảng 0h25’ ngày 2/10/2000 tại trước số nhà 17 Bùi Thị Xuân, phường Bến Thành, Q1, TP HCM, khi Vũ Hoàng Dung (Dung Hà) ngồi uống nước với Nguyễn Thị Bích Thanh, Đoàn Thị Tú Anh và Nguyễn Thị Nghiệp thì có 1 thanh niên khoảng 26 tuổi, dáng người gầy, cắt tóc ngắn, mặc quần áo màu xanh đen, đi bộ từ đường Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) đến chỗ Vũ Hoàng Dung ngồi. Từ phía sau lưng Vũ Hoàng Dung, sát chỗ Dung ngồi, tên thanh niên này rút trong túi quần một khẩu súng ngắn kê vào đầu Dung bắn một phát. Súng nổ và Vũ Hoàng Dung gục xuống. Sau đó tên thanh niên chạy ra đường CMT8 nhảy lên xe Spacy màu trắng do một tên khác chở trốn thoát. Vũ Hoàng Dung được đưa vào Bệnh viện Sài Gòn cấp cứu nhưng đã chết trước khi đến bệnh viện (BL: V1 T1:36).

Công an TP HCM đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường số 225 ngày 2/10/2000 của Phòng kỹ thuật hình sự CA TP HCM kết luận: “Nơi xảy ra sự việc tại lề đường trước nhà số 17 Bùi Thị Xuân, P.Bến Thành, Q1, TP HCM. Lề đường rộng 5,3m, trên lề đường sát mặt đường có 1 cây cổ thụ, thân cây có đường kính 0,98 m. Nhà số 17 nằm phía bên phải đường Bùi Thị Xuân theo hướng đi tới đường Cách Mạng Tháng Tám và cách đường này khoảng 100 m. Đèn cao áp 2 bên đường sáng. Phía bên trái thân cây cổ thụ hướng ra mặt đường, dưới mặt đường có 1 vũng máu còn tươi, kích thước 1 x 0,75m, cách nhà số 17 là 4m, cách vỉa hè là 0,8m. Xung quanh vũng máu có 5 chiếc ghế nhựa màu nâu, có 4 ly uống nước (2 ly nằm trong khay, 2 ly nằm trên lề đường), 4 tạp chí có tựa đề Tình yêu hôn nhân gia đình, 2 xâu chìa khoá và 1 mũ nam kiểu vành rộng, chất liệu cứng, bên ngoài màu nâu, bên trong màu xanh. Cách vũng máu 5m trước nhà số 15 có 1 ghế nhựa màu nâu tình trạng ngã đổ” (BL: V1 T1: 213).

Tại biên bản khám nghiệm tử thi số 225 ngày 2/10/2000 của Phòng kỹ thuật hình sự CA TP HCM kết luận: “Khám ngoài: Tử thi 35 tuổi, cao khoảng 1,57m, ở thái dương cách trên đỉnh vành tai trái 4cm có 1 vết thủng da hình bầu dục kích thước 0,8cm x 0,6cm. Xung quanh vết thủng da bị bầm dập, tụ máu và ám khói đen mờ, bầm tụ máu ở má và gò má phải. Khám trong: Tụ máu dưới da đầu và cơ thái dương trái 6cm x 5cm, thủng xương thái dương không rõ hình, kích thước 1cm x 0,8cm. Nứt xương thái dương, xương trán và chẩm trái. Đường đạn đi xuyên qua bán cầu não trái làm vỡ nền sọ (thân bướm), tìm thấy đầu đạn 9 mm ở dưới da vùng gò má bên phải, chiều hướng đi từ trên xuống dưới, từ trái sang phải” (BL: V1 T1: 39).

Qua công tác điều tra đã xác định Vũ Hoàng Dung (tức Dung Hà), sinh 1965 tại Hải Phòng, ngụ tại 2/23 Trạng Trình, phường Phan Bội Châu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng là một đối tượng hình sự có nhiều tiền án (năm 1986 phạm tội cướp giật, Toà án quận Hồng Bàng xử 12 tháng tù giam; tháng 10/1990, đánh nhau gây mất trật tự trị an, Toà án Hồng Bàng xử 7 tháng tù giam, đến tháng 7/1991 được tha; tháng 4/1995, Toà án TP Hải Phòng xử 7 năm tù giam về tội tổ chức đánh bạc, đến 1/9/1998 được ân xá về địa phương) chuyên tổ chức các hoạt động cờ bạc, bảo kê tại địa bàn Hải Phòng và một số tỉnh phía Bắc, cầm đầu một băng nhóm tội phạm gồm các tên đàn em như Huỳnh Văn Hải (Hải "Hấp"), Nguyễn Duy Quân (Quân "Béo") (BL: V1 T1: 44).

Tháng 10/1998, Vũ Hoàng Dung vào TP HCM, được Trương Văn Cam nâng đỡ, Dung xin phép và được Trương Văn Cam cho mở sòng bài tại 17 Bùi Thị Xuân và thu tiền xâu một ngày được 70 triệu đồng. Nhưng vốn là loại lưu manh (dân anh chị), Vũ Hoàng Dung tiếp tục tổ chức các hoạt động bảo kê và cờ bạc đã gây ra nhiều vụ gây rối trật tự công cộng, quậy phá ở các vũ trường như Monaco, Phi Thuyền, tổ chức gây rối tại sòng bài của Ba Mậu ở 180 khu tập đoàn 45, Phường Long Bình, Biên Hoà, Đồng Nai, đang có ý đồ gây thanh thế lấn lướt các băng nhóm tội phạm khác giành địa bàn cờ bạc, bảo kê, gây ra nhiều mâu thuẫn giữa các băng nhóm tội phạm ở TP HCM, Hà Nội và Hải Phòng (BL: V1 T3: 342 - 343).

Cũng thời gian này, Vũ Hoàng Dung nghe tin Nguyễn Tuấn Hải mở tiệm cắt tóc ở TP HCM và được Trương Văn Cam đỡ đầu cho bảo kê vũ trường Phi Thuyền, nên tìm gặp Nguyễn Tuấn Hải và yêu cầu bắt buộc tất cả lợi nhuận thu được từ tiệm uốn tóc phải chi cho Vũ Hoàng Dung để phụ nuôi đàn em (vì đàn em của Dung ngoài Bắc vào rất đông). Vũ Hoàng Dung tuyên bố sẽ cho đàn em đi quậy phá và thu tiền bảo kê ở các nhà hàng, vũ trường bất kể đó là của ai. Vũ Hoàng Dung buộc Nguyễn Tuấn Hải phải gặp chủ vũ trường Phi Thuyền yêu cầu cho Dung đóng góp cổ phần 1.000.000 đồng nhưng hàng tháng phải chia bằng phần cổ đông cao nhất và buộc chủ Phi Thuyền phải mua căn nhà 21 Thủ Khoa Huân cho Nguyễn Tuấn Hải và Dung, nếu không Dung sẽ quậy phá vũ trường Phi Thuyền. Vũ Hoàng Dung còn yêu cầu Nguyễn Tuấn Hải về phụ mở sòng bạc, mỗi ngày hoạt động 3 ca và giao cho Hải phụ trông coi 1 ca. Nguyễn Tuấn Hải không thực hiện nên khoảng giữa tháng 9.2000, Vũ Hoàng Dung cho đàn em đổ 2 xô phân vào tiệm hớt tóc của Hải, buộc Hải phải gỡ máy lạnh ở tiệm cắt tóc đưa cho Vũ Hoàng Dung sử dụng. Ngày 21/9/2000, Vũ Hoàng Dung cho đàn em ném mắm tôm vào vũ trường Phi Thuyền. Trước đó, Vũ Hoàng Dung đã cho đàn em quậy phá vũ trường Monaco của Trương Văn Cam, tổ chức cho đàn em phá sòng bạc ở Đồng Nai, mục đích là quậy phá gây mất uy tín của Trương Văn Cam, gây tiếng vang ở TP.HCM để tạo uy thế của băng nhóm Hải Phòng tại TP HCM (BL: V1 T3: 342).

Đêm 29/9/2000, Vũ Hoàng Dung tiếp tục cho đàn em (khoảng 15 người) vào vũ trường Phi Thuyền tổ chức sinh nhật giả để quậy phá bằng cách ném mắm tôm vào vũ trường. Bảo vệ vũ trường có bắt đàn em của Vũ Hoàng Dung nên Dung yêu cầu Nguyễn Tuấn Hải đứng ra xin giùm. Khi Vũ Hoàng Dung ra về, tiếp tục yêu cầu Nguyễn Tuấn Hải buộc chủ Phi Thuyền cho Vũ Hoàng Dung hùn vốn 1 triệu đồng và được chia lợi nhuận bằng với cổ đông có phần hùn nhiều nhất, nếu không Dung sẽ quậy phá vũ trường Phi Thuyền. Do đó đã nhiều lần Hải kêu Vũ Hoàng Dung có gì gặp anh Trương Văn Cam để bàn và thương lượng (BL: V1 T3: 381-382).

Từ quan hệ và hành động quậy phá của Vũ Hoàng Dung (Dung Hà) đã thể hiện Dung không chịu dưới trướng Trương Văn Cam (quậy phá bất kể nơi đó là của ai), trực tiếp mâu thuẫn và va chạm quyền lợi là Nguyễn Tuấn Hải và những người đứng sau Nguyễn Tuấn Hải. Qua điều tra, thu thập tài liệu thấy nổi lên đối tượng Nguyễn Tuấn Hải (Hải "Bánh") sinh 1967 tại Hà Nội, HKTT: 36 Hàng Cót, phường Hàng Mã, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Nguyễn Tuấn Hải là đối tượng hình sự, đã có 6 tiền án tội trộm cắp, cố ý gây thương tích, gây rối…. đã từng đâm thuê chém mướn, sống phiêu bạt giang hồ nên quen biết nhiều băng nhóm “xã hội đen”. Tháng 11/1998, Hải mãn hạn tù được tha về nhưng không chịu làm ăn lương thiện, tiếp tục tụ tập băng nhóm bảo kê các nhà hàng, vũ trường ở Hà Nội.

Trong băng nhóm của Nguyễn Tuấn Hải có Nguyễn Thế Phát ở 207 Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Nguyễn Xuân Trường ở 28 tổ 7, Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Hà Nội; Nguyễn Việt Hưng ở 9A Lê Quý Đôn, P.Bạch Đằng, Hai Bà Trưng, Hà Nội; Lê Duy Long ở F52 B19, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội là các đối tượng đã có nhiều tiền án, tiền sự về tội cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, được Nguyễn Tuấn Hải tin tưởng - hiện cũng đang hoạt động trên địa bàn TP HCM dưới vỏ bọc kinh doanh quán nhậu. Hưng, Trường và Phát đang ở nhà thuê tại 36 Lô 1, chung cư Lý Thái Tổ (Nguyễn Thiện Thuật), P1, Q3, TP HCM còn Lê Duy Long và Nguyễn Tuấn Hải ở tại 21 Thủ Khoa Huân, P.Bến Thành, Q1, TP HCM (BL: V1 T4: 542 - 544).

Do thường xuyên vào TP HCM, quen biết nhiều băng nhóm, trong đó có Trương Văn Cam (Năm Cam), trùm băng nhóm tội phạm tại TP HCM và Vũ Hoàng Dung (Dung Hà). Hiện Nguyễn Tuấn Hải được Trương Văn Cam đưa vào làm bảo kê cho vũ trường Phi Thuyền tại 34 Tôn Đức Thắng, Q1, TP.HCM. Chính vũ trường này đã bị Vũ Hoàng Dung cùng bọn đàn em của Dung đến quậy phá hai lần vào ngày 21/9/2000 và ngày 29/9/2000, vứt phân người, chuột chết, mắm tôm… vào vũ trường. Với hành động ngang tàng, quậy phá xem thường tất cả củaVũ Hoàng Dung, những người có quyền lợi tại vũ trường bị hạ nhục. Trương Văn Cam và Nguyễn Tuấn Hải rất căm phẫn hành động của Vũ Hoàng Dung.

Trong bảng thanh toán cước phí các cuộc điện thoại số máy 091.239889 của Hải thấy: Trước và sau thời điểm Vũ Hoàng Dung bị bắn lúc 0h25’ ngày 2/10/2000, máy điện thoại của Nguyễn Tuấn Hải liên tục điện thoại cho các số máy của các đối tượng nghi vấn và ở quanh khu vực hiện trường vụ án, trong đó có các cuộc điện thoại của Trương Văn Cam (số 090.936711) gọi vào máy điện thoại của Nguyễn Tuấn Hải lúc 23h06’59” và Nguyễn Tuấn Hải gọi vào máy của Trương Văn Cam lúc 16h32’06” (BL: V1 T10: 1073). Chiếc xe Spacy chở hung thủ gây án có đặc điểm giống chiếc xe của Nguyễn Thị Anh Thư là bồ của Nguyễn Tuấn Hải.

Trong khi Cơ quan CSĐT đang tập trung thu thập tài liệu, chứng cứ về Nguyễn Tuấn Hải thì ngày 24/5/2001, y đã gây ra vụ gây rối trật tự công cộng tại quán ăn Tân Hải Vân (đối diện quán Dìn Ký) số 139 ter Nguyễn Trãi, P.Bến Thành Q1, TP HCM nên ngày 29/5/2001 Cơ quan CSĐT đã quyết định ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Tuấn Hải về tội gây rối TTCC để điều tra mở rộng vụ án giết Vũ Hoàng Dung và các hành vi liên quan khác. Sau một thời gian tập trung đấu tranh, đến ngày 5/12/2001, bị can Nguyễn Tuấn Hải đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của y và tố giác đồng bọn trong vụ án giết Dung Hà. Kiểm tra lời khai của Nguyễn Tuấn Hải phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được, Cơ quan CSĐT đã tiến hành ra lệnh bắt các đối tượng:

1. Trương Văn Cam

2. Lưu Tấn Nhơn

3. Nguyễn Thị Anh Thư

4. Lê Duy Long

5. Nguyễn Xuân Trường

6. Nguyễn Việt Hưng

7. Nguyễn Thế Phát.

Ngày 12/12/2001, Cơ quan CSĐT đã phối hợp nhiều lực lượng đã tiến hành ra quân đồng loạt để tổ chức thi hành lệnh bắt đối với Trương Văn Cam và đồng bọn, nhưng mới chỉ bắt được Trương Văn Cam, Lưu Tấn Nhơn, Nguyễn Thị Anh Thư và một số đối tượng liên quan khác. Còn Nguyễn Việt Hưng và Nguyễn Xuân Trường, sau khi gây án đã bỏ trốn. Nguyễn Xuân Trường trốn ra Nha Trang, Đà Nẵng, Huế rồi ra Hà Nội. Do bị truy lùng ráo riết, không có nơi ẩn nấp nên phải ra đầu thú ngày 11/1/2002 (BL: V1 T5: 596). Còn Nguyễn Việt Hưng trốn tại bãi đào vàng Khe Tăng thuộc xã Phước Thành, huyện Phước Sơn, Quảng Nam, bị lực lượng CSĐT – Bộ công an bắt giữ ngày 31/01/2002 (BL: V1 T4: 485 - 486).

Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Tuấn Hải, lời khai của đồng bọn, lời khai nhân chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết quả thu thập dấu vết và các tài liệu khác có đủ cơ sở xác định nội dung tình tiết vụ án xảy ra như sau:

Trương Văn Cam, sinh 1947 tại Quảng Nam, trú quán tại 107/38 Trương Định, P6, Q3, TP HCM là một đối tượng hình sự có nhiều tiền án, tiền sự từ thời kỳ trước năm 1975, đã có 1 tiền án về tội giết người, nhiều tiền án tiền sự về tội đánh bạc. Năm 1997, sau khi TTGDCT, được tha về đã không ăn năn hối cải mà tiếp tục tiến hành các hoạt động phạm tội với thủ đoạn tinh vi hơn, quy mô rộng và chặt chẽ hơn. Trong một thời gian dài đã tập hợp được nhiều đàn em thân tín trên địa bàn Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM và dùng vào các hoạt động phạm tội như: Trên lĩnh vực cờ bạc có Nguyễn Thành Thảo (Thảo ma), Tạ Đắc Lung (Lý Đôi), Nguyễn Chung Tâm….; trên lĩnh vực bảo kê, thanh toán nhau có Nguyễn Tuấn Hải (Hải "Bánh"), Vũ Hoàng Dung (Dung Hà), Châu Phát Lai Em, Trần Quốc Sơn (Sơn "Bạch Tạng"), Nguyễn Văn Thắng (Thắng "Tài Dậu"). Trương Văn Cam cũng đã dùng nguồn tiền bất chính thu được từ việc tổ chức cờ bạc để lo chi phí nuôi dưỡng đàn em và quan hệ (ngoại giao) với một số cán bộ có chức quyền, sa đoạ biến chất bao che cho hoạt động phạm tội của y. Đồng thời tiến hành mở các doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực nhà hàng, khách sạn tạo vỏ bọc chắc chắn cho bản thân. Từ đó uy thế của Trương Văn Cam trong giới giang hồ càng được củng cố, đàn em ở các địa bàn khác về TP HCM đều biết tiếng và nể trọng Trương Văn Cam. Khi bọn chúng muốn thực hiện các hành vi phạm tội thì đều phải hỏi và thông qua ý kiến của Trương Văn Cam, nếu Trương Văn Cam cho làm thì mới được thực hiện. Điển hình nhất là vào khoảng tháng 8.2000, do mâu thuẫn trong giới giang hồ giữa Sơn Bạch Tạng và Dung Hà, Sơn đã tổ chức cho 20 tên đàn em thân tín (một số đi bằng đường hàng không, một số đi tàu hoả từ Hà Nội vào TP HCM) mang theo vũ khí để thanh toán băng Vũ Hoàng Dung. Nhưng khi Trương Văn Cam nghe được tin này đã triệu tập cuộc họp tại nhà hàng Maxim gồm Trần Quốc Sơn, Thắng tài dậu, Minh sứt, Vũ Hoàng Dung và nhiều đàn em khác để dàn hoà (BL: V1 T2: 283 - 284). Tuy vậy, Trương Văn Cam cũng sẵn sàng tổ chức thanh toán bọn đàn em nếu như không nghe theo lệnh của y.

Tháng 10/1998, qua giới thiệu của Vũ Hoàng Dung (Dung Hà), Nguyễn Tuấn Hải biết Trương Văn Cam, từ đó có quan hệ thân thiết. Trương Văn Cam coi Hải là một trong những đàn em thân tín nhất. Tháng 8/2000, Nguyễn Tuấn Hải vào TP.HCM được Trương Văn Cam giúp đỡ cho Hải làm bảo kê vũ trường Phi Thuyền tại 34 Tôn Đức Thắng, Q1, TP.HCM, mỗi tháng Trương Văn Cam cho Nguyễn Tuấn Hải 10.000.000 đồng. Để che giấu hoạt động bảo kê, Nguyễn Tuấn Hải thuê căn nhà 21 Thủ Khoa Huân mở tiệm cắt tóc thanh nữ “Vân’s” nhằm hợp thức việc làm ăn bất chính (BL: V1 T3: 469 - 471). Để thực hiện cho các hành vi phạm tội, thanh toán nhau giữa các băng nhóm, đầu tháng 9/2000, Nguyễn Tuấn Hải đã nhờ Lê Duy Long (Long Tây) chở đến nhà Lưu Tấn Nhơn (Đằng Tây) tại 156 Nguyễn Phi Khanh, Q1, TP HCM mượn khẩu súng Rulo và 06 viên đạn. Khẩu súng này Nhơn mua tại bến cảng tàu biển ở Campuchia vào năm 1994 trong thời gian Nhơn làm thuỷ thủ tàu Vietranximex với giá 6 chỉ vàng và cất giữ trong người từ đó nhưng chưa kịp gây ra vụ án nào (BL: V1 T6: 667). Cũng thời gian này, Nguyễn Tuấn Hải còn mượn của Lê Quốc Lâm, ngụ tại 110B Trần Bình Trọng, P1, Q5, TP HCM một khẩu súng Col 45 đã cũ (hỏng kim hoả). Khẩu súng này, Lâm khai đã nhặt được tại một căn phòng ở của căn nhà số 6 Nguyễn Tất Thành, P12Q4, TP HCM (khu nhà tập thể của CA TP HCM).

Những sự việc trên của Vũ Hoàng Dung làm Trương Văn Cam bực mình nên Trương Văn Cam điện thoại cho Hải, yêu cầu Hải phải gặp Vũ Hoàng Dung dàn xếp cho êm xuôi để chấm dứt tình trạng Dung quậy phá. Trương Văn Cam nói với Nguyễn Tuấn Hải “chú gặp Dung Hà nói với nó là chỗ làm ăn của anh em, đừng quậy phá nữa, phải điều đình với nó để mà sống”, Nguyễn Tuấn Hải hỏi lại “nếu không điều đình được thì sao”, Trương Văn Cam trả lời “việc của chú là phải biết làm sao rồi, điều đình không được thì tự chú tính, nếu có xảy ra chuyện gì dính dáng đến pháp luật, chính quyền để anh lo, anh không muốn thấy mặt Dung Hà nữa…”. Nguyễn Tuấn Hải hiểu ý Trương Văn Cam và nói: “được rồi việc này để em làm”. Từ những lời nói như trên, Nguyễn Tuấn Hải hiểu là Trương Văn Cam đã đồng ý cho Hải giết Dung Hà. Nếu có dính dáng đến pháp luật thì có Trương Văn Cam lo (BL: V1 T2: 283).

Khoảng 24h ngày 29/9/2000, Nguyễn Tuấn Hải điện vào máy điện thoại của Nguyễn Thế Phát nhắn Hưng và Trường đến gặp, nói rõ việc Vũ Hoàng Dung mới quậy phá vũ trường và bàn cách trả thù. Ngay trong đêm ngày 29/9/2000, ngay sau khi Vũ Hoàng Dung cho đàn em quậy phá vũ trường Phi Thuyền, Nguyễn Tuấn Hải, Long tây, Hưng, Trường đi 1 xe Toyota biển số 52M-9330 (BL: V1 T10: 952 - 956) mượn của vũ trường Phi Thuyền do Long tây lái đi tìm Dung. Trên xe, Nguyễn Tuấn Hải đã mang theo 2 khẩu súng, Hải đưa cho Trường khẩu súng Rulo đã mượn của Nhơn, còn khẩu súng Col45 của Lâm thì Nguyễn Tuấn Hải giữ. Bọn chúng đều thể hiện ý chí quyết tâm bắn chết Vũ Hoàng Dung. Nguyễn Tuấn Hải nói “phải làm thịt con này thôi”. Hưng và Trường hỏi rõ đặc điểm nhận dạng của Dung, Hải nói “Dung Hà dáng người mập, tóc cắt ngắn”. Hưng nói “để đó em tính, chơi luôn nó ở nhà mới xây cho tiện”… nhưng đêm đó bọn chúng không thực hiện được vì không gặp được Vũ Hoàng Dung.

Ngày 30/9/2000, Hưng và Trường lại gặp Nguyễn Tuấn Hải bàn bạc. Ngay đêm đó, tại nhà nghỉ ở đường Nguyễn Thiện Thuật, Trường nói với Hưng “anh Hải nhờ tôi và ông bắn Dung Hà”, Hưng hỏi lại “ý ông thế nào”, Trường nói “việc này anh Hải nói chỉ có ông và tôi biết, anh Hải nhờ thì mình phải làm thôi” (BL: V1 T4: 530).

19h ngày 1/10/2000, Hưng và Trường đến tiệm uốn tóc của Nguyễn Tuấn Hải. Khoảng 20h, Hải gọi Hưng lên gác đưa khẩu súng Rulo có 6 viên đạn, hướng dẫn cho Hưng cách sử dụng súng và cho xem ảnhcủa Vũ Hoàng Dung. Sau đó cả bọn gồm Nguyễn Tuấn Hải, Long tây, Anh Thư, Hưng, Trường đến vũ trường Phi Thuyền uống rượu, Hưng uống 1 ly thì ngủ gục xuống bàn. Khoảng 23h30, Nguyễn Tuấn Hải gọi Hưng dậy, đưa điện thoại của Long tây cho Hưng, lấy xe Spacy của Anh Thư đưa cho Trường để Trường chở Hưng đi bắn Vũ Hoàng Dung. Trước khi Hưng và Trường đi bắn Dung, tại bãi gửi xe của vũ trường Phi Thuyền, Nguyễn Tuấn Hải dặn “khi tìm thấy Dung Hà thì 1 đứa vào bắn còn 1 đứa chờ ở ngoài vì xe Spacy của Anh Thư là xe biển số thật nên dễ bị lộ”. Sau khi nghe Nguyễn Tuấn Hải dặn, Trường chở Hưng bằng xe Spacy biển số 52H4 - 3321 (BL: V1 T7: 769 - 770) của Anh Thư đi từ vũ trường Phi Thuyền về ngã 6 Phù Đổng. Đến ngã ba Cách Mạng Tháng Tám – Bùi Thị Xuân thì rẽ trái, đi qua số nhà 17 Bùi Thị Xuân không nhìn thấyVũ Hoàng Dung, Trường lái xe chạy đến cây xăng trên đường Bùi Thị Xuân. Khi quay lại thì phát hiện thấy Vũ Hoàng Dung đang ngồi uống nước cùng với 3 người khác ở trước cửa nhà 17 Bùi Thị Xuân. Trường nói “Dung Hà kìa” và cho xe chạy ra đường Cách Mạng Tháng Tám, cách ngã 3 Cách Mạng Tháng Tám – Bùi Thị Xuân 50m phía bên phải đường thì dừng xe lại nói với Hưng “ông đưa súng cho tôi để tôi vào bắn”, Hưng nói “ông có vợ và con rồi, để tôi”. Nói xong Hưng đi bộ về phía Vũ Hoàng Dung ngồi, súng để ở túi quần bên phải, khi tới sát chỗ Dung ngồi thì rút súng kê sát vào đầu Dung từ trái qua phải bắn 1 phát, Vũ Hoàng Dung gục xuống. Sau đó Hưng chạy ra đường Cách Mạng Tháng Tám lên xe do Trường chờ sẵn bỏ chạy. Bọn chúng chạy thẳng theo đường Cách Mạng Tháng Tám (hướng về phía quận 1) được một đoạn rẽ trái (ngược chiều đường Nguyễn Du), đi được một đoạn thì mất phương hướng (vì quá hoảng sợ). Trường cho xe dừng lại và nhận biết đó là khu vực gần khách sạn ABC trên đường Nguyễn Đình Chiểu. Tại đây Trường dừng xe cho Hưng xuống đi taxi về nhà trọ ở Nguyễn Thiện Thuật còn Trường chạy xe Spacy ra cuối đường Trần Quốc Thảo đoạn gần ngã 4 Trần Quốc Thảo – Lý Chính Thắng vào quán bán hột vịt lộn ở bên đường để bình tĩnh lại (BL: V1 T4: 530 - 531). Sau đó khoảng 0h’45” ngày 2/10 thì Trường vào một nhà dân có máy điện thoại cho thuê ở đường Trần Quốc Thảo điện vào máy di động của Anh Thư (Nguyễn Tuấn Hải đang cầm) báo là Hưng đã bắn Dung Hà, Hưng đã đi vứt súng, còn Trường đang ở một quán bán hột vịt lộn bên lề đường, đoạn đầu đường Trần Quốc Thảo – Lê Văn Sỹ và yêu cầu Nguyễn Tuấn Hải cho người ra lấy xe và điện thoại di động. Nhận được tin của Trường, Nguyễn Tuấn Hải đã điện thoại cho Lưu Bạch Đằng nhờ Đằng ra lấy xe và địên thoại. Lúc đầu Đằng nói đang bị ốm không đi được, Nguyễn Tuấn Hải đã nói thật cho Đằng biết việc Hưng, Trường vừa giết Vũ Hoàng Dung. Nghe nói vậy Đằng chở Lê Quốc Lâm, trú quán 110B Trần Bình Trọng, P1, Q5 đi lấy xe giúp cho Nguyễn Tuấn Hải. Trên đường đi, Đằng và Lâm có ghé qua vũ trường Phi Thuyền và gặp Lê Duy Long ở trước cửa vũ trường, cả ba tên cùng đi đến chỗ Trường hẹn. Sau khi gặp Trường, Lâm lấy xe đưa về quán cà phê Ca Dao của Đằng tại 38 Lý Tự Trọng, Long lấy điện thoại của Long (trước đó Nguyễn Tuấn Hải đã mượn đưa cho Trường và Hưng) đi về nhà ở 21 Thủ Khoa Huân, còn Đằng chở Trường về nhà trọ ở đường Nguyễn Thiện Thuật, sau đó Đằng về nhà (BL: V1 T3: 364).

Đối với Hưng sau khi gây án, từ khách sạn ABC, Hưng đi xe taxi về nhà trọ Nguyễn Thiện Thuật, gọi điện cho Nguyễn Thế Phát nói rõ toàn bộ sự việc giết Vũ Hoàng Dung cho Phát nghe, sau đó nhờ Phát chở đi vứt súng tại 1 cây cầu trong địa bàn TP HCM. Theo mô tả của Hưng, cây cầu có đặc điểm: Cầu dài khoảng 100 m, cầu có lan can làm bằng xi măng cao khoảng 1m. Mặt cầu làm băng bê tông nhựa rộng 6-7 m, hai bờ sông hình như có bờ kè, nước dưới sông bình thường, do buổi tối nên không nhận rõ màu xanh hay đen. Dưới sông có nhiều bèo tây (bèo mắc ở cả những mố cầu). Dọc theo cầu có đường ống nước to cỡ 20 cm, làm cách cầu khoảng 20 cm, thành cầu quét vôi trắng. Khu vực cầu vắng người, dọc theo bờ sông không có đường, không có đèn sáng, trên cầu có lắp bóng đèn vàng. Cơ quan điều tra đã cho Hưng xem bản đồ TP HCM và đưa đi trực tiếp nhận dạng các cây cầu có đặc điểm như mô tả ở địa bàn TP HCM nhưng Hưng không khẳng định được đã vứt súng ở cây cầu nào nên cơ quan điều tra chưa thu được khẩu súng gây án. Sau khi vứt súng xong, Phát và Hưng quay về Nguyễn Thiện Thuật thì gặp Trường, lúc này khoảng 2h ngày 2/10/2000. Phát chở Hưng và Trường đến nhà bạn của Phát ở Q7 ngủ đêm tại đó (BL: V1 T4: 523).

Sáng ngày 2.10.2000, Nguyễn Tuấn Hải điện thoại cho Trương Văn Cam báo Vũ Hoàng Dung đã bị bắn chết, xác đang để ở bệnh viện và hỏi ý kiến về việc có đi viếng Dung không, nhưng Trương Văn Cam không đồng ý và nói “chú đừng đến bệnh viện, ở đó công an rất đông”. Trong thời gian này, Trương Văn Cam rất lo sợ, tâm trạng hoang mang lo lắng, mất ngủ nhiều đêm, sợ hãi Nguyễn Tuấn Hải bị bắt sẽ khai ra Trương Văn Cam. Vì vậy Trương Văn Cam hạn chế tiếp xúc, không dùng số máy điện thoại di động cũ mà mua simcard mới để dùng. Thời gian sau Trương Văn Cam có điện thoại cho Nguyễn Tuấn Hải dặn “chú hãy cẩn thận, Công an đang theo dõi dữ lắm” (BL: V1 T2: 278). Từ đó về sau (2.10.2000 đến đầu tháng 12.2000), Trương Văn Cam và Nguyễn Tuấn Hải tạm thời không liên lạc nữa.

Ngày 5/10/2000, Hưng và Trường đến 21 Thủ Khoa Huân gặp Nguyễn Tuấn Hải nói rõ toàn bộ diễn biến sự việc giết Vũ Hoàng Dung. Nguyễn Tuấn Hải đã đưa Hưng và Trường xuống Vũng Tàu trốn và nhiều lần liên lạc với Trương Văn Cam, mục đích là yêu cầu Trương Văn Cam lo cho Hưng và Trường trốn đi nước ngoài (vì trước đó, Trương Văn Cam đã hứa hẹn giúp đỡ và lo cho Nguyễn Tuấn Hải) nhưng Trương Văn Cam không nghe máy. Vì vậy khoảng 2 tháng sau khi bắn Dung Hà, Nguyễn Tuấn Hải và Trường đã đến vũ trường Monaco gặp Trương Văn Cam để gây áp lực, tại đây Nguyễn Tuấn Hải và Trường rất tức giận Trương Văn Cam. Sau khi đặt yêu cầu với Trương Văn Cam là phải lo cho Hưng và Trường thì Trương Văn Cam trả lời “các chú cứ nằm im, từ từ để anh tính” và Trương Văn Cam đưa cho Nguyễn Tuấn Hải 10 triệu đồng để lo cho Trường và Hưng (BL: V1 T3: 258).

Đối với Anh Thư: Anh Thư quen Nguyễn Tuấn Hải (Hải Bánh) từ khoảng tháng 6.2000 trong một lần đi chơi tại vũ trường Phương Đông, Q1, TP HCM. Ngày 8.9.2000, Nguyễn Tuấn Hải khai trương tiệm uốn tóc “Vân’s” tại số 21 Thủ Khoa Huân, P.Bến thành, Q1, TP HCM, đã cho Anh Thư vào làm quản lý tại tiệm, mỗi tháng trả 2,5 triệu. Từ đó, Nguyễn Tuấn Hải và Anh Thư sống với nhau như vợ chồng. Trong đêm 1.10.2000 (đêm xảy ra vụ giết Vũ Hoàng Dung), Anh Thư có lên vũ trường Phi Thuyền chơi cùng với Nguyễn Tuấn Hải, Lê Duy Long, Trường, Hưng và một số người bạn của Nguyễn Tuấn Hải. Thời gian từ 22h30 ngày 1/10/2000, Nguyễn Tuấn Hải có mượn xe Spacy, biển số 52H1-3321 của Anh Thư đưa cho Trường và Hưng đi đâu không rõ. Đồng thời trong thời điểm này, Nguyễn Tuấn Hải cũng mượn điện thoại di động của Anh Thư thực hiện nhiều cuộc gọi đi các nơi. Song Anh Thư không biết Nguyễn Tuấn Hải điện cho ai, nội dung nói gì. Khi vụ án xảy ra, Anh Thư đã bị CA TP HCM mời gọi nhiều lần về việc sử dụng chiếc xe Spacy và điện thoại di động của Thư trong đêm ngày mồng 1 và ngày 2.10.2000, qua đó Thư biết rằng Nguyễn Tuấn Hải đã gây ra vụ giết Vũ Hoàng Dung nhưng vì sợ không dám tố giác (BL: V1 T9: 770).

Đối với Lê Duy Long, được Nguyễn Tuấn Hải nuôi dưỡng tại nhà 21 Thủ Khoa Huân, luôn luôn đi theo Nguyễn Tuấn Hải. Long biết rất rõ những mâu thuẫn giữa băng nhóm của Nguyễn Tuấn Hải và Vũ Hoàng Dung. Đêm ngày 29/9/2000, ngay sau khi Vũ Hoàng Dung cho đàn em quậy phá vũ trường Phi Thuyền, chính Long đã lái xe chở Nguyễn Tuấn Hải, Hưng và Trường đi tìm Dung để trả thù. Trên xe Long đã chứng kiến Nguyễn Tuấn Hải cầm theo súng bàn bạc với Hưng, Trường về đặc điểm nhận dạng và nơi Vũ Hoàng Dung thường lui tới. Đêm ngày 1/10/2000, Long "Tây" cũng có mặt tại vũ trường Phi Thuyền, tuy không được Nguyễn Tuấn Hải bàn bạc và cho tham gia vụ án giết Vũ Hoàng Dung song khi vụ án xảy ra, Long biết được Nguyễn Tuấn Hải, Hưng và Trường đã gây ra vụ án này nhưng không tố giác hành vi phạm tội của đồng bọn (BL: V1 T8: 810 - 811).

Đối với Nguyễn Thế Phát: Tuy không trực tiếp tham gia vụ án giết Vũ Hoàng Dung nhưng là người nuôi dưỡng, bao che cho Trường và Hưng. Ngày 2/10/2000, ngay sau khi Trường và Hưng gây án xong, Hưng đã gặp và báo cho Phát biết rõ toàn bộ nội dung sự việc bắn Vũ Hoàng Dung vừa mới gây ra. Nguyễn Thế Phát đã trực tiếp chở Nguyễn Việt Hưng đi vứt khẩu súng gây án, mục đích che giấu hành vi phạm tội của đồng bọn. Ngay trong đêm đó, Phát lại sắp xếp, bố trí chổ ẩn náu cho Trường và Hưng tại nhà bạn của Phát ở Q7, TP HCM. Hiện, Nguyễn Thế Phát đã bỏ trốn, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt (BL: V1 T4: 523 - 524).

Đối với Tống Việt Hoà, giám đốc doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Cánh Buồm, chủ vũ trường Phi Thuyền, Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành áp dụng các biện pháp điều tra rất kỹ về Tống Việt Hoà, kể cả thanh tra đối với doanh nghiệp Cánh Buồm để thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án giết Dung Hà. Cho đến nay, chưa có tài liệu xác định Tống Việt Hoà có liên quan đến vụ án này. Lời khai các bị can Trương Văn Cam, Nguyễn Tuấn Hải đều xác định Vũ Hoàng Dung tiến hành các hành vi quậy phá vũ trường Phi Thuyền như đã nêu trên vì nghĩ rằng đó là vũ trường của Trương Văn Cam. Thực chất, Vũ Hoàng Dung muốn quậy phá và làm mất uy tín của Trương Văn Cam chứ không có mâu thuẫn gì với Tống Việt Hoà (BL: V1 T10: 909 - 917).

Kết quả hỏi cung, các bị can đều đã khai nhận hành vi bắn chết Vũ Hoàng Dung, các hành vi giúp sức và liên quan khác phù hợp với lời khai nhân chứng và các tài liệu chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Trương Văn Cam đã khai nhận rõ hành vi chủ mưu, chỉ đạo cho Nguyễn Tuấn Hải tổ chức bắn Dung Hà. Sau khi vụ án xảy ra, tại vũ trường Monaco, Trương Văn Cam có đưa cho Nguyễn Tuấn Hải 5 triệu đồng để lo cho Trường và Hưng nhưng Nguyễn Tuấn Hải khai số tiền mà Trương Văn Cam đưa là 10 triệu chứ không phải 5 triệu đồng như Trương Văn Cam đã khai.

Nguyễn Việt Hưng khai trước khi thực hiện hành vi bắnVũ Hoàng Dung, Hưng được Nguyễn Tuấn Hải cho xem ảnh Dung, đưa khẩu súng Rulo gây án và dạy cách thao tác súng tại phòng riêng của Nguyễn Tuấn Hải ở 21 Thủ Khoa Huân, phường Bến Thành, Q1. Nhưng Nguyễn Tuấn Hải không thừa nhận chi tiết này mà khai không có việc cho Hưng, Trường xem ảnh Dung, còn khẩu súng gây án thì Nguyễn Tuấn Hải đưa cho Hưng tại vũ trường Phi Thuyền trước khi gây án, không phải đưa tại nhà riêng của Nguyễn Tuấn Hải như Hưng đã khai.

Cơ quan điều tra đã xác minh và khai thác kỹ các tình tiết trên nhưng do thời gian đã lâu, sự việc lại không có nhân chứng khác chứng kiến, các bị can khai không nhớ rõ và luôn né tránh, đổ tội cho nhau nên chưa làm rõ được. Tuy nhiên các tình tiết này không làm ảnh hưởng đến bản chất của vụ án nên cũng không ảnh hưởng đến quá trình điều tra và xét xử.

Vật chứng thu được gồm 01 đầu đạn súng Rulo 9mm tìm thấy ở dưới da vùng gò má bên phải của tử thi Vũ Hoàng Dung. Cơ quan CSĐT đã cho các bị can Lưu Tấn Nhơn, Nguyễn Tuấn Hải, Nguyễn Việt Hưng nhận dạng mẫu một số loại súng qua ảnh. Kết quả bọn chúng đều nhận ra loại súng đã dùng để gây án bắn Vũ Hoàng Dung là súng Rulo, là loại súng bắn đạn cỡ 9 mm như đầu đạn đã tìm thấy trong tử thi Vũ Hoàng Dung.

Với nội dung và tình tiết như phân tích nêu trên, các bị can trong vụ án đã phạm vào các tội:

1. Trương Văn Cam phạm tội giết người với vai trò chủ mưu. Tội danh được quy định tại điểm O (giết người có tổ chức), khoản 1, điều 93 BLHS.

2. Nguyễn Tuấn Hải phạm tội giết người với vai trò tổ chức thực hiện, tội danh được quy định tại điểm O khoản 1 (giết người có tổ chức), điều 93 BLHS, và tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, tội danh được quy định tại điều 230 BLHS.

3. Nguyễn Việt Hưng phạm tội giết người với vai trò trực tiếp thực hiện (kẻ thủ ác) được quy định tại điểm O, khoản 1, điều 93 BLHS, và tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, tội danh được quy định tại điều 230 BLHS.

4. Nguyễn Xuân Trường phạm tội giết người với vai trò đồng phạm (giúp sức đắc lực cho Nguyễn Tuấn Hải và Hưng gây án) được quy định tại điểm O, khoản 1, điều 93 BLHS.

5. Lưu Tấn Nhơn phạm tội che giấu tội phạm và tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng, tội danh được quy định tại điều 313, 230 BLHS.

6. Nguyễn Thị Anh Thư phạm tội không tố giác tội phạm, tội danh được quy định tại điều 314 BLHS.

7. Lê Duy Long phạm tội không tố giác tội phạm, tội danh được quy định tại điều 314 BLHS. Trong đó hành vi không tố giác Nguyễn Tuấn Hải tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là tình tiết tăng nặng cần xem xét khi xét xử.

8. Nguyễn Thế Phát phạm tội che giấu tội phạm, tội danh được quy định tại điều 313 BLHS.

Vụ án giết Vũ Hoàng Dung là một vụ án đặc biệt nghiêm trọng, do mâu thuẫn trong quá trình phân chia địa bàn làm ăn, tranh chấp ngôi vị giữa các băng nhóm tội phạm nên Trương Văn Cam là một tên trùm tội phạm hoạt động có tổ chức trên địa bàn TP HCM đã chỉ đạo cho đàn em là Nguyễn Tuấn Hải và đồng bọn thực hiện hành vi bắn chết Vũ Hoàng Dung (Dung Hà) - cũng là một tên trùm cầm đầu băng nhóm tội phạm ở Hải Phòng vào TP HCM tranh giành ngôi vị với Trương Văn Cam.

Hành vi phạm tội của Trương Văn Cam gây chấn động dư luận trong quần chúng nhân dân trên địa bàn cả nước, gây hoang mang mất lòng tin đối với nhân dân, ảnh hưởng lớn đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của Trương Văn Cam và đồng bọn rất trắng trợn, dã man với mục đích trả thù đê hèn, tước đoạt sinh mạng của Vũ Hoàng Dung, thể hiện tính chất của bọn tội phạm hoạt động có tổ chức theo kiểu xã hội đen, coi thường kỷ cương pháp luật. Hành vi phạm tội của Trương Văn Cam và đồng bọn cần phải được xử lý nghiêm khắc với mức án cao nhất và thực sự thoả đáng đối với từng hành vi mà các bị can đã gây ra.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 5:58 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Vụ giết Phan Lê Sơn, Hồ Phước Hưng

Trung sĩ cảnh sát hình sự Phan Lê Sơn đã bị cháu ruột Năm Cam giết hại. Ngay sau đó, "ông trùm" đã thông đồng cùng Nguyễn Mạnh Trung, phó phòng cảnh sát điều tra Công an TP HCM, làm sai lệch toàn bộ hồ sơ vụ án, bố trí lời khai cùng nhân chứng đưa người giả nhận tội thay thủ phạm.



A. Các vụ án do Trương Năm Cam và đồng bọn thực hiện

II. Vụ giết Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hưng

Khoảng hơn 1h ngày 27/1/2000, tại quán Cấm Chỉ (số 4, đường Hải Triều, quận 1, TP HCM) xảy ra vụ đâm đánh nhau đông người, làm 2 người chết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM đã tiến hành giải phẫu tử thi và trưng cầu giám định pháp y kết luận:

- Phan Lê Sơn, sinh năm 1976, trung sĩ Phòng cảnh sát hình sự Công an TP HCM, ngụ tại 95/642 Nguyễn Kiệm, phường 3, Gò Vấp, TP HCM, vùng đầu có 9 vết thương rách da; toàn thân và tứ chi có 14 vết thương rách da, có những vết thương làm đứt xương sườn; thủng bao màng ngoài tim, thủng tâm thất phải tận cùng ở vách liên thất; làm thủng cơ hoành phải, thủng thùy phải của gan. Khoang ngực và ổ bụng có khoảng 2 lít máu cục và loãng. Nồng độ rượu trong máu là 1,4g/l.

Kết luận: Phan Lê Sơn chết do bị đâm thủng tim, gan, gây chảy máu nặng. Trong máu có rượu với nồng độ 1,4g/l.

- Hồ Phước Hưng, sinh năm 1976, ngụ tại 66/9 Quang Trung, phường 11, Gò Vấp, có 1 vết thương rách da ở thắt lưng trái và 1 vết thương ở hạ sườn trái làm thủng mạc nối lớn dạ dày, thủng mạc treo đại tràng ngang và thủng động mạch chủ bụng. Ổ bụng có khoảng 1 lít máu cục và loãng. Nồng độ rượu trong máu là 1,8g/l.

Kết luận: Hồ Phước Hưng chết do bị đâm thủng động mạch chủ bụng, gây chảy máu nặng. Trong máu có rượu với nồng độ 1,8g/l.

1. Kết quả điều tra vụ án của Công an TP HCM

Sau khi vụ án xảy ra, Công an thành phố đã tiến hành điều tra và đã có Kết luận điều tra số 36-25/KLĐT-PC16(Đ4) ngày 8/5/2001 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM. Kết quả điều tra và nội dung vụ án theo Kết luận điều tra nói trên tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 1h ngày 27/1/2000, các tên Nguyễn Hữu Thịnh, Văn Công Tiến (Khắc Sinh), Từ Anh Kiệt (Út "Lùn"), Huỳnh Anh Tuấn (Hùng "Nhỏ"), Nguyễn Thị Kim Yến (bạn gái của Tiến) sau khi đã uống bia tại quán 136 Nguyễn Thái Học đi 4 xe máy đến quán cơm phở Hà Nội (quán Cấm Chỉ), số 4, đường Hải Triều để ăn khuya. Đến trước cửa quán, pha đèn xe Suzuky Sport của Kiệt chiếu thẳng vào bàn ăn của các anh Phan Lê Sơn, Hồ Phước Hưng cùng các bạn (tất cả gồm 9 người) cũng đang ngồi uống bia, ăn khuya tại quán. Sơn đứng lên gây gổ, chửi, đánh Kiệt và rút chìa khóa xe của Kiệt ném xuống đường. Thịnh lại can thiệp thì bị Sơn đá vào bụng. Sau đó mọi người can ngăn, Sơn về chỗ cũ ngồi.

Do bị Sơn đánh, Nguyễn Hữu Thịnh tức giận nên gọi điện thoại di động (ĐTDĐ) cho Bùi Anh Việt (Bảy Việt) đang ngồi nhậu cùng Nguyễn Văn Thọ (Thọ "Đại Úy", cha của Thịnh), Phạm Văn Minh (Minh "bu"), Trương Tấn Phi, Trần Dương… ở quán 136 Nguyễn Thái Học. Thịnh nói với Bảy Việt rằng Thịnh đang bị đánh ở Phủ Kiệt (Hải Triều), nhờ Việt ra giúp (BL: V2-T1: số 629-632, 956). Sau khi nghe điện thoại của Thịnh, Bảy Việt nói lại cho Thọ biết, đồng thời rủ các tên Toàn, Dương, Phi, Tùng (là người trông xe ở quán 136 Nguyễn Thái Học) lấy xe máy chạy ra Hải Triều (BL: V2 T1: số 692, 698, 1020, 1022, 1045, 1075).

Khi đến đường Hải Triều thì không gặp Thịnh nên Bảy Việt tiếp tục chạy xe đi tìm, đến trước trụ sở Cục Hải Quan TP trên đường Hàm Nghi thì cả bọn gặp Tiến, Yến, Hùng, Kiệt, Tuấn. Bảy Việt gọi ĐTDĐ cho Thịnh hỏi Thịnh đang ở đâu, sau đó mở cốp xe Spacy lấy một con dao bấm đưa cho Tùng, đồng thời đưa cho các tên Toàn, Dương, Phi, mỗi tên một con dao nhọn và nói: “Bây giờ không cần biết tụi nó là ai, vào quất (đánh) luôn”. Bảy Việt gọi điện thoại cho Thịnh một lần nữa và biết Thịnh đang đứng chờ ở ngã 3 đường Hải Triều - Nguyễn Huệ và dẫn cả bọn chạy xe lại đường Hải Triều (BL: V2 T1: số 812, 961, 1022, 1046, 1093).

Đối với Nguyễn Hữu Thịnh, sau khi gọi điện báo cho Bảy Việt biết mình bị đánh, y chạy xe Spacy về quán 136 Nguyễn Thái Học vào bếp lấy một con dao nhọn giấu vào người. Khi đi ngang qua bàn nhậu của Thọ và Minh đang ngồi, Thọ hỏi khuya rồi còn đi đâu, sao không về nhà ngủ? Thịnh nói bị đánh ở đường Hải Triều, sau đó chạy xe ra quán Cấm Chỉ… (BL: V2 T1: số 648, 649).

Sau khi Thịnh đi được một lúc, Nguyễn Văn Thọ, Phạm Văn Minh cũng biết việc Thịnh đi đến Hải Triều để đánh nhau nên Thọ lấy xe máy đi theo. Minh xuống bếp tìm hung khí thì được tên Nguyễn Hữu Chung (đầu bếp) đưa cho một con dao và ngồi sau xe máy do Nguyễn Hữu Chung điều khiển chạy theo Thọ ra Hải Triều. Nguyễn Hùng Cường là chủ quán 136 Nguyễn Thái Học (con rể Năm Cam) cũng đi xe máy chạy theo Thọ ra đường Hải Triều (BL: V2 T1: số 768, 769, 919, 927).

Khi nhóm của Bảy Việt gặp Thịnh ở ngã 3 đầu đường Hải Triều - Nguyễn Huệ thì Bảy Việt, Thịnh dẫn đầu cùng đồng bọn chạy xe đến trước cửa quán Cấm Chỉ, dừng lại và xuống xe, xông vào bao vây nơi Sơn và các bạn đang ngồi nhậu. Thịnh xông lại chỗ Sơn, rút dao giấu trong người đâm vào bụng Sơn. Sơn đứng lên, giơ tay đỡ được nhát dao của Thịnh và chạy vào phía trong nhà của quán Cấm Chỉ (BL: V2 T1: số 653, 654). Thịnh cùng đồng bọn dùng dao, vỏ chai bia đập vỡ, ly, chén tại bàn đâm, đánh túi bụi vào các bạn của Sơn làm họ chạy tán loạn, đồng thời bọn chúng hò hét, đuổi theo Sơn vào trong quán.

Cùng lúc với việc Sơn bị đuổi đánh chạy vào trong quán, anh Hồ Phước Hưng là bạn ngồi cùng bàn cũng bỏ chạy, nhưng bị vấp té xuống gốc cây trước cửa quán Cấm Chỉ thì bị tên Tùng đứng phía sau nắm tóc, kẹp cổ nâng lên, dùng dao bấm đâm liên tiếp 2 nhát vào bụng anh Hưng, anh Hưng bị đâm gục ngay tại chỗ (BL: V2 T1: số 875).

Trong lúc đâm, đánh hỗn loạn, các tên Nguyễn Văn Thọ, Trương Tấn Phi cũng bị đồng bọn đâm nhầm bị trọng thương (Thọ bị Tùng đâm thương ở sau lưng, Phi bị Thịnh đâm thương ở bụng).

Phan Lê Sơn bị đánh ở trong quán Cấm Chỉ bỏ chạy ra ngoài, chạy trên vỉa hè theo hướng đường Hàm Nghi, cách quán Cấm Chỉ khoảng 20 m thì bị các tên Bảy Việt, Nguyễn Hữu Chung chạy xe máy vượt lên trên chặn đường (BL: V2 T1: số 519, 875, 927, 1084, 1085, 1088). Tên Nguyễn Hùng Cường cầm dao chặn đầu (BL: V2 T1: số 874, 879, 1128, 1144) buộc Sơn phải quay trở lại chạy theo hướng Nguyễn Huệ. Đến trước cửa quán phở Lan thì bị vấp té và bị các tên Minh, Cường, Chung, Kiệt, Tiến, Dương, Thịnh xông vào dùng chai, cốc đập; dao đâm rất nhiều nhát vào đầu, bụng, ngực, lưng, đùi… anh Sơn (BL: V2 T1: số 874, 879, 1128, 1144).

Thấy có đánh nhau, anh Nguyễn Văn Đông là chiến sĩ đội cảnh sát hình sự Công an quận 1, ngụ tại quán phở Lan dùng súng bắn chỉ thiên nên cả bọn đang đánh anh Sơn bỏ chạy. Tên Dương bỏ quên chiếc xe máy Kawasaki Max II tại hiện trường. Theo lời khai của các bị can, sau khi gây án và trên đường bỏ chạy bọn chúng đều vứt dao tại hiện trường và trên dọc đường đi.

Cơ quan điều tra đã thu giữ tang vật là các phương tiện gồm:

1. 1 xe Suzuki Sport màu đỏ, biển số: 61F2-3663; SK: 406070, SM:106070 do Từ Anh Kiệt sử dụng.

2. 1 xe Honda Kawasaki, biển số: 51T3-7918; SM: AN 090 GEA 27262 do Trần Dương sử dụng bỏ lại hiện trường.

3. 1 xe Cagiva Speed, biển số: 51F3-5263; SK: 323-000704, SM: 323-000704 của nạn nhân Phan Lê Sơn sử dụng để lại hiện trường.

Sau khi hoàn thành cuộc điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM đã đề nghị VKSND TP HCM truy tố 11 bị can gồm Nguyễn Hữu Thịnh, Bùi Anh Việt (Bảy Việt), Phạm Văn Minh (Minh "Bu"), Hồ Thanh Tùng (Hai Lợi), Văn Công Tiến (Khắc Sinh), Nguyễn Hùng Cường (Cường Anh, con rể Trương Văn Cam), Từ Anh Kiệt (Út Lùn), Nguyễn Hữu Chung, Trương Tấn Phi, Trần Dương, Võ Song Toàn về tội giết người theo quy định tại điều 101 - BLHS năm 1985; đề nghị truy tố bị can Nguyễn Thị Kim Yến tội che giấu tội phạm theo quy định tại điều 246 - BLHS năm 1985; Huỳnh Anh Tuấn (Hùng Nhỏ), tội không tố giác tội phạm theo quy định tại điều 247 - BLHS năm 1985; Nguyễn Văn Thọ (Thọ "Đại Uý") tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điều 198 - BLHS năm 1985 (Điều 245 - BLHS năm 1999).

Căn cứ vào kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM, VKSND TP HCM có Cáo trạng số 437/KSĐT-TA ngày 24/9/2001 truy tố các bị can nêu trên trước pháp luật theo đề nghị của Cơ quan điều tra.

Theo Kết luận điều tra và Cáo trạng thì Nguyễn Hữu Thịnh và Bùi Anh Việt là những tên chủ mưu, lôi kéo, xúi giục đồng bọn tham gia thực hiện tội phạm, đồng thời là những kẻ tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Tên Phạm Văn Minh là tên thủ ác rất tích cực và hung hãn.

Ngày 1/2/2002, TAND TP HCM đã có Quyết định số 17/HS trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo những yêu cầu sau đây:

- Theo kết luận điều tra và cáo trạng thì 2 vết thương trên người Hồ Phước Hưng do Hồ Thanh Tùng đứng ở phía sau, tay trái kẹp cổ anh Hưng nhấc bổng lên, tay phải dùng con dao bấm hình cây viết cài túi áo có 2 lưỡi sắc đâm vào bụng và vào sườn trái anh Hưng. Riêng phát đâm vào bụng, khi đâm bị can còn rạch ngang mới rút dao ra. Trong khi đó tại bản giải thích hung khí gây nên thương tích của nạn nhân Hưng (giải thích theo yêu cầu của cơ quan điều tra), Tổ chức giám định pháp y - pháp y tâm thần TP HCM do bác sĩ Bùi Thanh Tuyền ký lại nêu thương tích trên người nạn nhân Hưng do 02 loại hung khí: Loại dao có 1 lưỡi sắc, loại dao có 2 lưỡi sắc (dao bấm) và kết luận là Hồ Phước Hưng bị đâm do loại dao bấm, thủ phạm đứng phía sau nạn nhân cũng có thể gây nên được thương tích trên. Đề nghị thực nghiệm điều tra để làm rõ.

+ Xác định vai trò của Bùi Anh Việt.

+ Làm rõ nguồn gốc hung khí...

2. Kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an

Sau khi Trương Văn Cam và nhiều tên đàn em là tội phạm nguy hiểm khác trong tổ chức tội phạm do Trương Văn Cam cầm đầu đã bị bắt, dư luận quần chúng nhân dân phản ánh có một số vụ án nghiêm trọng đã xảy ra do Trương Văn Cam hoặc bọn đàn em, tay chân thân cận của Trương Văn Cam gây ra đã được các Cơ quan tiến hành tố tụng ở TP.HCM điều tra, kết luận và xử lý nhưng có nhiều dấu hiệu sai phạm trong hoạt động điều tra, xử lý vụ án, dẫn đến việc bỏ lọt người, lọt tội.

Theo đề nghị của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ Công an, Viện KSND Tối cao đã ra quyết định chuyển các vụ án có các dấu hiệu sai phạm trong hoạt động điều tra, xử lý và giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an trực tiếp điều tra thụ lý. Trong đó có vụ án: “Nguyễn Hữu Thịnh cùng đồng bọn phạm tội giết người, che giấu tội phạm, không tố giác tội phạm, gây rối trật tự công cộng (TTCC)” xảy ra tại quán Cấm Chỉ, số 4, đường Hải Triều, quận 1 vào ngày 27/1/2000. Mặc dù vụ án đã có Kết luận điều tra, Cáo trạng của VKSND TP HCM nhưng dư luận quần chúng, nhất là các Cơ quan báo chí, thông tin đại chúng ở TP HCM rất bất bình với kết quả điều tra, xử lý của các Cơ quan tiến hành tố tụng ở TP HCM; cho rằng thủ phạm gây án gồm những tên là con cháu trong gia đình hoặc tay đàn em thân cận của Trương Văn Cam nên ngay sau khi vụ án xảy ra đã có sự dàn xếp, can thiệp của Trương Văn Cam vào quá trình điều tra, xử lý vụ án, làm sai lệch hồ sơ vụ án… nhằm bỏ lọt tên chủ mưu. Cầm đầu vụ án là Nguyễn Văn Thọ cháu ruột Trương Văn Cam (mẹ của Thọ là chị gái Trương Văn Cam). Thọ chỉ bị khởi tố về tội “Gây rối TTCC” và được tại ngoại, bỏ lọt nhiều tên có hành vi “Che giấu tội phạm” trong đó có Trương Văn Cam, Dương Ngọc Hiệp (Hiệp "Phò Mã"). Nguyễn Văn Thọ là tên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động tội phạm của Trương Văn Cam đã bỏ trốn ngay sau khi Trương Văn Cam bị bắt.



Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 5:59 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Xét tính chất đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp của vụ án, Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương và Ban chuyên án đã tập trung chỉ đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khẩn trương tiến hành điều tra, xác minh lại vụ án này.

Ngay sau khi nhận hồ sơ của TAND TP HCM trả lại để điều tra bổ sung, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã tiến hành trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an (Viện KHHS) cử Giám định viên Pháp y có kinh nghiệm tiến hành nghiên cứu, thực nghiệm, giám định pháp y để làm rõ các cơ chế hình thành dấu vết, thương tích, xác định các loại hung khí gây nên thương tích trên người 2 nạn nhân Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hưng.

Kết quả nghiên cứu các thương tích của 2 nạn nhân trên hồ sơ và kết quả thực nghiệm của Viện KHHS Bộ Công an kết luận:

* Nghiên cứu thương tích trên cơ thể nạn nhân Phan Lê Sơn (Những thương tích còn nhận biết rõ trên ảnh chụp):

- Vùng đầu mặt:

+ Vết thương rách da bờ nham nhở ở thái dương - đỉnh trái do vật cứng có cạnh tác động theo hướng từ trái sang phải.

+ Các vết thương khác ở vùng đầu mặt do vật cứng có phần lưỡi sắc hoặc cạnh sắc tác động.

- Tại 1/3 trên mặt trước cánh tay phải có đâm xuyên (có lỗ vào và lỗ ra) do vật sắc nhọn có một lưỡi dao tác động, hướng thương tích từ trước ra sau.

Qua thực nghiệm thấy: Vật sắc nhọn có 1 lưỡi sắc tương ứng như dao sắc nhọn số 4 có thể tạo nên được vết thương như vết thương này.

- Các vết thương như:

+ Vết đâm thấu ngực ở liên sườn 4, cạnh xương ức - ngực trái, làm thủng da, đứt cơ liên sườn và sụn sườn 4, thủng tâm thất phải, hướng thương tích từ trước ra sau, từ phải hơi chếch sang trái.

+ Vết đâm thấu bụng, thủng gan ở liên sườn 6 đường giữa đòn bên phải, hướng thương tích từ trước ra sau.

+ Vết đâm thấu bụng, thủng gan ở liên sườn 7 đường nách giữa bên phải, có hướng thương tích từ phải sang trái hơi chếch ra sau.

+ Vết đâm thủng da cơ vai bên trái, có hướng thương tích từ trên xuống dưới.

+ Vết thương thủng da ở mặt trước đùi bên trái, có hướng thương tích từ trước ra sau hơi chếch lên trên.

Tất cả các vết thương này đều do vật sắc nhọn có 1 lưỡi sắc tác động gây nên.

Qua thực nghiệm thấy: Vật sắc nhọn có 1 lưỡi sắc tương tự như các dao 1, 2, 4 có thể tạo được vết thương như các vết thương này.

- Vết thương rách da ở bụng bên phải (gần rốn): Rìa vết thương sắc gọn, do vật sắc nhọn tác động, hướng thương tích từ trước ra sau, hơi chếch sang phải.

- Vết lạng da ở vùng thượng vị có kích thước 15 x 1,5 cm do phần mũi nhọn của vật sắc nhọn (có phần lưỡi rất sắc) tác động tạo nên.

* Nghiên cứu thương tích trên cơ thể nạn nhân Hồ Phước Hưng (Những thương tích còn nhận biết rõ trên ảnh chụp):

- Tại vùng thắt lưng bên trái có vết đâm thủng da, cơ thắt lưng trái do vật sắc nhọn tác động.

- Tại hạ sườn trái có vết thủng rách da cơ thành bụng, hình khe, rìa vết thương sắc gọn, kích thước dài 09 cm, ở rìa dưới của vết thương có vết rách da phụ dài 0,8 cm, vết rách áo tương ứng dài 06 cm, rìa vết rách áo gọn, bên trong thủng mạc nối lớn, thủng mạc treo đại tràng ngang, thủng động mạch chủ bụng tương ứng với vị trí đốt sống thắt lưng số 1 (L1).

Đây là vết đâm thấu bụng, hướng đâm từ phía trước do dao sắc nhọn tạo nên, khi rút dao ra thì có sự thay đổi vị trí và tư thế tương đối giữa lưỡi sắc của dao với thành bụng của nạn nhân.

Kết quả thực nghiệm cơ chế hình thành thương tích đối với các vết thương ở thắt lưng trái và thành bụng trái trên cơ thể nạn nhân Hồ Phước Hưng thấy: Trong tình huống thủ phạm đứng trước, hoặc đứng phía sau bên phải của nạn nhân (nếu cầm dao tay phải), đứng phía sau bên trái nạn nhân (nếu cầm dao tay trái) và dùng dao nhọn có hình dáng, kích thước, tính chất tương tự như các dao số 1, 2, 5, 6 để đâm, thì có thể tạo nên được các vết thương nói trên.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ ban đầu về vụ án, kết quả nghiên cứu thực nghiệm và giám định pháp y của Viện KHHS và kết quả điều tra lại của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an có đủ cơ sở để kết luận nội dung vụ án sau khi đã được điều tra lại như sau:

2.1 Nguyễn Hữu Thịnh cùng đồng bọn phạm tội giết người; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm xảy ra ngày 27/1/2000 tại quán Cấm Chỉ, số 4, Hải Triều, quận 1.

Khoảng 23h ngày 26/1/2000, anh Lê Tâm Việt (chiến sĩ Phòng Cảnh sát hình sự - CSHS) ngồi ở quán Cơm - Phở Hà Nội (quán Cấm Chỉ), số 4 đường Hải Triều, Q1, TP HCM gọi ĐTDĐ cho anh Phan Lê Sơn (là chiến sĩ Phòng Cảnh sát hình sự) rủ anh Sơn đến đường Hải Triều nhậu tiếp. Anh Sơn đang ngồi nhậu cùng một số bạn tại đường Phạm Ngũ Lão - quận Gò Vấp, sau khi nhận được điện thoại của anh Việt đã rủ nhóm bạn gồm: Hồ Phước Hưng, Lê Trần Thịnh, Đào Văn Thành (Tỷ), Trần Văn Năng, Nguyễn Hoàng Lộc (Bi), Quách Ngọc Thanh (bạn gái Sơn mới quen) đến quán Cấm Chỉ đường Hải Triều để nhậu tiếp và ăn khuya với Lê Tâm Việt. Tất cả nhóm bạn của Sơn và Việt (gồm 9 người, có cả nữ) ngồi chung một dãy bàn kê tại vỉa hè trước cửa quán “Cấm Chỉ” sát Kho bạc Nhà nước, phía đường Nguyễn Huệ, cả nhóm uống bia Heineken và ăn phở (BL: V2 T2 số: 424, 425).

Cũng trong buổi tối ngày 26/1/2000, các tên Nguyễn Hữu Thịnh, Huỳnh Anh Tuấn (Hùng Nhỏ), Từ Anh Kiệt (Út Lùn) và Hùng lớn, Văn Công Tiến (Khắc Sinh), Nguyễn Thị Kim Yến (bạn gái của Tiến), Bùi Anh Việt (Bảy Việt), Trương Tấn Phi, Trần Dương, Võ Song Toàn (cả 3 do Bảy Việt gọi đến) và Lê Thị Hồng Ngọc chủ quán Tân Hải Vân (162 Nguyễn Trãi, Q1) ngồi nhậu chung bàn tại quán 136 Nguyễn Thái Học, quận 1. Đến hơn 1h ngày 27/1, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Văn Minh (Minh "Bu") và một số phụ nữ bạn của Thọ đến quán 136 Nguyễn Thái Học uống rượu nhưng ngồi riêng bàn khác. Nguyễn Hữu Thịnh khi thấy cha mình (Thọ đại úy) đến bèn cùng các tên Kiệt, Tiến, Yến, Tuấn, Hùng lớn đứng dậy đi nơi khác. Còn lại ở quán 136 Nguyễn Thái Học, Bảy Việt và các tên Phi, Dương, Toàn, Ngọc lại ngồi chung bàn với Thọ và Minh để tiếp tục nhậu.

Sau khi đưa Hùng lớn về nhà riêng ở Đoàn Văn Bơ, Q4, Nguyễn Hữu Thịnh rủ mọi người ra đường Hải Triều để ăn khuya và nhậu tiếp. Thịnh đi một mình bằng xe Spacy màu lông chuột, Tuấn (Hùng nhỏ) đi một mình bằng xe Spacy màu trắng (mượn của Hùng lớn), Tiến chở Yến bằng xe Spacy màu trắng, Kiệt đi một mình bằng xe Suzuki Sport màu đỏ. Cả bọn đến quán Cấm Chỉ, số 4 đường Hải Triều, Q1 vào khoảng 1h30’ ngày 27/1/2000. Các tên Thịnh, Tiến, Yến, Tuấn đến trước ngồi vào bàn kê phía gần đường Nguyễn Huệ, cách bàn của Phan Lê Sơn đang ngồi khoảng 4 - 5 mét. Từ Anh Kiệt đến sau, dọi pha đèn vào bàn của Sơn đang ngồi. Thấy vậy, Sơn đứng dậy gây sự, cự cãi với Từ Anh Kiệt và tát vào mặt Kiệt 2 cái. Thịnh đứng dậy bước lại gần Sơn bị đá một cái trúng bộ hạ. Sơn còn tiếp tục đá vào dè trước và rút chìa khóa xe của Kiệt ném xuống đường. Thấy có đánh nhau, một số bạn của Sơn (trong đó có anh Hưng) và chủ quán Cấm Chỉ là cô Đặng Thu Thơm ra can ngăn nên hai bên không ẩu đả nữa, ai về bàn người đó ngồi. Theo một số nhân chứng có mặt tại hiện trường lúc đó chứng kiến thì hành động của Sơn lúc đó như người đã say rượu, bia, nên khi ngồi vào bàn Sơn vẫn tiếp tục nói to, chửi tục. Tức giận vì bị đánh đau, nên Nguyễn Hữu Thịnh gọi ĐTDĐ cho Bùi Anh Việt (Bảy Việt) nói cho Bảy Việt biết Thịnh bị đánh ở Phủ Kiệt (Hải Triều) và kêu Bảy Việt ra giúp. Sau khi gọi điện thoại, Thịnh lấy xe bỏ đi, lúc đó là 1h36’ ngày 27/1/2000, còn các tên Tiến, Kiệt, Tuấn, Yến vẫn ngồi lại quán Cấm Chỉ nhưng không ăn uống gì.

Đang ngồi nhậu với Thọ đại úy thì Bảy Việt nghe điện thoại của Thịnh lúc 1h36’ (BL: V2 T1: số 1330 và BL: V2 T2: 724) báo việc Thịnh bị đánh ở Hải Triều và kêu Bảy Việt. Bảy Việt nói lại cho Thọ và mọi người biết việc Thịnh đang bị đánh ở Hải Triều và bảo các tên Toàn, Dương, Phi cùng đi ra Hải Triều gặp Thịnh để “giải quyết” việc đánh nhau (BL: V2 T2 số: 726, 939, 954, 971). Bảy Việt sai Hồ Thanh Tùng (Hai Lợi) là người giữ xe của quán 136 Nguyễn Thái Học dắt xe Spacy màu trắng của Bảy Việt ra và bảo Tùng ngồi phía sau cùng đi ra Hải Triều với Bảy Việt. Khi ra Hải Triều, Bảy Việt và Tùng không gặp Thịnh, chạy xe đến ngã ba Hải Triều - Nguyễn Huệ thì Bảy Việt nghe điện thoại của Thịnh gọi lần thứ 2 (lúc 1h40’) (BL: V2 T1: 1330), đến trước cổng Cục Hải Quan TP góc đường Bạch Đằng - Hàm Nghi thì gặp các tên Toàn, Dương, Phi, Tiến, Kiệt, Tuấn, Yến tất cả dừng lại. Tại đây, Văn Công Tiến nói với Bảy Việt “Tụi nó giống hình sự lắm”, Bảy Việt nói “Tụi nó là hình sự thì muốn đánh ai, thì đánh hả, đi ra quất luôn (đánh luôn)”. Sau đó Bảy Việt mở cốp xe Spacy lấy một con dao bấm đưa cho Hồ Thanh Tùng, lấy áo gió màu đen đưa cho Trương Tấn Phi mặc vào người, còn bản thân y lấy 01 bình xịt hơi cay màu vàng bỏ vào túi quần. Bảy Việt lấy ĐTDĐ gọi lại cho Thịnh (1h45’), biết Thịnh đang chờ ở ngã tư Nguyễn Huệ - Hải Triều nên dẫn cả bọn gồm: Tùng, Toàn, Dương, Phi, Tiến, Yến, Kiệt, Tuấn cùng đi ra đó theo hướng đường Nguyễn Huệ - Hải Triều (BL: V2 T2: 724, 935, 939, 954, 972). Với diễn biến nói trên, ngay từ đầu thể hiện rõ ý thức sử dụng vũ lực, bất chấp hậu quả của bọn chúng.

Nguyễn Hữu Thịnh sau khi gọi điện cho Bảy Việt, lấy xe chạy xe theo đường Nguyễn Huệ - Bạch Đằng - Hàm Nghi, mục đích là gặp Bảy Việt, nhưng không gặp, nên y chạy xe về quán 136 Nguyễn Thái Học và gặp cha mình là Nguyễn Văn Thọ (Thọ đại úy) đang ngồi nhậu với Phạm Văn Minh và Lê Thị Hồng Ngọc (chủ quán Tân Hải Vân)..., ngoài ra còn gặp Nguyễn Hùng Cường (Cường anh - chủ quán 136 Nguyễn Thái Học) là con rể Trương Văn Cam đang đứng bên ngoài. Thọ hỏi Thịnh “Sao giờ này chưa về, đi đâu vậy?”, Thịnh trả lời “ Con đi ăn khuya ngoài Hải Triều, bị mấy người đánh”, Thọ hỏi tiếp “Có sao không? Chở ba ra ngoài đó coi sao?”. Thịnh nói với Thọ “ Đợi con đi toilet một chút” và Thịnh vào khu vực bếp đến chỗ kệ rửa chén lấy 02 con dao giấu vào thắt lưng, phủ áo thun bên ngoài và quay trở lại lấy xe của Thịnh chở Thọ ra ngoài đường Hải Triều (BL: V2 T2: 669). Trước khi đi với Thịnh, Thọ nói với Minh “Đi”, Minh hiểu ý Thọ nói đi ra Hải Triều để đánh nhau (BL: V2 T2: 774, 799), nên đứng lên tìm hung khí. Tên Nguyễn Hữu Chung là đầu bếp quán 136 Nguyễn Thái Học hỏi Minh “Tìm gì đấy? Dao được không?” và lấy 1 con dao trên bàn bếp có chiều dài khoảng 25 cm; lưỡi thẳng, trắng, nhọn, rộng khoảng 02cm (BL: V2 T2: 799) đưa cho Minh dắt vào trong người. Theo lời Minh khai thì y thấy Thọ "đại úy" đã chạy xe trước (thực tế Thịnh chở tên Thọ chạy trước) nên tên Chung hỏi Minh “đi theo Thọ phải không?” Minh bảo “ừ”, tên Chung lấy 1 chiếc xe Drem II màu nho chở Minh chạy đuổi theo Thọ ra Hải Triều. Sau khi biết Thọ cùng các tên Minh, Chung đầu bếp cùng đi ra Hải Triều để đánh nhau, tên Nguyễn Hùng Cường (Cường anh - con rể Trương Văn Cam) cũng vào bếp lấy 1 con dao, theo Cường mô tả dao dài khoảng 30-35 cm, lưỡi rộng 4-5 cm, cán nhựa màu đen, lưỡi tù không nhọn, thường dùng để gọt trái cây trong quán (BL: V2 T2: 888, 895, 897, 900…), giấu vào sau lưng áo và sai em trai của mình là Nguyễn Tuấn Hùng (Cường em) dùng xe DH chở chạy theo Thọ và Thịnh.

Thịnh chở Thọ chạy ra Hải Triều nhưng không gặp Bảy Việt và đồng bọn, nên Thịnh gọi điện thoại cho Bảy Việt để hỏi Bảy Việt đang ở đâu (lúc 1h40’) (BL: V2 T2: 650, 652). Điều này phù hợp với lời khai của nhân chứng thì tại thời điểm nói trên thấy 02 (trong đó có người khoảng 40 tuổi) người đi xe Spacy qua quán Cấm Chỉ và dừng lại ở đầu đường Nguyễn Huệ - Hải Triều (BL: V2 T2: 699 và BL: V2 T1: 1330). Đến 1h 45’, Bảy Việt gọi điện lại cho Thịnh, hỏi Thịnh đang ở đâu, Thịnh trả lời đang đợi ở ngã ba Nguyễn Huệ - Hải Triều, ngay sau đó Thịnh gọi điện cho Văn Công Tiến (1h46’) báo cho Tiến quay lại quán Cấm Chỉ để đánh nhau (BL: V2 T2: 655 và BL: V2 T1: 1330).

Khi các tên do Bùi Anh Việt (Bảy Việt) dẫn đầu chạy xe lại gặp Nguyễn Hữu Thịnh và Nguyễn Văn Thọ (Thọ "đại úy") ở đầu đường Hải Triều - Nguyễn Huệ, cả bọn dừng lại. Tên Bùi Anh Việt hỏi Thịnh “Nãy ai đánh mày?”, Thịnh chỉ vào bàn anh Sơn và các bạn đang ngồi và nói “Đó, bàn đó, thằng mập mặc áo xanh đang ngồi đó”. Nói xong, Thịnh, Việt dẫn đầu cùng cả bọn chạy ào xe lại trước cửa quán Cấm Chỉ số 4 đường Hải Triều thì tất cả dừng lại, xuống dựng xe dưới lòng đường, chỉ riêng Bùi Anh Việt vẫn ngồi trên xe máy, Huỳnh Anh Tuấn và Nguyễn Thị Kim Yến đứng bên lề đường nhìn, không tham gia đánh nhau.

Tên Thịnh đưa cho Văn Công Tiến một con dao kiểu Thái Lan cán vàng, dài khoảng 25 cm và dẫn đầu xông vào chỗ Phan Lê Sơn đang ngồi, cùng lúc các tên Toàn, Dương, Phi, Tiến, Kiệt, Tùng cũng xông vào bao vây xung quanh bàn của Sơn và các bạn đang ngồi. Thịnh quát “Sao lúc này mày đánh tao?”, Sơn đứng lên nói “Tao đánh mày rồi sao? Tụi mày muốn gì?” tên Thịnh rút dao trong người ra đâm vào bụng Sơn, Sơn tránh được, hất bàn chạy vào phía bên trong quán Cấm Chỉ (BL: V2 T2: 669). Cùng lúc đồng bọn của Thịnh cũng dùng vỏ chai bia, ly, cốc thủy tinh lấy ở bàn đánh, ném túi bụi, làm các bạn của Sơn bỏ chạy tán loạn, trốn vào phía bên trong quán Cấm Chỉ và các nơi khác để thoát thân.

Sau khi Sơn bỏ chạy vào phía bên trong quán Cấm Chỉ, tên Thịnh lập tức đuổi theo, trên đường chạy vào trong quán, Thịnh gặp anh Hồ Phước Hưng cũng đang bỏ chạy vào trong quán, hai bên đối diện, Thịnh cầm dao đâm sọc vào bụng anh Hưng một nhát và rút dao ra rất nhanh, tiếp tục chạy vào phía bên trong quán Cấm Chỉ để đuổi đánh anh Sơn (BL: V2 T2: 669, 670, 674). Cùng lúc đó các tên Toàn, Dương, Phi, Kiệt cũng chạy theo Thịnh vào bên trong quán Cấm Chỉ đuổi đánh anh Sơn, bọn chúng dùng vỏ chai bia, ly, cốc thủy tinh trong quán đập, đánh, ném về phía Sơn. Riêng tên Thịnh cầm dao, đứng đối diện với Sơn, cạnh thùng nước lèo phở, chém liên tiếp 3-4 nhát vào mặt, vùng đầu và trán anh Sơn, làm Sơn bị thương chảy máu ở vùng đầu, mặt (BL: V2 T2: 670).

Sau khi bị Thịnh đâm một nhát vào bụng, anh Hưng bị thương nặng, ôm bụng lảo đảo, chạy được 3-4 bước ra hướng gốc cây trên lề đường, trước cửa quán Cấm Chỉ, thì gặp tên Hồ Thanh Tùng múa dao đâm trúng một nhát vào bên hông trái, trên thắt lưng. Hưng bước thêm vài bước nữa thì ngã gục xuống gốc cây sát lề đường trên vỉa hè, trước quán Cấm Chỉ và chết tại đây. Sau khi đâm anh Hưng, Hồ Thanh Tùng tiếp tục cầm dao chạy về phía trong quán Cấm Chỉ, thấy một người đang quay lưng ra ngoài đường, hai tay cầm 02 vỏ chai bia, miệng hò hét, chửi bới cản đường của đồng bọn đang đuổi đánh anh Sơn đang chạy từ bên trong quán chạy ra. Tùng tưởng nhầm là người của phía bên anh Sơn nên đã đâm một nhát vào lưng người này. Sau đó Tùng biết là đâm nhầm vào lưng Thọ, nên nói “Con xin lỗi, con đâm nhầm” (BL: V2 T2: 917). Tên Văn Công Tiến (Khắc Sinh) thấy Tùng đâm Thọ nên kêu lên “Sao mày đâm chú tao? Tao đâm chết mẹ mày luôn”, Tiến đứng gần, sau lưng Tùng, tay trái Tiến kẹp cổ nhấc Tùng lên, tay phải vung dao định đâm xuống người Tùng, thì Bùi Anh Việt đang đứng ngoài quan sát vội kêu lên “Lầm rồi Sinh ơi, lầm rồi Sinh ơi, nó là thằng giữ xe ở quán 136”. Cùng lúc đó có tiếng kêu “Thịnh, Thịnh ba mày bị đâm”, tên Thịnh đang đuổi đánh anh Sơn phía trong quán chạy ra ngoài hỏi “Ai đâm ba?”, khi đó Tiến đang còn ôm Tùng, chưa buông ra và nói “Thằng này đâm ba mày” Thịnh hỏi “Sao mày đâm ba tao” và vung dao đâm xuống người Tùng, Tùng vội kêu lên “Buông em ra, buông em ra” đúng lúc đó Tiến nghe Bảy Việt đứng ngoài kêu nhầm nên kéo lùi Tùng lại và buông tên Tùng ra tránh được nhát dao của Thịnh. Tên Thịnh đâm hụt tên Tùng, cũng là lúc Trương Tấn Phi đuổi theo Sơn chạy từ phía bên trong quán chạy ra đến phía sau lưng Thịnh, Thịnh không kịp thu dao nên đâm trúng vào bụng Phi làm Phi bị thương nặng. Tên Tùng sau khi được Tiến buông ra bỏ chạy ra y còn vung dao đâm sượt vào bả vai trái, gần cổ tên Võ Song Toàn lúc đó cũng vừa ở bên trong quán đuổi theo Sơn chạy ra bên ngoài, làm Toàn bị thương nhẹ, xước da, Tùng bỏ chạy ra ngoài theo hướng đường Hàm Nghi.

Tên Nguyễn Hữu Thọ cũng tích cực đuổi theo Phan Lê Sơn, miệng hò hét chửi bới “Đ.m …thằng nào đánh con tao, đánh chết nó đi…” (BL: V2 T1: 812, 818, 819). Thọ trực tiếp cầm 2 vỏ chai bia đập vỡ làm hung khí để đuổi đánh anh Sơn chạy vào trong quán “Cấm Chỉ” (BL: V2 T1: số 812, 818, 819), khi y vừa bước lên bậc thềm của quán để đuổi theo Sơn chạy vào trong nhà thì bị tên Hồ Thanh Tùng đứng phía sau đâm trúng vào lưng bị trọng thương (vì tên Tùng nhầm tưởng Thọ là người phía bên anh Sơn). Sau đó Nguyễn Văn Thọ, Trương Tấn Phi được đồng bọn đưa đi cấp cứu ở Trung tâm cấp cứu bệnh viện Sài Gòn.

Sau khi bị thương ở trong quán Cấm Chỉ, Sơn chạy bung được ra ngoài vỉa hè bên phải và bỏ chạy lại phía đường Hàm Nghi, các tên Thịnh, Tiến, Kiệt lập tức đuổi theo. Anh Sơn chạy được khoảng 20 m, thì bị tên Thịnh chạy vượt lên chặn đầu. Tên Bùi Anh Việt cũng chạy xe vượt lên chặn đầu Phan Lê Sơn.

Tên Nguyễn Hữu Chung chở tên Phạm Văn Minh ra đến đường Hải Triều thì đang xảy ra đánh nhau, tên Minh nhìn thấy Thọ đang đi ra ngoài, đã bị thương chảy máu ở lưng. Minh nhìn thấy Thịnh, Tiến, Kiệt đang đuổi theo Sơn nên Minh cầm dao chạy đuổi theo, vượt lên trước chặn đầu Sơn (BL: V2 T2: 798). Tên Nguyễn Hữu Chung vẫn ngồi trên xe máy, phóng xe vượt lên trước chặn đường chạy của Sơn.

Nguyễn Hùng Cường (Cường anh) chủ quán 136 Nguyễn Thái Học và em trai là Nguyễn Tuấn Hùng chạy xe đến sau cùng. Khi ra đến nơi đã thấy các tên Thịnh, Tiến, Minh "Bu"… đang đuổi theo anh Sơn chạy trên vỉa hè, Cường em cho xe chạy theo hướng đường Hàm Nghi, Cường anh cầm dao nhảy xuống cùng Minh "bu" đón đầu, chặn đường không cho Sơn chạy tiếp.

Phan Lê Sơn chạy đến dãy quán bán ruợu, cách quán Cấm Chỉ khoảng 15-20 mét thì phía trước bị các tên Thịnh, Minh, Cường anh cầm dao chặn đầu. Ngoài ra còn có các tên Bảy Việt, Nguyễn Hữu Chung phóng xe máy chặn bên trên, phía sau thì có các tên Tiến, Kiệt đuổi theo. Sơn quay đầu chạy ngược lại theo hướng Hàm Nghi - Nguyễn Huệ đến gần quán Phở Lan (liền kề với quán Cấm Chỉ) thì bị Văn Công Tiến dùng ghế nhựa đập vào đầu, Sơn loạng choạng chạy được 3-4 bước đến trước quán phở Lan thì bị vấp té nằm trên vỉa hè. Sơn té nằm ngửa, đầu quay hướng đường Nguyễn Huệ, chân quay hướng đường Hàm Nghi. Các tên Thịnh, Tiến, Minh, Cường anh, Kiệt cùng chạy lại dùng dao, cốc thủy tinh đâm, đánh liên tiếp vào người Sơn. Tên Thịnh đứng phía bên tay phải, ngang ngực Sơn, dùng dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng ngực của Sơn. Tên Tiến đứng cùng phía với Thịnh, ngang phần sườn, bụng của Sơn dùng dao đâm 2-3 nhát vào vùng sườn, bụng của Sơn. Đối diện với Văn Công Tiến phía bên ngoài đường, bên tay trái Sơn là tên Minh ngồi theo tư thế quỳ, đè một đầu gối lên thắt lưng bên trái của Sơn và đâm nhiều nhát vào vùng ngực của Sơn. Tên Từ Anh Kiệt ngồi phía trên đầu Sơn dùng vỏ chai bia, cốc thủy tinh đập vào đầu Sơn nhiều cái, mảnh vỏ chai bia và cốc thủy tinh vỡ cứa đứt da trên 03 ngón tay trái của Kiệt, Phạm Văn Minh cũng bị thương nơi gót chân trái khi ngồi đâm Sơn. Tên Nguyễn Hùng Cường ngồi phía sau chân, cùng phía với Minh Bu, dùng dao đâm vào đùi trái của Sơn 1-2 nhát (các BL: V2 T2: 662, 671, 366, 989, 991, 824, 832, 836, 837, 842, 844, 850). Anh Nguyễn Văn Đông là chồng chị Nguyễn Thị Lan chủ quán phở, chiến sĩ CSHS - Công an Q1 đang ngủ trên lầu 1 của quán phở Lan (nhà số 4, Hải Triều), thấy có ồn ào đánh nhau dưới đường, lấy súng K54 bắn cảnh cáo nên tất cả bọn chúng mới bỏ chạy (BL: V2 T2: 390).



Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 5:59 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Theo lời khai của các nhân chứng có mặt ở hiện trường và các bị can thì vụ án xảy ra rất nhanh, từ lúc tên Thịnh xông vào chỗ Sơn đang ngồi nhậu đâm Sơn đến khi anh Đông bắn súng, Thịnh và đồng bọn tẩu thoát khỏi đường Hải Triều chỉ trong thời gian khoảng 3 phút.

Tên Trần Dương sau khi đuổi đánh Phan Lê Sơn ở trong quán Cấm Chỉ, y chạy ra ngoài đường, thấy Nguyễn Văn Thọ bị thương nên đã đỡ Thọ lên xe của Thịnh và chở Thọ đi cấp cứu ở Trung tâm cấp cứu bệnh viện Sài Gòn, do vậy chiếc xe Kawasaki Max II BS: 51T3 - 7918 của Dương bỏ quên lại hiện trường vụ án. Riêng Trương Tấn Phi, do bị thương nặng và bị choáng nên y không biết ai đưa vào bệnh viện.

Nguyễn Hữu Thịnh sau khi tiếng súng nổ vứt bỏ con dao tại hiện trường và bị anh Đông túm được cổ áo, nhưng Thịnh kêu “không phải cháu” nên anh Đông buông ra, Thịnh chạy thoát, đến ngồi lên sau xe Dương chở Thọ đến Trung tâm cấp cứu Sài Gòn (BL: V2 T2: 671, 955).

Sau khi Sơn bị đâm thì Bùi Anh Việt bảo Hồ Thanh Tùng ngồi lên xe Việt chở chạy về quán 136 Nguyễn Thái Học, để Tùng lại đó và chạy lại quán Hoàng Hôn số 57 - 59 Lê Lợi, quận 1 của Lê Thị Kim Anh báo cho Kim Anh biết việc xảy ra đánh nhau và Thọ bị thương đang cấp cứu ở bệnh viện Sài Gòn (BL: V2 T2: 726). Tên Tùng sau khi về quán 136 Nguyễn Thái Học đã bỏ con dao bấm gây án có dính máu lên bàn tính tiền, Lê Kim Cang là em vợ của Nguyễn Hùng Cường thấy vậy đã vứt con dao ra đường Nguyễn Thái Học nên Cơ quan điều tra không thu được.

Tên Phạm Văn Minh tiếp tục ngồi lên xe do tên Nguyễn Hữu Chung chở để thoát khỏi hiện trường, theo lời khai của Minh thì khi đến vòng xoay đường Hàm Nghi - Hồ Tùng Mậu thì y vứt con dao gây án xuống dọc đường đi. Sau đó Minh bảo tên Chung chở Minh đến khách sạn Minh Thắng số 53/1 Nguyễn Khắc Nhu, Q1. Tên Chung đi xe máy về quán 136 Nguyễn Thái Học, còn tên Minh nói dối bị tai nạn giao thông, bị thương ở chân, mất hết giấy tờ nên xin ngủ lại đến sáng sẽ đi. Nhân viên lễ tân của K/s Minh Thắng tưởng thật nên cho y thuê phòng, Minh còn nhờ nhân viên phục vụ phòng giặt hộ bộ quần áo dính máu (BL: V2 T2: 762, 767, 775).

Văn Công Tiến chạy ra xe, chở Yến chạy khỏi hiện trường. Theo lời khai của Tiến trên đường đi ngang tiệm bánh mì Như Lan đường Hàm Nghi, Tiến quăng con dao xuống đường và chạy đến bệnh viện Sài Gòn thăm Thọ "đại úy" đang cấp cứu. Khi biết anh Hưng, anh Sơn bị chết, Tiến sợ, chở Yến chạy về nhà Yến và về nhà Tiến. Sau đó thị Yến đã tổ chức cho tên Tiến trốn ra Nha Trang ở nhà bà Nguyễn Thị Lan, là dì ruột của Yến tại số 28/11 đường Hải Đức, phường Phương Sơn, Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà, đến sau tết Nguyên đán mới quay về TP HCM.

Tên Từ Anh Kiệt chở tên Nguyễn Hùng Cường (Cường anh) chạy đến Trung tâm cấp cứu Sài Gòn thăm Nguyễn Văn Thọ. Sau đó về quán cafe Bé Nhỏ số 76 đường Nguyễn Trường Tộ, Q4 nhờ chị Nguyễn Thị Duyên là người giúp việc trong quán băng bó hộ vết thương ở tay cho y.

Các tên Huỳnh Anh Tuấn (Hùng nhỏ), Nguyễn Tuấn Hùng (Cường Em), có mặt ở hiện trường giữ xe và chứng kiến đồng bọn đâm đánh các nạn nhân, sau khi nghe tiếng súng nổ đều bỏ chạy khỏi hiện trường.

Hai nạn nhân: Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hưng được Công an phường Bến Nghé đưa đến Trung tâm cấp cứu Sài Gòn nhưng đã chết.

Về hung khí gây án: Theo mô tả của Nguyễn Hữu Thịnh thì y sử dụng con dao dài khoảng 30cm, cán đen, lưỡi trắng, mũi nhọn vếch lên, dài khoảng 20cm, rộng 3-4 cm (BL: V2 T2: 654). Văn Công Tiến khai đã sử dụng con dao do Nguyễn Hữu Thịnh đưa có đặc điểm: dao kiểu Thái lan, cán vàng, dài khoảng 20cm, lưỡi trắng, nhọn rộng khoảng 02cm (BL: V2 T2: 845, 828, 849, 853). Phạm Văn Minh mô tả con dao y gây án có chiều dài khoảng 25 cm, lưỡi thẳng, trắng, nhọn, rộng khoảng 02cm (BL: V2 T2: 799). Nguyễn Hùng Cường khai sử dụng con dao dài khoảng 30-35 cm, cán đen, lưỡi trắng rộng khoảng 4-5 cm. Hồ Thanh Tùng khai đã sử dụng con dao bấm hình cây viết cài ngực, lưỡi sắc, nhọn đều, rộng khoảng 1-1,5 cm).

Các bị can đều khai nhận sau khi gây án chúng đều vứt bỏ hung khí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Nhưng căn cứ vào lời khai của các bị can và nhân chứng mô tả về hung khí (dao) của các đối tượng đã sử dụng trong khi gây án, Cơ quan điều tra đã tổ chức cho các bị can và nhân chứng nhận dạng dao có các đặc điểm, hình dáng gần giống như các loại dao đã được mô tả ở trên. Kết quả nhận dạng qua bản ảnh (có 02 ảnh nhận dạng. Ảnh 1: có 11 con dao được đánh số thứ tự 1-11, trong đó các dao từ số 1 đến số 9 đã được Viện KHHS - Bộ công an sử dụng để làm phương tiện thực nghiệm. Ảnh 2: có 02 con dao): Nguyễn Hữu Thịnh và Văn Công Tiến sử dụng loại dao giống các con dao số 1, 2, 7, 10 (ảnh 1); Phạm Văn Minh sử dụng loại dao giống phần lưỡi 2 con dao ở ảnh 2; Nguyễn Hùng Cường sử dụng loại dao giống các con dao số 3 và 11 (ảnh 1); Hồ Thanh Tùng sử dụng loại dao có phần lưỡi giống con dao số 6 (ảnh 1).

Căn cứ kết quả thực nghiệm và giám định pháp y của Viện KHHS-Bộ công an, các loại dao nêu trên nếu sử dụng để đâm, chém Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hưng đều có thể gây nên được những thương tích trên người các nạn nhân như biên bản pháp y đã mô tả.

2.2 Trương Văn Cam và đồng bọn phạm tội che giấu tội phạm; tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

Sau khi được Bùi Anh Việt cho biết việc đánh nhau ở Hải Triều và Thọ bị đâm bị thương đang cấp cứu ở bệnh viện Sài Gòn, Lê Thị Kim Anh nói với Bảy Việt lấy xe máy chở Kim Anh đến Trung tâm cấp cứu bệnh viện Sài Gòn trên đường Lê Lợi, Q1 để thăm Thọ. Tại đây, Bảy Việt, Kim Anh gặp Lê Thị Hồng Ngọc, thị Điệu (vợ Thọ) và một số đối tượng vừa gây án ở Hải Triều. Lê Thị Kim Anh và Lê Thị Hồng Ngọc hỏi thăm biết được Nguyễn Văn Thọ và Trương Tấn Phi bị thương do bị đồng bọn đâm nhầm trong lúc đánh nhau ở Hải Triều, nhìn thấy hai nạn nhân là Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hưng đã bị chết. Lê Thị Hồng Ngọc cho Trương Tấn Phi và Nguyễn Văn Thọ tiền để bồi dưỡng cho các y, bác sĩ ca trực để mổ cấp cứu cho Thọ và Phi. Sau đó Bảy Việt đưa Kim Anh lại quán Hoàng Hôn, Lê Thị Hồng Ngọc và các tên Võ Song Toàn, Trần Dương cũng từ Trung tâm cấp cứu Sài Gòn đi đến quán Hoàng Hôn gặp lại Bảy Việt và Kim Anh. Theo lời khai của Bảy Việt thì lúc này áo của y còn dính máu, nên Bảy Việt đã đi lên cầu thang lầu 1 thay áo, cũng có nhân chứng nhìn thấy tại thời điểm này Lê Thị Kim Anh gặp Bảy Việt và 2 đối tượng đi theo Bảy Việt, Kim Anh đã sai một người đi lên lầu để thay áo vì có dính máu…Lê Thị Hồng Ngọc khai đã cho Bảy Việt 2 triệu đồng để Bảy Việt lo cho Phi đang điều trị ở bệnh viện. Sau đó Bảy Việt nói với Toàn, Dương đi về và dặn nếu công an có hỏi thì khai không biết gì. Sau khi Toàn, Dương đi về, Bùi Anh Việt chở Kim Anh lại quán Tân Hải Vân ở 162 Nguyễn Trãi để ăn khuya. Tại đây Bảy Việt và Kim Anh gặp Dương Ngọc Hiệp. Hiệp hỏi Bảy Việt và Kim Anh sự việc xảy ra như thế nào, Bảy Việt có kể cho Hiệp nghe lại câu chuyện đã kể cho Kim Anh và Ngọc nghe lúc trước và nói với Hiệp là Bảy Việt không đâm ai, khi ra đến Hải Triều thì đang xảy ra đánh nhau, thấy Thọ bị đâm nên đưa Thọ đi cấp cứu. Sau khi ăn ở Tân Hải Vân, Bảy Việt đưa Kim Anh về nhà riêng của Kim Anh ở 115/42 Trần Đình Xu, P. Nguyễn Cư Trinh, Q1 và ngủ tại nhà Kim Anh đến sáng 27/1/2000.

Được tin cha con Nguyễn Hữu Thịnh, Nguyễn Văn Thọ cùng đồng bọn đánh nhau đâm chết 02 người ở đường Hải Triều, ngay trong đêm (rạng sáng 27.1.2000) Dương Ngọc Hiệp đã điện thoại cho cha vợ là Trương Văn Cam lúc này đang ở khách sạn Lasvegas, số 7 Lê Văn Hưu - Hà Nội, nhưng không gặp. Đến sáng 27/1/2000, Trương Văn Cam gọi điện lại cho Hiệp thì được Hiệp báo cho biết tối qua Thịnh cùng mấy đứa bạn đi ăn khuya đánh lộn làm chết 2 người, có cả Thọ bị thương đang nằm cấp cứu ở bệnh viện, Hiệp nhắn Trương Văn Cam phải về Sài Gòn gấp. Trương Văn Cam đã lấy vé máy bay vào Sài Gòn ngay buổi chiều ngày 27/1/2000. Trương Văn Cam gọi Dương Ngọc Hiệp đến hỏi để nắm lại tình hình vụ án, sai Lê Thị Điệu gọi điện kêu Thịnh đang bỏ trốn về thành phố để gặp Trương Văn Cam, sau đó Trương Văn Cam đến bệnh viện thăm Thọ để hỏi tình hình. Sau khi được nghe Hiệp "Phò Mã", Thịnh, Thọ kể lại Trương Văn Cam đã nắm được nội dung vụ án đại ý là: Thịnh cùng đám bạn đi ăn khuya ở Hải Triều, dọi pha đèn vào mặt Sơn (sau này Trương Văn Cam mới biết tên 2 nạn nhân) đang ngồi nhậu. Thịnh bị Sơn đánh, tức giận nên gọi điện thoại cho đám bạn của Thịnh và Bảy Việt kêu người ra đâm chết 2 người là anh Sơn và anh Hưng. Trương Văn Cam cũng hỏi Hiệp về tình hình của Bảy Việt thì được Hiệp cho biết Bảy Việt hiện giờ đang trốn ở nhà Kim Anh. Theo lời khai của Trương Văn Cam thì Thịnh nói với Trương Văn Cam là không trực tiếp đâm ai. Nhưng sau khi nắm được tình hình, Trương Văn Cam có nhận xét: Việc Thịnh bị đánh ở Hải Triều là chuyện nhỏ, nhưng Thọ là cha của Thịnh đáng lẽ khi biết Thịnh gọi điện về cho Bảy Việt kêu người ra quán đánh nhau thì Thọ phải can ngăn Bảy Việt và Thịnh, nhưng Thọ không những không can mà còn theo Thịnh ra Hải Triều để đánh nhau. Sự có mặt của Thọ ở Hải Triều là nguyên nhân chính để xảy ra việc Thịnh và đồng bọn gây ra vụ án, hậu quả là làm chết 2 người.

Theo lời khai của Dương ngọc Hiệp, vì lo sợ Nguyễn Văn Thọ bị bắt nên cha vợ y là Trương Văn Cam đã chỉ đạo Hiệp phải làm là gọi Nguyễn Hữu Thịnh về đầu thú, gặp gỡ những đối tượng tham gia gây án và những người có liên quan để bố trí lời khai nhằm che giấu hành vi của Thọ có mặt ở hiện trường và tham gia gây án…

Theo lời khai của các bị can như: Văn Công Tiến, Nguyễn Thị Kim Yến, Võ Song Toàn, Trương Tấn Phi, Trần Dương và một số người có liên quan như Lê Thị Hồng Ngọc… trước khi ra đầu thú, bị bắt hoặc lên làm việc với Cơ quan Công an các đối tượng này đều gặp Thọ và Hiệp trước và được Thọ hoặc Hiệp dặn phải khai báo là: Tối hôm đó (26 rạng ngày 27/1/2000) khi Thịnh bị đánh gọi điện về cho Bảy Việt đang ngồi ở quán 136 Nguyễn Thái Học kêu người ra Hải Triều để can thiệp, Bảy Việt không ra nhưng sai 5-7 người là bạn của Bảy Việt ra Hải Triều đánh nhau, chính những người này đã đâm chết các nạn nhân, Thịnh và các bạn của Thịnh không biết đám bạn của Bảy Việt là ai, còn việc Thọ "Đại Úy"có mặt ở hiện trường là do tình cờ, và bị đâm nhầm. Lê Thị Hồng Ngọc chủ quán Tân Hải Vân được Phòng CSHS - CA TP HCM mời lên làm việc, nhưng trước khi đi, thị Ngọc đã đến gặp Hiệp dặn phải khai với nội dung không đúng với sự thật là: “Tối 26/1/2000, ra quán 136 Nguyễn Thái Học ăn khuya, sai Thọ "đại úy" đi mua phở và chân gà ở Hải Triều… ngoài ra Ngọc không biết gì khác”. Nguyễn Văn Thọ khai đã nhờ Trương Tấn Phi mượn xe Kawasaki của Trần Dương chở ra Hải Triều để mua phở và chân gà cho bà Ngọc. Thọ và Phi ra đến Hải Triều thì đang xảy ra đánh nhau, Thọ, Phị bị đâm nhầm và được mọi người đi đưa đi cấp cứu ở bệnh viện nên để quên chiếc xe máy của Dương lại hiện trường.

Trước khi đưa Nguyễn Hữu Thịnh ra đầu thú, bản thân Trương Văn Cam đã cùng Hiệp gặp Thịnh, Tiến, Yến tại nhà Hiệp ở 36 Nguyễn Hữu Cầu, phường Tân Định, Q1 (tối 29/1/2000), gọi điện thoại cho anh Dương Minh Ngọc nguyên là Trưởng phòng CSHS - CA TP HCM để cho Thịnh ra đầu thú vào ngày 31/1/2000, chỉ đạo Bùi Anh Việt tiếp tục trốn tại nhà Lê Thị Kim Anh để nghe ngóng tình hình, sai người nhà đi đến từng gia đình nạn nhân để năn nỉ, xin lỗi, xin chịu tiền đám tang, bồi thường cho gia đình nạn nhân để xoa dịu sự công phẫn của họ… Khi biết Bùi Anh Việt có lệnh truy nã đã chỉ đạo Dương Ngọc Hiệp và Nguyễn Văn Thọ đến nhà Kim Anh để cùng bàn bạc, tổ chức cho Bùi Anh Việt trốn đi Campuchia (CPC) và tiếp theo là Canada hoặc đi Mỹ nhằm gây khó khăn cho cuộc điều tra. Trương Văn Cam đã chi cho Dương Ngọc Hiệp 20.000 USD để Hiệp tổ chức cho Bảy Việt đi trốn. Trong thời gian Bùi Anh Việt trốn tại nhà Kim Anh, Lê Thị Hồng Ngọc đã cho Bảy Việt 02 triệu đồng, khi biết tin Trương Văn Cam và Hiệp phò mã chuẩn bị tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC thì Phan Thị Trúc vợ của Trương Văn Cam đã đến nhà Kim Anh cho Bảy Việt 100 USD.

Thực hiện sự chỉ đạo của Trương Văn Cam về việc tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC. Sau Tết Nguyên đán, Dương Ngọc Hiệp đến nhà Kim Anh để gặp Bảy Việt thuyết phục và bàn việc tổ chức cho Bảy Việt trốn sang CPC, có cả Kim Anh cùng tham gia. Bảy Việt chưa đồng ý, hẹn hôm sau mới trả lời dứt khoát. Trưa hôm sau (9/1 âm lịch), Hiệp, Thọ, Kim Anh đã gặp Bảy Việt để thuyết phục Bảy Việt đi trốn, Bảy Việt đồng ý với điều kiện nếu bị bắt thì gia đình Trương Văn Cam phải lo cho Bảy Việt chỉ bị xử 5-7 năm tù.

Dương Ngọc Hiệp đã bàn bạc và nhờ Tôn Vĩnh Đắc (Long "Đầu Đinh") bố trí xe ôtô. Nguyễn Tấn Lộc là anh em bà con với Long, cũng là người làm thuê, lái xe cho Long và Hiệp, lái xe đưa Bảy Việt đi CPC. Hiệp đã đưa cho Bảy Việt 1.000 USD trong số tiền Trương Văn Cam chi để Bảy Việt sử dụng làm tiền lộ phí trong thời gian đi trốn. Hiệp thuê tên Taing Peng Chheu (Tư Miên) người CPC, lấy vợ VN ở Sài Gòn là bạn buôn bán xe ôtô cùng với Long và Hiệp để Tư Miên dẫn đường đưa Bảy Việt sang CPC. Tối ngày 9/1/2000 (âm lịch), Bùi Anh Việt từ nhà Kim Anh đi taxi đến nhà Long ở 274/21B Nam Kỳ Khởi Nghĩa - F8 - Q3 gặp Nguyễn Tấn Lộc và Lộc đã lấy xe ôtô Toyota đeo biển số giả đưa Bảy Việt lòng vòng trong thành phố đến khoảng 3h ngày 10/1/2000 (âm lịch) mới đưa Bảy Việt đến khu vực chợ Phú Nhuận để đón Tư miên. Theo sự hướng dẫn của Tư miên, Lộc đã lái xe theo đường đi Long An đến cửa khẩu Mộc Hóa thì dừng lại. Tư Miên gọi điện cho một người tên Phát - người CPC - đến đón Bảy Việt sang CPC, còn Tư Miên và Lộc đi xe về TP HCM.

Theo lời khai của Hiệp phò mã đã đưa cho Tư miên 02 lần tiền tổng số là 14.000 USD, lần đầu đưa 4000 USD sau khi Tư miên đã đưa Bảy Việt sang CPC để Tư miên bố trí cho Bảy Việt ăn ở, sinh hoạt tại CPC. Lần 2 là 10.000 USD để Tư miên làm giấy tờ, hộ chiếu giả và đưa Bảy Việt sang Thái Lan và trốn đi Canada. Tuy nhiên theo lời khai của Tư miên, Hiệp chỉ đưa cho y 02 lần có 13.500 USD. Sau khi Tư miên nhờ người ở CPC làm hộ chiếu giả và đưa Bảy Việt sang Thái Lan để xuất cảnh sang Canada nên Cảnh sát Hoàng gia Thái Lan phát hiện Bảy Việt sử dụng hộ chiếu giả và bắt giữ Bảy Việt, Tư miên nhờ người quen bảo lãnh, xin cho Bảy Việt ra và đưa quay trở lại CPC.

Trong thời gian trốn ở CPC, Bảy Việt đã nhiều lần gọi điện thoại về Việt Nam cho Kim Anh để hỏi thăm tình hình. Cũng trong thời gian này, theo sự chỉ đạo của Ban Giám đốc CATP, Dương Minh Ngọc (nguyên là Trưởng phòng CSHS) và Nguyễn Mạnh Trung (nguyên là Phó trưởng phòng CSĐT) đã gặp riêng Trương Văn Cam để thuyết phục Trương Văn Cam đưa Bảy Việt và các đối tượng khác ra đầu thú. Trương Văn Cam đã nói với Dương Ngọc Hiệp chỉ đạo Tư miên đưa Bảy Việt từ CPC về Việt Nam và ra đầu thú (ngày 17/3/2000). Trước khi Bảy Việt ra đầu thú, Trương Văn Cam đã đến gặp Bảy Việt và Hiệp ở 36 Nguyễn Hữu Cầu, Q1 để động viên và dặn Bảy Việt không được khai ra việc Hiệp, Thọ tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC, nói với Bảy Việt “Chú Mạnh Trung, chú Dương Minh Ngọc đã hứa giúp đỡ rồi…”, “nếu có đi tù chỉ vài năm thôi…” (BL: V2 T2: 965).

Vì không đưa được Bảy Việt đi Canada nên Dương Ngọc Hiệp đòi lại tiền, Tư miên đã trả lại cho Hiệp 7.000 USD, Hiệp đã sử dụng số tiền này nhưng cũng không báo cho Trương Văn Cam biết.

Bùi Anh Việt khi mới ra tự thú đã khai báo theo sự xắp sếp của Trương Văn Cam và đồng bọn, nhưng sau đó thấy các đối tượng tham gia gây án khác bị bắt đều khai cho y là kẻ chủ mưu, cầm đầu trong vụ án nên Bùi Anh Việt đã phản cung, khai ra việc Thọ "Đại Úy", Hiệp "Phò Mã" đến nhà Kim Anh để bàn bạc, tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC. Cả Nguyễn Văn Thọ, Dương Ngọc Hiệp, Lê Thị Kim Anh, Tôn Vĩnh Đắc đều được Cơ quan điều tra, điều tra viên (ĐTV) Đặng Hải Tương, mời lên làm việc và tổ chức cho đối chất với Bảy Việt trong trại giam, các đối tượng nêu trên đều phủ nhận lời khai của Bảy Việt. Bùi Anh Việt lại thay đổi lời khai, y lại tự nhận do một mình trốn đi CPC, không có ai xúi giục và giúp đỡ. Nhưng đến khi được tống đạt Kết luận điều tra và Cáo trạng, Bảy Việt thấy vai trò của y trong vụ án là kẻ chủ mưu, cầm đầu có khả năng bị mức án cao nên đã viết đơn kêu oan, tiếp tục tố cáo Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Thọ, Dương Ngọc Hiệp, Lê Thị Kim Anh, Tôn Vĩnh Đắc, Tiang Peng Chheu, Nguyễn Tấn Lộc đã tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC, sau đó lại bố trí cho y về Việt Nam để đầu thú như đã nêu ở trên.

Với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được đã đủ cơ sở kết luận các bị can: Trương Văn Cam, Dương Ngọc Hiệp, Lê Thị Kim Anh, Tôn Vĩnh Đắc, Tiang Peng Chheu, Nguyễn Tấn Lộc đã phạm các tội: “Che giấu tội phạm; Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép”; Các bị can Lê Thị Hồng Ngọc, Phan Thị Trúc đã phạm tội: “Che giấu tội phạm”.

2.3 Hành vi bỏ lọt tội phạm của Nguyễn Mạnh Trung và Đặng Hải Tương

a. Hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ của Nguyễn Mạnh Trung, nguyên phó thủ trưởng Cơ quan CSĐT- Công an TP HCM

Ngay từ khi chưa trực tiếp thụ lý vụ án này, nhưng qua nghiên cứu tài liệu, hồ sơ vụ án do Cơ quan CSĐT của Công an TP HCM đã thu thập cho thấy tên Thọ "Đại Úy" đã tham gia tấn công anh Sơn và bạn của anh Sơn ngay từ lúc đầu và với thái độ rất hung hãn, quyết liệt của kẻ cầm đầu. Chính sự tấn công ào ạt, đông đối tượng, bằng các hung khí nguy hiểm, do đó đã buộc anh Sơn và các bạn bè phải bỏ chạy, hầu như không có hành động nào tấn công lại. Như vậy không thể nói rằng Thọ không phạm tội giết người. Chính vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an đã có văn bản yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM thay đổi tội danh, khởi tố Thọ về tội giết người. Vai trò của Thọ "Đại Úy" rõ ràng là nghiêm trọng và rõ hơn một số tên khác không trực tiếp đâm anh Hưng và anh Sơn, nhưng vẫn bị khởi tố về tội giết người (với vai trò đồng phạm). Là một cán bộ có kiến thức pháp luật, Nguyễn Mạnh Trung phải biết rõ điều đó. Thậm chí, ngay về tội “Gây rối TTCC”, một tội danh có thể nói là quá ân huệ đối với Thọ "Đại Úy" thì mãi tới một năm sau (31/1/2001), Nguyễn Mạnh Trung mới ký quyết định khởi tố Nguyễn Văn Thọ về tội “Gây rối TTCC”, nhưng Thọ vẫn không bị bắt giam. Nếu Thọ phạm tội “Gây rối TTCC” thì hành vi của Thọ được quy định tại khoản 2 điều 245 BLHS (phạm tội trong trường hợp có tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt từ 5 đến 7 năm tù giam), đủ cơ sở để bắt giam Nguyễn Văn Thọ để điều tra theo hướng tội “giết người”. Khi đủ cơ sở thì chuyển tội danh theo đúng sự chỉ đạo của Ban Giám đốc (ông Võ Văn Măng, nguyên là phó giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM, Trưởng Ban chuyên án đã chỉ đạo). Việc không bị bắt tạm giam dẫn đến hậu quả là ngay sau khi Trương Văn Cam bị bắt (tháng 12/2001), Nguyễn Văn Thọ đã bỏ trốn. Khi được yêu cầu giải thích về sự chậm trễ này, Nguyễn Mạnh Trung đã đưa ra các lý lẽ ngụy biện không thể chấp nhận được. Ngoài hành vi phạm tội của Thọ trong vụ án này, y còn là tay chân rất đắc lực của Trương Văn Cam, có vai trò rất quan trọng trong tổ chức tội phạm do Trương Văn Cam cầm đầu. Hiện nay ngoài tội “giết người” đang bị truy nã, Nguyễn Văn Thọ đang bị Cơ quan điều tra khởi tố và truy nã về các tội “Tổ chức đánh bạc”, “đánh bạc”, “đưa hối lộ”…, việc Thọ bỏ trốn đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác điều tra, xử lý.

Ngoài việc để lọt tội ác của Nguyễn Văn Thọ, trong quá trình điều tra, Bùi Anh Việt (Bảy Việt) đã khai về việc Trương Văn Cam, Dương Ngọc Hiệp, Thọ "Đại Úy" chỉ đạo Kim Anh, Tôn Vĩnh Đắc (Long "Đầu Đinh"), Tư miên… đưa Bảy Việt trốn sang Campuchia một thời gian, sau đó mới bố trí cho Bảy Việt trở về ra đầu thú…, Nguyễn Mạnh Trung có biết hành vi của các đối tượng nêu trên nhưng đã làm ngơ, không chỉ đạo điều tra viên xác minh làm rõ, dẫn đến việc bỏ lọt các hành vi phạm tội “Che giấu tội phạm; Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép” của Trương Văn Cam và đồng bọn.

Căn cứ những tài liệu chứng cứ ban đầu thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an đã ra quyết định khởi tố để điều tra đối với Nguyễn Mạnh Trung, nguyên là Phó Trưởng phòng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP HCM về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” (Đ.285 - BLHS), sau đó đã thay đổi sang tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại Điều 313 - BLHS. Tuy nhiên, đến nay, căn cứ những tài liệu chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an có đủ cơ sở để kết luận và đã ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can Nguyễn Mạnh Trung từ tội “Che giấu tội phạm” sang tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại Đ.281 - BLHS.

Cụ thể như sau:

- Trong nhiều cuộc họp chuyên án, Ban giám đốc, cụ thể là ông Võ Văn Măng (Út Măng) đã nhận định: Nguyễn Hữu Thịnh là tên cầm đầu, chủ mưu, và tích cực thực hiện tội phạm, Nguyễn Văn Thọ là bố đẻ của Nguyễn Hữu Thịnh nên Thọ cũng phải có vai chủ mưu và cầm đầu trong vụ án. Từ đó chỉ đạo các đơn vị và Cơ quan điều tra phải thu thập, củng cố chứng cứ để khởi tố và bắt Thọ "Đại Úy" về tội “Giết người” (BL: V2 T2: 447).

- Theo lời khai của một số nhân chứng và bị can (tài liệu do Công an TP HCM thu thập được trong giai đoạn đang điều tra) thì sau khi biết Thịnh bị đánh ở đường Hải Triều (Thịnh quay lại quán 136 Nguyễn Thái Học và báo cho Thọ biết) (BL: V2 T1: 649, 653, 676). Thọ đang ngồi nhậu với Phạm Văn Minh nên bảo với Minh “đi”, và lấy xe máy chạy đi trước (BL: V2 T1: 767 - 771). Minh hiểu là Thọ bảo ra Hải Triều để đánh nhau nên đã chạy vào bếp tìm hung khí và cùng Nguyễn Hữu Chung đầu bếp chạy xe theo Thọ ra Hải Triều, tên Nguyễn Hùng Cường (Cường anh - con rể Trương Văn Cam) chủ quán 136 Nguyễn Thái Học thấy vậy cũng ra theo. Cả bọn vừa có mặt ở quán Cấm Chỉ, số 4 đường Hải Triều thì xảy ra đánh nhau.

Cũng theo tài liệu do Công an TP HCM thu thập được trong giai đoạn đang điều tra, khi Nguyễn Hữu Thọ ra đến quán Cấm Chỉ thì xảy ra đánh nhau, Thọ xông vào cướp 2 vỏ chai bia đập vỡ, cầm hai tay làm hung khí, miệng hò hét chửi bới “Đ.m thằng nào đánh con tao? Đánh chết nó đi” và đuổi đánh anh Sơn chạy vào trong quán Cấm Chỉ, Thọ đến trước bậc tam cấp vào bên trong quán Cấm Chỉ thì bị tên Hồ Thanh Tùng đâm nhầm một nhát vào phía sau lưng, trên vùng bả vai trái. Thọ bị thương và sau đó được đồng bọn đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện. Theo lời khai của Trương Tấn Phi, khi nằm điều trị ở bệnh viện Sài Gòn, Thọ đã bàn với Phi cách khai báo khi công an hỏi phải khai là đi mua chân gà, thấy có đánh nhau vào can thì bị đâm nhầm.

- Với những tài liệu đã thu thập được ở trên, Nguyễn Mạnh Trung đều báo cáo với Ban giám đốc và Ban chuyên án là: Tài liệu chứng cứ thu thập được về Thọ đại úy còn yếu, chưa đủ cơ sở để khởi tố và bắt Nguyễn Văn Thọ về tội “Giết người”. Theo tường trình của ông Út Măng với Cơ quan điều tra, trong một cuộc họp chuyên án, khi nghe anh Mạnh Trung vẫn báo cáo chưa đủ cơ sở để khởi tố và bắt Thọ về tội “giết người”, ông Út Măng có nói: “không bắt được tội này (ý nói tội giết người), thì bắt tội khác”, Nguyễn Mạnh Trung liền nói “nếu bắt về tội gây rối TTCC, hình phạt nhẹ, Viện kiểm sát không phê”. Vì vậy, ông Võ Văn Măng mới chỉ đạo Cơ quan điều tra tập hợp tài liệu trao đổi thống nhất với VKSTP về việc xử lý Nguyễn Văn Thọ.

- Ngày 7/8/2000, Cơ quan điều tra gồm có Nguyễn Mạnh Trung (Phó thủ trưởng), anh Lý Văn Ngộ (Đội trưởng Đội 4), Đặng Hải Tương (ĐTV) thụ lý hồ sơ đã họp với VKSND TP HCM gồm: ông Phạm Thanh Xuân (Trưởng phòng KSĐT - TA), bà Lê Thị Xuân Hoa (KSV) để nghe Cơ quan điều tra báo cáo kết quả điều tra vụ án, và bàn thống nhất xử lý một số đối tượng trong đó có Nguyễn Văn Thọ. Tại cuộc họp sau khi nghe Cơ quan điều tra báo cáo những tài liệu nêu trên về Thọ, ông Xuân đã có ý kiến: “Về hành vi giết người chứng cứ yếu, nhưng khởi tố về tội gây rối trật tự công cộng thì đủ căn cứ, bắt đấu tranh theo hướng tội giết người để tìm chứng cứ chứng minh, nếu có chuyển tội danh giết người thì chắc chắn hơn. Cần tập hợp hồ sơ để VKS nghiên cứu, áp dụng biện pháp ngăn chặn cho phù hợp”. Tại cuộc họp này Nguyễn Mạnh Trung cũng đã có ý kiến “Cơ quan điều tra sẽ có văn bản gởi xin ý kiến Ban Giám đốc và có công văn gởi VKS để quyết định”(BL: 546, 547). Tuy nhiên, ngay sau cuộc họp, mặc dù ĐTV (Đặng Hải Tương) đã có báo cáo đề xuất khởi tố và bắt Nguyễn Văn Thọ về tội “Gây rối TTCC” và dự thảo báo cáo gửi ông Võ Văn Măng với nội dung đã thống nhất trong cuộc họp với VKS. Không những vậy, anh Tương còn dự thảo cả các quyết định khởi tố, lệnh bắt tạm giam, khám xét đối với Nguyễn Văn Thọ về tội “gây rối TTCC”. Nhưng Nguyễn Mạnh Trung đã không đồng ý khởi tố và bắt giam Thọ "Đại Úy", tự sửa lại dự thảo báo cáo của điều tra viên với nội dung sai với quan điểm của VKS, Nguyễn Mạnh Trung đã sửa lại báo cáo có nội dung: “… nếu khởi tố Thọ về tội “gây rối trật tự công cộng” thì không thuyết phục, cần thu thập tài liệu tiếp, khi đủ cơ sở khởi tố y về tội giết người thì có lợi hơn” (BL: 545). Vì không nắm được quan điểm của VKS nên ông Võ Văn Măng đã đồng ý với đề xuất của Cơ quan điều tra do Nguyễn Mạnh Trung ký (BL: 546).

Mặt khác theo ông Phạm Thanh Xuân, Trưởng Phòng KSĐT-TA Viện KSNDTP cho biết: Trong quá trình kiểm sát điều tra vụ án, Viện Kiểm sát TP không hề được biết được chủ trương của Ban chuyên án chỉ đạo Cơ quan điều tra phải tập trung củng cố chứng cứ để khởi tố và bắt Thọ đại úy về tội “giết người”, Cơ quan điều tra không chủ động trao đổi tài liệu, chứng cứ về Thọ, chỉ đến khi Viện kiểm sát có công văn yêu cầu tập hợp tài liệu chứng cứ để xử lý Nguyễn Văn Thọ thì mới có cuộc họp nêu trên.

Mặc dù trong báo cáo số: 2799/CV-PC16-Đ4 ngày 12/8/2000 do Nguyễn Mạnh Trung ký gửi ông Võ Văn Măng có nêu: “… Tiếp tục thu thập tài liệu chứng cứ để khởi tố Thọ về tội “giết người” thì thuyết phục hơn…”, nhưng cho đến khi kết thúc điều tra vụ án, Cơ quan điều tra cũng không có hoạt động nào để thu thập thêm tài liệu về Nguyễn Văn Thọ.

Như vậy, với những tài liệu có trong hồ sơ và những chứng cứ thu thập được đã thể hiện: Nguyễn Mạnh Trung biết rõ Thọ có dấu hiệu phạm tội “giết người”, đặc biệt nếu phạm tội “gây rối trật tự công cộng” ở khoản 2 điều 245 BLHS thì càng có cơ sở chắc chắn để bắt Thọ, tạo thuận lợi cho việc điều tra theo hướng tội “Giết người” thì thuận lợi hơn khi để Thọ ở ngoài xã hội. Nguyễn Mạnh Trung lại báo cáo không trung thực (ý kiến của VKS), thể hiện thái độ lập lờ, không muốn bắt Nguyễn Văn Thọ, đây rõ ràng đã cố tình lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao cản trở quá trình điều tra, xử lý đối với tên Thọ. Trong khi đó tên Huỳnh Anh Tuấn chỉ phạm tội “Không tố giác tội phạm”, một tội danh nhẹ nhất trong vụ án này nhưng vẫn bị bắt tạm giam từ 30/5/2000 đến 20/10/2000 mới được tại ngoại. Thử hỏi, so với Thọ thì ai đáng bắt hơn?

Khi Bùi Anh Việt ra đầu thú và bị bắt, đã khai ra việc Hiệp phò mã, Thọ "Đại Úy" đã bàn bạc tại nhà với Kim Anh và chỉ đạo các tên Tư Miên, Long "đầu đinh"… đưa Bảy Việt trốn sang Campuchia một thời gian, sau đó mới bố trí cho Bảy Việt trở về ra đầu thú. Nguyễn Mạnh Trung biết rõ hành vi phạm tội của các đối tượng liên quan, nhưng đã cố tình không chỉ đạo điều tra viên xác minh triệt để và không xử lý các hành vi phạm tội này của Trương Văn Cam và đồng bọn, thể hiện tại cuộc họp ngày 13/2/2001, giữa Cơ quan điều tra với Phòng Kiểm sát trị an - VKSND TP HCM, Nguyễn Mạnh Trung đã phát biểu ý kiến: “Đối với Hiệp và một số tên khác có liên quan tới chỗ Bảy Việt trốn đi Campuchia thì cho cảnh cáo Hiệp vì chưa đến mức phải khởi tố” (BL: V2 T2: 597a).

Mặc dù Nguyễn Mạnh Trung không thừa nhận có mối quan hệ mật thiết với Trương Văn Cam và đồng bọn, nhưng với những tài liệu chứng cứ thu thập được khẳng định: Nguyễn Mạnh Trung và Trương Văn Cam có mối quan hệ từ những năm 1991-1992. Mối quan hệ này ngày càng mật thiết, Trương Văn Cam đã nhiều lần gặp gỡ, mời Nguyễn Mạnh Trung đi ăn nhậu, hát karaoke tại các nhà hàng như: Cánh Buồm, Ra Khơi, Thanh Vy, Quê Hương… Theo lời khai của Trương Văn Cam thì khoảng năm 1994, y đã đến nhà riêng của Nguyễn Mạnh Trung tại đường Võ Thị Sáu, Q1 để dự sinh nhật con trai Nguyễn Mạnh Trung (cháu Nguyễn Minh Nam sinh 1984). Ngược lại tháng 11/1998, Nguyễn Mạnh Trung đã đến viếng đám tang khi chị gái Trương Văn Cam là Trương Thị Sẫm (mẹ Thọ "Đại úy") chết tại nhà riêng ở 41 Lý Chính Thắng, Q3.

Trong quá trình điều tra vụ án, bị can Trương Văn Cam còn khai: quen biết Nguyễn Mạnh Trung từ những năm 1992, do Trương Văn Cam chủ động làm quen và đã nhiều lần đi nhậu cùng Nguyễn Mạnh Trung, cho Nguyễn Mạnh Trung tiền (tổng số khoảng 70 đến 80 triệu) vào những lần Trung đi công tác, mời khách đi ăn nhậu ở nhà hàng, gọi Trương Văn Cam đến trả tiền; Nguyễn Mạnh Trung biết Trương Văn Cam mở các sòng bài, mở nhà hàng… Mục đích của Trương Văn Cam quan hệ với Nguyễn Mạnh Trung là để Mạnh Trung làm ngơ hoặc nhờ giúp đỡ khi các hoạt động phạm pháp của y và đàn em bị phát hiện. Bị can Lê Thị Kim Anh khai có mối quan hệ trên mức tình cảm với Nguyễn Mạnh Trung. Ngoài ra các bị can khác như: Đinh Văn Được, Nguyễn Tuấn Hải (Nguyễn Tuấn Hải),…đều là đàn em thân cận của Trương Văn Cam khai về việc có nghe Trương Văn Cam kể lại việc cho anh Trung tiền, nhờ anh Trung can thiệp vào các vụ án do đàn em của Trương Văn Cam gây ra…Nguyễn Mạnh Trung không thừa nhận các lời khai nói trên, Cơ quan điều tra chưa có cơ sở kết luận một cách chắc chắn, đang tiếp tục điều tra để làm rõ để xử lý sau.

Như vậy, hành vi của Nguyễn Mạnh Trung đã phạm tội “ Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 3, Điều 281 của Bộ luật Hình sự.

b. Hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án của Đặng Hải Tương

Trong quá trình điều tra, các bị can Bùi Anh Việt (Bảy Việt), Lê Thị Kim Anh, Dương Ngọc Hiệp đã khai báo về hành vi của Đặng Hải Tương - Điều tra viên thụ lý vụ án:

- Sau khi Bùi Anh Việt (Bảy Việt) ra đầu thú (17/3/2000), khai báo về vụ án theo sự sắp xếp ban đầu của Dương Ngọc Hiệp. Tuy nhiên khi thấy tất cả các bị can đã bị bắt đều khai báo theo hướng đổ tội cho y, Bảy Việt thấy thái độ làm việc của điều tra viên Tương không bình thường, thiếu khách quan, nhất là việc tổ chức đối chất giữa Bảy Việt và các bị can khác, tất cả đều khai cho Bảy Việt là người tổ chức, cầm đầu, phân phát dao cho đồng bọn, dẫn đầu đi đánh, chém chết 2 người… đều được điều tra viên Tương ghi nhận để buộc tội y.

- Khi Bảy Việt khai sự thật về việc Hiệp, Thọ đã bàn bạc tại nhà Kim Anh để tổ chức đưa Bảy Việt trốn sang Campuchia một thời gian, sau đó mới bố trí cho Bảy Việt trở về ra đầu thú… anh Tương đã tỏ thái độ bực tức, đe dọa Bảy Việt như: “Bảy Việt khai ra con cháu Trương Văn Cam thì hết thuốc chữa rồi, bây giờ làm gì có Bao Công, Bảy Việt ơi! Bây giờ đã họa lên bức tranh rồi, không xóa được đâu…” (BL: 681).

- Anh Tương đã tổ chức cho Bảy Việt đối chất với Kim Anh, Dương Ngọc Hiệp, Nguyễn Văn Thọ, Tôn Vĩnh Liêm về việc bàn bạc, tổ chức đưa Bảy Việt trốn sang CPC và đưa Bảy Việt về Việt Nam ra đầu thú. Khi cho đối chất, anh Tương đã bỏ ra ngoài để Kim Anh, Thọ, Hiệp có điều kiện gặp riêng Bảy Việt để năn nỉ, thuyết phục Bảy Việt không được khai báo đúng sự thật, hứa hẹn ở ngoài chạy tội cho y, sau đó anh Tương mới vào ghi biên bản theo nội dung đã được sắp đặt trước và Bảy Việt phản cung, nhận tự mình trốn đi CPC (tức là phủ nhận lời khai trước đó của y) (BL: 1068, 1085).

Đến khi Bùi Anh Việt nhận được Kết luận điều tra và Cáo trạng thấy mình bị buộc tội nặng, có khả năng bị chung thân hoặc tử hình (không đúng với lời hứa chạy tội của Thọ và Hiệp), Bảy Việt biết mình bị hãm hại nên đã làm đơn kêu oan, tố cáo gửi lên Tổng cục Cảnh sát và Bộ Công an xem xét, đồng thời khai rõ sự việc đối chất như đã nêu trên. Anh Tương là người dẫn giải Bảy Việt từ trại giam Chí Hòa lên trại tạm giam của Bộ Công an, trên đường đi anh Tương vẫn tiếp tục đe dọa Bảy Việt “mày đi đâu cũng phải chết thôi Bảy Việt ạ…” (BL: 713, 729, 757).

- Tên Tôn Vĩnh Đắc khai: Khi anh Tương gọi Long lên hỏi về việc đưa Bảy Việt đi CPC, anh Tương chỉ hỏi về Tôn Vĩnh Liêm (em ruột Long) có phải là người lái xe đưa Bảy Việt đi CPC hay không? Mặc dù Long đầu đinh đã khai không phải là Liêm, vì Liêm không biết lái xe (BL: 1165, 1142, 1167), mà là Nguyễn Tấn Lộc (em họ Long, người đã trực tiếp lái xe đưa Bảy Việt đi sang Campuchia) nhưng anh Tương không chấp nhận. Thực tế khi anh Tương gọi Liêm lên đối chất với Bảy Việt, thì Bảy Việt xác nhận không phải là Liêm đã lái xe (tức là đưa đối tượng không liên quan đến sự việc để có cớ xác định Bảy Việt khai sai).

Như vậy lời khai ban đầu của Bảy Việt về việc Hiệp, Thọ đã bàn bạc tại nhà Kim Anh và tổ chức đưa Bảy Việt trốn sang Campuchia một thời gian, sau đó mới bố trí cho Bảy Việt trở về ra đầu thú là chính xác. Nhưng điều tra viên Tương đã không tích cực đấu tranh, xác minh triệt để, nhất là tình tiết Bảy Việt khai tên Liêm lái xe, đến khi hỏi tên Long "Đầu Đinh", gặp Tôn Vĩnh Liêm, cho Bảy Việt đối chất và nhận dạng xác định không phải Liêm là lái xe. Anh Tương đã không tiến hành xác minh tiếp để làm rõ ai là người lái xe theo mô tả của Bảy Việt (thời điểm này tên Long không khai tên Lộc là lái xe như lời khai của Long hiện nay).

- Việc tổ chức đối chất giữa Bảy Việt với các đối tượng: Thọ "Đại Úy", Hiệp "Phò Mã", Kim Anh… mặc dù có kế hoạch đề xuất đã được lãnh đạo duyệt, trong kế hoạch đề ra phải có 2-3 điều tra viên tham gia, mời kiểm soát viên tham gia chứng kiến, nhưng anh Tương đã không thực hiện đúng kế hoạch. Trong các biên bản đối chất ghi ngày 21/11/2000, giữa Bảy Việt với Kim Anh, Hiệp, Thọ tại Nhà tạm giữ của PA24 - Công an TP HCM ở số 4 Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh có ghi tên và chữ ký của 2 điều tra viên là Đặng Hải Tương và Lê Anh Tuấn (BL: 568). Nhưng xác minh trên thực tế (sổ ghi tình hình ca gác, sổ ghi tình hình xuất - nhập bị can, sổ theo dõi tình hình của đội quản giáo trong các khu giam, giữ) xác định trong ngày 21/11/2000, tại Nhà tạm giữ của PA24-CATP HCM ở số 4 Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh chỉ có một mình anh Đặng Hải Tương đến đăng ký làm việc với bị can Bùi Anh Việt và triệu tập người lên làm việc là Nguyễn Văn Thọ, Lê Thị Kim Anh (buổi sáng), Dương Ngọc Hiệp (buổi chiều) (BL: 518, 519, 520 đến 530). Điều tra viên Lê Anh Tuấn khai với Cơ quan điều tra: Trên thực tế có một số lần anh Tuấn bận, anh Tương tổ chức đối chất một mình, nhưng vẫn ghi tên anh Tuấn, sau đó đưa đưa biên bản lại cho anh Tuấn ký để hợp thức, vì trong kế hoạch đối chất đã ghi ít nhất phải có 2 điều tra viên. Anh Tuấn xác định trong các cuộc đối chất với Bảy Việt ngày 21/11/2000 anh Tuấn không có mặt, sau đó Đặng Hải Tương đưa lại các biên bản đó anh Tuấn đã ký tên mà không xem lại nội dung (BL số 491, 499). Chị Nguyễn Thị Lợi là cán bộ trực tiếp dân của PA24 CATP cũng xác nhận ngày 21/11/2000 chỉ có anh Tương triệu tập 3 đối tượng nói trên lên làm việc (BL: 516). Như vậy, việc Bảy Việt, Hiệp, Kim Anh khai anh Tương bỏ ra ngoài khi đối chất là có cơ sở, việc làm này đã có tác động đến Bảy Việt phải khai lại có lợi cho Thọ, Hiệp và Kim Anh thoát tội. Đến khi Bảy Việt nhận được Kết luận điều tra và Cáo trạng thấy mình bị buộc tội nặng nên mới phản cung lần thứ 2 là có cơ sở. Đến nay, Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội “Che giấu tội phạm; Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép” của Trương Văn Cam, Dương Ngọc Hiệp, Lê Thị Kim Anh… trong việc tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC đúng như nội dung khai báo ban đầu của Bảy Việt.

Như vậy, trong quá trình điều tra vụ án, điều tra viên Đặng Hải Tương có ý thức loại các đối tượng: Trương Văn Cam, Dương Ngọc Hiệp, Nguyễn Văn Thọ, Lê Thị Kim Anh… nên đã có hành vi tổ chức đối chất, tạo các lời khai không đúng sự thật, có lợi cho bọn tội phạm, dẫn đến việc bỏ lọt các đối tượng phạm tội “Che giấu tội phạm; Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép” như đã nêu trên.

Mặc dù không thừa nhận sai phạm của mình, nhưng hành vi của Tương thể hiện dấu hiệu của tội “Làm sai lệch hồ sơ” quy định tại điều 300 - BLHS, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can, ra lệnh bắt, tạm giam trong thời hạn 4 tháng kể từ 7/8/2002, để điều tra, xử lý.

Đây là vụ án cùng một lúc giết chết 2 mạng người với tính chất rất côn đồ, hung hãn và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Một trong hai nạn nhân của vụ án là chiến sĩ cảnh sát hình sự, lý do chỉ vì mâu thuẫn, xung đột nhất thời với các đối tượng là những tên là con cháu, đàn em của tên trùm tội phạm Trương Văn Cam. Với bản chất là những tên lưu manh, côn đồ hung hãn, bọn chúng đã tổ chức lực lượng, thực hiện hành vi giết người rất dã man, trắng trợn, nơi đông người. Đây là vụ án giết người có tổ chức, có đông đối tượng, sử dụng hung khí nguy hiểm, hành động rất tàn bạo, quyết tâm giết người đến cùng. Vụ án có nhiều tình tiết hết sức phức tạp. Công tác bảo vệ, khám nghiệm hiện trường ngay từ khi vụ án mới xảy ra đã có những sai lầm nghiêm trọng, không được thực hiện, dẫn đến công tác điều tra gặp rất nhiều khó khăn, kéo dài, một số nội dung của vụ án không thể khắc phục được như không thu thập được dấu vết ở hiện trường, không thu giữ được hung khí, tang vật vụ án, không phát hiện kịp thời các nhân chứng có mặt ở hiện trường và động viên họ khai báo… Ngay từ khi mới xảy ra vụ án đã có sự chỉ đạo, đối phó của Trương Văn Cam đối với hoạt động điều tra. Nhiều bị can, nhân chứng và đối tượng liên quan đã bị Trương Văn Cam và đồng bọn khống chế hoặc bị ảnh hưởng của Trương Văn Cam và bọn đàn em mà không dám khai báo hoặc khai báo không trung thực, theo sự xắp sếp của bọn tội phạm. Trong quá trình điều tra, đã có một số cán bộ trong cơ quan điều tra tiếp tay, dung túng cho bọn tội phạm dẫn đến việc bỏ lọt những tên tội phạm nguy hiểm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Trong vụ án này còn có tên Nguyễn Văn Thọ: đáng lẽ khi biết con mình là Nguyễn Hữu Thịnh chuẩn bị đi đánh nhau, Nguyễn Văn Thọ phải can ngăn. Nhưng ngược lại, với bản chất là tên côn đồ, hung hãn, lại là con cháu, một trong những tay chân thân cận của Trương Văn Cam nên Nguyễn Văn Thọ đã lôi kéo, xúi giục đồng bọn tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân Thọ cũng tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Sau vụ án, Nguyễn Văn Thọ lại là tên tích cực dàn xếp, khống chế đồng bọn không được khai báo sự thật, bàn bạc, tổ chức cho đồng bọn đi trốn, để đối phó với Cơ quan điều tra.

Với những tài liệu, chứng cứ thu thập được đã có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Văn Thọ đã phạm tội giết người theo quy định tại điều 93 - BLHS năm 1999, với vai trò là tên cầm đầu, xúi giục đồng bọn phạm tội. Ngoài ra Nguyễn Văn Thọ còn bị Cơ quan điều tra của Công na TP HCM và Bộ Công an khởi tố về các tội: tổ chức đánh bạc, đưa hối lộ… Tuy nhiên, sau khi Trương Văn Cam bị bắt, Nguyễn Văn Thọ đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã, khi nào bắt được sẽ đề nghị xử lý sau.

Trong quá trình điều tra, bị can Trương Văn Cam còn khai: ngay sau khi nhận được tin do Hiệp "phò mã" báo, Trương Văn Cam đang ở Hà Nội đã bay về TP.HCM và đã biết được do Thọ đại úy và Thịnh gây ra vụ án. Trương Văn Cam bàn với Hiệp và Thọ để bố trí cho Thịnh ra đầu thú trước, sau đó gặp anh Nguyễn Văn Nam (Nam "Đen") là cán bộ điều tra, dưới quyền anh Trung để thông qua anh Nam đen hỏi xin ý kiến anh Trung về việc đưa Bảy Việt ra đầu thú, sau đó Trương Văn Cam gặp lại anh Nam và được nghe anh Nam nói lại ý kiến của anh Trung là cho Bảy Việt trốn đi một thời gian. Ngoài ra Trương Văn Cam còn khai báo trong quá trình quan hệ với Nam, Trương Văn Cam đã nhiều lần mời anh Nam đi nhậu ở nhà hàng, cho anh Nam tiền tổng cộng khoảng 2.000.000 đồng và 100 USD. Qua xác minh được biết anh Nguyễn Văn Nam cán bộ Phòng Cảnh sát điều tra Công an thành phố, nhưng không phải là điều tra viên được phân công tham gia vụ án, anh Nam khai có quen biết Trương Văn Cam và thỉnh thoảng có uống cà phê với Trương Văn Cam vào thứ bảy hoặc chủ nhật khi 2 người đi chơi, gặp nhau ở quán cafe góc đường Lý Tự Trọng - Trương Định, Q1. Anh Nam không thừa nhận có quan hệ làm ăn, nhờ vả gì trong công việc đối với Trương Văn Cam và ngược lại, không có việc Trương Văn Cam nhờ hỏi Mạnh Trung như nội dung ở trên. Nguyễn Mạnh Trung cũng không thừa nhận việc này. Đây chỉ là lời khai của Trương Văn Cam, chưa có cơ sở để xác minh, kết luận. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ đề xuất xử lý sau.



Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 6:01 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết
Vụ cố ý gây thương tích Lê Ngọc Lâm



Trước khi cho đàn em xử lý Dung Hà, Năm Cam đã kịp dùng nữ quái đất cảng này vào phi vụ tạt axít Lê Ngọc Lâm (Lâm "Chín Ngón") khi tên này hé ra ý định tranh giành chức "đại ca" trong thế giới ngầm. Do Lâm có thể lực tốt, lại được cấp cứu kịp thời, nên thoát chết, nhưng bị thương tật rất nặng.

A. Các vụ án do Trương Năm Cam và đồng bọn thực hiện
III. Vụ cố ý gây thương tích Lê Ngọc Lâm (Lâm "Chín Ngón")
Lê Ngọc Lâm sinh năm 1945 tại Hà Tây. Năm 1954, theo mẹ và bố dượng di cư vào TP HCM. Đến năm 1957 thì bị bố dượng đuổi ra khỏi nhà, bắt đầu cuộc sống lang thang. Quá trình ở ngoài xã hội đã giao du với các phần tử xấu hoạt động phạm pháp, bị chính quyền Sài Gòn bắt giam nhiều lần về các tội: trộm cắp, cưỡng đoạt, đánh người, giết người... Từ năm 1966 đến 1968, bị bắt đi trại tập trung tại Phú Quốc. Từ năm 1970 đến 1975, bị giam tại Côn Đảo. Năm 1975-1988, chính quyền cách mạng vẫn tiếp tục giam giữ cải tạo sau đó trả tự do (BL: V3 T1: 37, 131, 132, 133, 134). Năm 1995-1996, có quan hệ mật thiết với Minh Samasa, trùm xã hội đen chuyên hoạt động cưỡng đoạt, trốn thuế tại cảng cá Vũng Tàu sau đó đã bị lực lượng công an xoá sổ. Với bề dày hoạt động tội phạm như vậy, Lâm "Chín Ngón" được giới tội phạm tôn sùng như một "đại ca".
Lợi dụng hoàn cảnh của Lâm khi mới ra tù gặp nhiều khó khăn, Trương Văn Cam đã tìm cách "giúp đỡ" Lâm với ý đồ để Lâm bị mang ơn mà thực hiện các yêu cầu phạm pháp của Trương Văn Cam sau này, bằng cách nói với anh Mười Đen cho Lâm một phần hùn bán đồ điện tử tại chợ Huỳnh Thúc Kháng. Kinh doanh được một thời gian thì anh Lâm và anh Mười Đen mâu thuẫn nhau, hai người chia vốn không làm chung nữa. Anh Lâm chuyển sang quận 10 buôn bán thuốc tây. Đồng thời, Năm Cam lại hùn hạp với Tư Râu, Mười Đen, Chín Cam thuê mặt bằng tại 49 Huỳnh Thúc Kháng buôn bán hàng điện tử. Thấy Năm Cam làm ăn phát đạt, Lâm thường qua lại kiếm chuyện chửi Mười Đen, thỉnh thoảng còn chửi xiên xỏ Năm Cam: "Tụi bay dựa hơi Năm Cam, tao thách tụi bay kêu Năm Cam ra đây" (BL: V3 T1: 47, 53). Bắt đầu từ thời điểm này, mâu thuẫn giữa hai người phát sinh.
Tiếp đến năm 1995, bà Nguyễn Thị Mai chủ vựa cá tại chợ Cầu Ông Lãnh có hợp đồng tiêu thụ cá với Xí nghiệp đánh cá Kiên Giang. Khi chuyển ngư trường về Vũng Tàu thì bị một số tên xã hội đen hăm doạ giết và cản trở việc kinh doanh cá. Bà Mai đã tìm cách liên hệ với nhóm người này qua điện thoại để xin được yên ổn làm ăn thì được trả lời người quyết định việc này là anh Lâm. Nguyễn Hữu Thế Trạch (con rể bà Mai) đã nhờ Năm Cam nói với Lâm để được giúp đỡ. Việc vai trò của Lâm rất đặc biệt đối với giới xã hội đen ở Vũng Tàu và việc một "ông trùm" như Trương Văn Cam lại phải đi xin Lâm giúp làm danh dự của bị tổn thương, nhưng vì nể Trạch, Trương Văn Cam đã phải nhịn nhục, đích thân cùng Trạch tới nhà Lâm để nói với Lâm: "Đây là thằng cháu có gì nhờ anh giúp" (BL: V3 T1 : 44, 51, 54).
Khoảng năm 1997-1998, có lần Lâm mời Trương Văn Cam đến uống bia tại nhà hàng karaoke trên đường Trần Hưng Đạo, quận 5. Khi thấy một số đàn em của Lâm mời Trương Văn Cam uống bia và tỏ vẻ thân thiện, Lâm chửi đàn em " Đ...mẹ bọn bay, nó là thằng cờ bạc chứ là gì mà tụi bay xum xoe nó". Ngoài ra, còn có thông tin đến tai Trương Văn Cam (Bình Kiểm nói) là Lâm muốn gây chuyện với Cam. Tháng 7/1999, vợ Lâm điện thoại tới nhà Trương Văn Cam, yêu cầu Cam phải tới nhà Lâm trao đổi công chuyện, nếu không đến mai mốt đừng trách. Tất cả những mâu thuẫn trên đã làm cho Trương Văn Cam hết sức bực bội và quyết định thanh toán Lâm để loại trừ hiểm hoạ (BL: V3 T1 : 44, 50, 52, 54).
Tối ngày 9 hoặc 10/7/1999, Vũ Hoàng Dung (Dung Hà) hộ khẩu thường trú tại số 1/23 phố Trạng Trình, phường Phan Bội Châu, quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng, tạm trú tại số 19 Bùi Thị Xuân, quận 1, TP HCM đi xe máy do Nguyễn Duy Quân (Quân béo) hộ khẩu thường trú tại số 22/10 đường Trần Nguyên Hãn, phường Cát Dài, quận Lê Chân, TP Hải Phòng, tạm trú tại số 448/3G đường Nguyễn Tất Thành, phường 18, quận 4, TP HCM chở đến nhà Trương Văn Cam ở số 107/38 đường Trương Định, phường 6, quận 3, TP HCM để thăm Trương Văn Cam bị ốm. Trong lúc Trương Văn Cam nói chuyện với Vũ Hoàng Dung có Nguyễn Duy Quân cùng ngồi nghe. Cam nói với Dung Hà: "Có Lâm "Chín Ngón" thường nói xấu anh, làm mất uy tín của anh giữa đám đàn em của Lâm. Em xem cho đứa nào chém cho Lâm "Chín Ngón" vài dao để nó không kiếm chuyện với anh nữa". Vũ Hoàng Dung nói: "Chém làm gì, vì mang dao đi lình kình, cho nó một ca axít". Trương Văn Cam đồng ý và gọi điện cho Nguyễn Văn Thọ (Thọ "Đại Uý") đi mua axít. Hôm sau, Thọ mang axít về đựng trong bình nhựa màu trắng (loại can nhựa 1 lít) đưa cho Dung tại nhà Trương Văn Cam. Vũ Hoàng Dung hỏi Trương Văn Cam mặt Lâm chín ngón. Trương Văn Cam đã chỉ số nhà Lâm chín ngón ở 297, đường 3-2, quận 10 và tả hình dáng Lê Ngọc Lâm cho Vũ Hoàng Dung. Dung đổ một ít axít trong can xuống cống thoát nước tại nhà Trương Văn Cam để thử và và chê axít này loãng quá không đạt yêu cầu rồi nói với Trương Văn Cam để em mua axít đậm đặc, Cam đồng ý. Sau đó, Quân chở Dung đem theo can axít còn lại về số 19 Bùi Thị Xuân, quận 1, nơi Dung tạm trú, cất can axít và hai người tiếp tục đi đến ngã tư đường 3-2 - Sư Vạn Hạnh (khu vực nhà Lê Ngọc Lâm). Tại đây Quân ngồi uống nước mía còn Dung đi bộ cách xa chỗ Quân ngồi khoảng 100 m, gặp và nói chuyện với Nguyễn Văn Thọ và 3 thanh niên nữa nhưng Quân không biết tên. Sau đó, Quân lại chở Dung về số 19, Bùi Thị Xuân, quận 1 (BL: V3 T1 : 45, 48, 50, 56).
Khoảng 20h15" ngày 14/7/1999, sau khi dọn hàng xong, Lê Ngọc Lâm chở vợ là Nguyễn Thị Kim Liên cùng con trai 4 tuổi đi ăn tối tại quán phở Lài trên đường Cửu Long thuộc cư xá Bắc Hải phường 15, quận 10, TP HCM. Khi đến nơi, chị Liên và con trai vào bàn ngồi trước (lúc này khoảng 20h30"), Lâm đang dựng xe máy thì bị một thanh niên khoảng 30 tuổi đi đến cầm chiếc ca nhựa màu đỏ đựng axít bất ngờ tạt vào mặt và bỏ chạy sang bên kia đường, nhảy lên chiếc xe máy đang nổ máy đợi sẵn bỏ chạy. Lâm hét lên và gục xuống. Chị Liên cùng mọi người đưa Lâm đến cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy (BL: V3 T1 : 15-35). Kết quả giám định pháp y tại bản giám định y-pháp số 41/GĐYP ngày 18-5-2002 của Viện Y học Tư pháp Trung ương - Bộ Y tế khu vực phía Nam kết luận: Tổn thương do bị tạt axít để lại di chứng sẹo xấu vùng mặt gây ảnh hưởng thẩm mỹ bình thường của mặt, tổn hại toàn bộ mi mắt, hở mi, sau đã ghép da phục hồi, tổn hại giác mạc gây sẹo mộng thịt giả co kéo giác mạc, tổn hại hai bên, giảm thị lực nghiêm trọng. Tổn thương bỏng do bị tạt axít đã gây ảnh hưởng về mặt tâm lý cho nạn nhân. Tỷ lệ tổn hại sức khoẻ toàn bộ vĩnh viễn là 75% (BL: V3 T1: 9).
Được tin báo của quần chúng, công an phường 15, quận 10 đã đến ngay hiện trường đưa Lâm đi cấp cứu, đồng thời ghi lời khai của những người biết việc. Thu tại hiện trường một chiếc ca nhựa màu đỏ có quai, cao 11,3 cm, đường kính miệng ca 9,7 cm, đồng thời tiến hành ghi lời khai ban đầu của Lâm. Ngày 15/7/1999, công an phường 15 báo cáo và chuyển hồ sơ ban đầu cho trực ban đội Cảnh sát Điều tra công an quận 10 (BL: V3 T1 : 15-24).
Quá trình thụ lý vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Bộ Công an đã xuống công an quận 10 để xác minh thì được báo cáo hồ sơ đã bị thất lạc. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an chỉ thu được bản phôtô hồ sơ ban đầu của công an phường 15 còn lưu lại tại phòng Cảnh sát Hình sự công an TP HCM và chiếc ca nhựa màu đỏ thu được ở hiện trường do công an quận 10 chuyển giao (BL: V3 T1 : 127, 128, 129, 130).
Sau khi bị tạt axít gây thương tích, Lâm không dám tố cáo mặc dù nghi vấn chủ mưu việc này do Trương Văn Cam (vì sợ thế lực của Trương Văn Cam trong giới giang hồ). Nếu tố cáo, sẽ liên lụy đến bản thân và gia đình. Đến khi Trương Văn Cam bị bắt trong vụ án khác, ngày 12/12/2001, Lâm mới gửi đơn đến cơ quan pháp luật tố cáo sự việc trên.
Trước cơ quan điều tra, Trương Văn Cam đã thừa nhận toàn bộ việc chủ mưu để Vũ Hoàng Dung tổ chức thực hiện việc tạt axít Lâm "Chín Ngón" như nêu trên. Lời khai của Nguyễn Duy Quân, người trực tiếp chở Dung Hà tới nhà Trương Văn Cam, chứng kiến cuộc trao đổi giữa Cam với Dung Hà, chứng kiến việc Cam giao nhiệm vụ tạt axít cho Dung, việc thử axít, việc nhận diện Lâm "Chín Ngón" (BL: V3 T1: 96, 97, 98, 99) phù hợp với lời khai của bị can là chứng cứ khẳng định vai trò chủ mưu của y.
Anh Lê Ngọc Lâm có trình bày với cơ quan điều tra: Trước khi anh bị tạt axít khoảng hơn 30 phút, anh có nhận một cuộc điện thoại của người có tên Phạm Sinh bán dụng cụ y khoa tại Trung tâm Thương mại quận 10, rủ Lâm cá độ bóng đá. Cũng ngay sau đó có 4 người gồm: Đặng Huy Hải (Nam lùn), Nguyễn Phúc, Hoàng nổ (còn gọi là Hoàng MEXICO) cùng một thanh niên nữa đi hai xe máy đến nhà Lâm tại số 297, đường 3-2 quận 10 rủ Lâm đi nhậu nhưng Lâm không đi. Cơ quan điều tra đã triệu tập ghi lời khai của Phạm Sinh, Đặng Huy Hải (Nam lùn), Nguyễn Phúc đều khai không quen biết gì với Lâm, không có quan hệ gì, không biết số điện thoại của nhà Lâm và chưa bao giờ rủ Lâm đi nhậu. Cơ quan điều tra đã cho Lâm và Đặng Huy Hải đối chất nhưng anh Hải vẫn khẳng định không quan hệ và chưa bao giờ đến rủ Lâm đi nhậu. Người có tên là Hoàng "Nổ" (còn gọi là Hoàng MEXICO) chạy xe ôm ở cổng Trung tâm Thương mại quận 10, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không biết họ tên thật và địa chỉ cư trú và từ năm 2001 Hoàng không còn chạy xe ôm ở đó nữa (BL: V3 T1: 74 - 84).
Theo nguồn tin của quần chúng thì Hoàng "nổ" hiện làm cho Tân "Hói" buôn bán xe ôtô ở quận 4. Cơ quan điều tra gọi hỏi Nguyễn Trọng Hoàng (Hoàng "đệ") đang làm thuê cho Tân "Hói" hiện ở 240 Đoàn Văn Bơ, phường 14, quận 4 nhưng Hoàng không thừa nhận có quan hệ với anh Phạm Sinh, Nguyễn Phúc, Đặng Huy Hải. Các anh Sinh, Phúc, Hải và cả Lâm, người bị hại, cũng xác định Hoàng "Đệ" không phải là Hoàng "Nổ" (BL: V3 T1: 123, 125). Do vậy cơ quan điều tra thấy không đủ cơ sở kết luận số đối tượng mà Lâm tố cáo có liên quan đến vụ án.
Dương Hà Thanh (Thanh "Xoăn") phạm nhân đang cải tạo tại A2-V26 - Bộ Công an khai báo: Tháng 12/1992, Trương Văn Cam triệu tập đàn em đến quán cà phê số 50 Nguyễn Huệ, quận 1, để bàn việc xử lý Lâm do Lâm coi thường và làm nhục Cam, thường quậy phá các sòng bạc do Cam tổ chức. Trương Văn Cam giao cho nhóm tội phạm đâm thuê chém mướn gốc Hải Phòng là Thành (Thành "Chân") đang định cư ở nước ngoài, Quốc "Lủi", Long "Rắn", Thuỷ "Ba Thỏ", Dũng "Bắc Cạn", Sơn "Con", Tuấn "Cơm", Văn "Con" (đã chết), Tiệp "Chó", Tới "Hen" (đã bị tử hình về tội giết người) tổ chức đánh nhau tại cầu Công Lý (sở dĩ chọn điểm này vì đây là địa bàn giáp ranh giữa phường 7 quận 3 và phường 16 quận Phú Nhuận có nhiều đường ngang ngõ tắt dễ bề tẩu thoát) với băng nhóm của Lâm chín ngón gồm: Sáu "Nhỏ", Đức "Năm Nghệ", Châu "Râu", Út "Dẹp", Long "Lòi", Tuấn "Điên", Hùng "Chuột", Cu "Sún", Quý "Heo". Kết quả là Tuấn "Cụm" bị chém vào vai trái, Tiệp "Chó" bị chém trúng bàn tay phải, Út "Dẹp" bị chém trúng lưng và một số tên khác bị chém vào đầu và tay. Cuối cùng băng của Lâm đã thua và bỏ chạy (BL: V3 T1: 119 - 122).
Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai Lê Kim Quyền (Cu "Sún") hiện bị tạm giam tại trại Chí Hoà về tội mua bán ma tuý, từ năm 1990 đến 1997, Cu "Sún" đang thụ hình trong trại Tống Lê Chân nên không thể tham gia đánh nhau tại cầu Công Lý vào năm 1992 được. Dũng "Bắc Cạn" không thừa nhận tham gia đánh nhau đêm 23/ 12/1992 vì đầu năm 1993 Dũng mới vào TP HCM. Đức "Năm Nghệ" khai không biết sự kiện đêm 23/12. Trương Văn Cam, Lê Ngọc Lâm đều không công nhận tổ chức vụ đánh nhau như nêu trên. Do vậy không có cơ sở kết luận lời khai của Dương Hà Thanh là đúng sự thật (BL: V3 T1: 100 - 104, 108, 117, 118).
Căn cứ vào tài liệu điều tra thu thập được, kết luận: Giữa Lê Ngọc Lâm và Trương Văn Cam có mâu thuẫn gay gắt với nhau trong việc tranh giành quyền lợi, vị trí ngôi thứ trong "thế giới ngầm", Trương Văn Cam quyết định thanh toán Lâm, tiêu diệt Lâm để ngăn ngừa hiểm hoạ về sau. Để tránh bị bại lộ từ phía nạn nhân và cơ quan công an, Trương Văn Cam đã chỉ đạo Vũ Hoàng Dung, trùm "xã hội đen" gốc Hải Phòng, tổ chức thực hiện tạt axít Lâm "Chín Ngón". Hành vi sử dụng axít đậm đặc với thể tích lớn tạt vào mặt và đầu nạn nhân là rất nguy hiểm, xâm hại tới sức khoẻ, thẩm mỹ và cả sinh mạng của Lâm. Nhưng do Lâm có thể lực tốt, lại được cấp cứu kịp thời nên thoát chết, nhưng bị thương tật rất nặng (tỷ lệ 75%), đã cấu thành tội cố ý gây thương tích được quy định tại điều 104 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, Trương Văn Cam giữ vai trò chủ mưu, Vũ Hoàng Dung giữ vai trò tổ chức thực hiện, Nguyễn Văn Thọ là người mua axít và chỉ nhà, chỉ mặt Lê Ngọc Lâm cho Vũ Hoàng Dung nhận diện. Nhưng do Vũ Hoàng Dung đã bị bắn chết ngày 2/10/2000 nên không khởi tố bị can đối với Dung. Nguyễn Văn Thọ đã bị khởi tố bị can, nhưng do y bỏ trốn nên cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau. Mặc dù quá trình điều tra rất công phu nhưng tới nay ngoài Vũ Hoàng Dung, kẻ trực tiếp tổ chức thực hiện vụ tạt axít, cơ quan điều tra chưa tìm thêm kẻ mà Dung Hà cử trực tiếp tạt axít anh Lê Ngọc Lâm.
Hành vi của Trương Văn Cam đã phạm vào tội cố ý gây thương tích, tội danh được quy định tại khoản 3, điều 104 Bộ luật Hình sự.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 6:04 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Các vụ tổ chức đánh bạc và đánh bạc



Năm 1999-2001, Năm Cam đã thu nhiều tỷ đồng từ việc gây dựng các sòng bài xập xám và xóc đĩa... mở khắp TP HCM. Hệ thống cờ bạc này được tổ chức quy mô và chặt chẽ. Thậm chí, hằng ngày quản lý sòng còn biếu

tiền từng nhà dân sống xung quanh để họ không tố giác với công an.
A. Các vụ án do Trương Năm Cam và đồng bọn thực hiện
IV. Vụ tổ chức đánh bạc
1. Các vụ tổ chức đánh bạc và đánh bạc do Trương Văn Cam cầm đầu tại TP HCM
Cơ quan điều tra đã xác định được các hành vi phạm tội cụ thể của Trương Văn Cam và đồng bọn như sau:
1.1 Hệ thống sòng bạc xóc đĩa

Tiền lời phần hùn làm cái được chia làm 10 phần trong ngày gọi là tiền “đầu mười”: Ba Mạnh 1 phần, Trương Văn Cam 1 phần, còn lại 8 phần chia đều theo các mức góp vốn cho các phần hùn làm cái. Trương Văn Cam lấy một đầu mười (1/10) của mình chia lại cho Thảo, Nguyễn Văn Thọ (Thọ "Đại Úy", cháu ruột của Trương Văn Cam), Nhã mỗi tên 2 phần, còn lại Trương Văn Cam 4 phần. Nếu cái thua thì chủ sòng cũng chia theo tỷ lệ trên để thu lại tiền bù đắp vào phần hùn làm cái cho ngày hôm sau sòng bạc tiếp tục hoạt động. Với cách thức ăn chia như trên, chúng khuyến khích các con bạc hùn vốn làm cái trong sòng bạc. Mỗi phần hùn làm cái là 1.000.000 (một triệu) đồng. Các con bạc hùn vốn làm cái thì bọn chủ sòng thực hiện được hai mục đích: Một là con bạc có vốn trong sòng bạc, có quyền lợi gắn bó với sòng bạc, thường xuyên đến đánh bạc nên bọn tổ chức thu được nhiều tiền xâu; hai là chủ sòng lợi dụng được vốn của con bạc, không phải bỏ tiền mặt vào sòng bạc nhưng sòng bạc vẫn hoạt động được, vẫn được chia nhiều tiền lời của phần hùn khống làm cái. Do đó trong suốt thời gian mở sòng bạc, Tô Văn Tốt và Trương Văn Cam chưa phải xuất vốn cho sòng bạc.
Tô Văn Tốt đã đặt thợ làm ra và mua sắm các dụng cụ phương tiện đánh bạc gồm:
- Bộ bát, đĩa dùng để nhà cái lắc đồng vị.
- Các miếng “đồng vị” được làm từ 1 lá bài cỡ nhỏ (bài tây 54 lá) cắt thành 4 hình tròn.
- Chiếu bạc được làm bằng tấm vải simili lớn kẻ ô, một bên ô đánh số chẵn 2 - 4 - 6, một bên ô đánh số lẻ 1 - 3 - 5 và khoảng 400 (bốn trăm) miếng phỉnh thay thế cho tiền mặt, để cho các con bạc đánh với số lượng tiền lớn thì đổi ra phỉnh cho dễ tính.
- Phỉnh được làm bằng vải simili hình chữ nhật chiều rộng 7 cm, chiều dài 13 cm, bốn góc đục 4 lỗ, trên mặt phỉnh in 2 hình dấu: hình tròn in một chữ Trung Quốc, dịch ra tiếng Việt là chữ “lý”; hình vuông in 3 dòng chữ Trung Quốc dịch ra tiếng Việt là “Công ty Tân Đức Thái thuộc công ty Hàn”. Phỉnh có 3 loại, theo quy ước của bọn tổ chức sòng bạc: loại màu vàng tương đương 500.000 (năm trăm nghìn)/phỉnh, màu trắng xám tương đương 1.000.000 (một triệu) đồng/phỉnh, màu xanh tương đương 5.000.000 (năm triệu) đồng/phỉnh.
Hình thức đánh bạc xóc đĩa: Các con bạc chọn ô (chẵn hoặc lẻ) trên chiếu bạc để đặt tiền (nếu đặt tiền với số lượng lớn thì đổi ra phỉnh). Người ngồi xóc bỏ 4 miếng đồng vị vào bát, úp chiếc đĩa lại và lắc. Khi mở bát nếu 4 miếng “đồng vị” có 2 sấp 2 ngửa hoặc cả 4 sấp hoặc 4 ngửa thì cái thua ở ô chẵn, ăn ở ô lẻ, và ngược lại trong 4 miếng “đồng vị” có 1 sấp hoặc 1 ngửa hoặc 3 sấp hoặc 3 ngửa thì con bạc đặt ở ô lẻ ăn.
Từ tháng 10/1999 đến lúc bị phát hiện bắt giữ, bọn chúng đã lập ra sòng bạc xóc đĩa hoạt động tại các địa điểm sau:
a. Nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 (từ tháng 10/1999 đến tháng 4/2000)
Tô Văn Tốt thuê nhà Trương Thoại tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 để đặt sòng bạc với giá 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng/ngày và thuê nhà Lê Định Quốc tại 74/16 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 với giá 30.000 (ba mươi nghìn) đồng đến 50.000 (năm mươi nghìn) đồng/ngày để đặt két sắt và thủ quỹ ngồi giữ tiền cho sòng bạc.
Để có thêm tay chân giúp Nguyễn Văn Nhã quản lý điều hành sòng bạc, bọn chúng thu nạp một số tay chân thân cận có bề dày phạm tội đánh bạc, trộm cắp, cướp giật như: Phạm Văn Minh (Minh "Bu"), Nguyễn Anh Tuấn (Tuấn "Tăng"), Lê Đình Bang (Quang "Hói"), Trung "Heo", Nguyễn Ngọc Chung (Chung Tâm) và Nguyễn Hoàng Khương (con của Nguyễn Văn Nhã), Trần Văn Lợi (Lợi "Hói") thay phiên nhau làm cái (xóc đĩa); Bùi Viết Hùng (Tùng "Béo"), Nguyễn Văn Hơn (Út "Mỡ") và Vũ Thế Khải làm nhiệm vụ giám sát; Mã Chung Phát (Phệt), Tăng Văn Sên, Trịnh Chảy (Bé Dỹ), Đào Thế Minh (Lực) làm nhiệm vụ chung chi tiền cho chủ sòng (vai trò “hồ lỳ”); Lê Thị Thu Hà - vợ Phạm Văn Minh - làm thủ quỹ giữ tiền của sòng bạc ngồi tại nhà 74/16 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Phạm Thị Thu Trang (con Hà "Trề") làm nhiệm vụ giữ phỉnh đổi tiền cho con bạc trong sòng bạc; Đặng Thị Bé, Liên, Nguyễn Thị Kim Hòa (em của Thảo "Ma") phục vụ dọn dẹp, ăn uống, khăn lạnh cho con bạc. Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Thành Hiệp và tên Thông làm nhiệm vụ cảnh giới, bảo vệ, chỉ dẫn con bạc vào sòng bạc. Mỗi ngày, bọn chúng được Ba Mạnh, Sáu Nhà trả công từ 80.000 (tám mươi nghìn) đến 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng.
Hằng ngày sòng bạc hoạt động từ khoảng 14h đến khoảng 22h. Trước khi sòng bạc mở cửa Trang nhận từ Hà 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tiền mặt và 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng tiền phỉnh đem vào sòng bạc làm cái. Cái thua thì lấy thêm tiền từ Hà đem vào sòng bạc. Nếu cái ăn thì Trang lấy tiền từ sòng bạc đem cho Hà cất giữ.
Sòng bạc hoạt động được khoảng nửa tháng thì Lê Thị Thu Hà đưa Trần Thị Anh Anh (tự Sơn) vào thay Hà làm thủ quỹ giữ tiền cho sòng bạc. Tiền của chủ sòng bạc được đựng trong một chiếc tủ sắt nhỏ để trong phòng ngủ của Lê Định Quốc. Sau đó, Anh đưa Lương Tiểu Chánh vào thay Trang làm nhiệm vụ giữ phỉnh đổi tiền được gần 3 tháng. Do Chánh mê đánh bạc và tự tiện cho con bạc vay mượn làm thâm hụt tiền quỹ nên Hà cho Chánh nghỉ việc, giao Hòa và thị Phượng (Hòa và Phượng đều là em ruột của Thảo "Ma") thay nhiệm vụ của Chánh. Khi sòng bạc mở cửa những ai hùn vốn làm cái thì báo cho Chánh hoặc Phượng ghi sổ số lượng phần hùn và nộp tiền hùn vốn cho Anh (Sơn).
Các con bạc tham gia đánh bạc gồm có Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Ngọc Chung, Bùi Viết Hùng, Vũ Thế Khải, Tạ Đắc Lung, Tăng Văn Sên, Đào Thế Minh, Nguyễn Anh Tuấn, Phạm Ngọc Kim, Nguyễn Thị Kiệm, Phạm Thị Lượng, Hồ Thị Út, Nguyễn Thị Kim Hòa, Nguyễn Khánh Quốc, Phạm Văn Lắm, Kiều Văn Xường (Sườn), Nguyễn Thị Thủy (Nguyễn Thị Kim Ngân), Lê Đình Bang, Trần Văn Lợi, Phạm Văn Đào, Phạm Công Tuyến, Trần Xuân Cường, Trung Heo, Dũng Cận, Đặng Văn Chung (Chung Vi Phông), Vân, Nguyễn Văn Dương (Dượng), Lương Tiểu Chánh, Trần Quốc Dân (Gia), Triệu Tô Hà (Tài Ngạn), Nguyễn Duy Dũng (Dũng "Đui"), Phạm Văn Đào, Lâm, Thành, Man, Nam…. Mỗi ván con bạc đặt từ 50.000 (năm mươi nghìn) đồng đến 5.000.000 (năm triệu) đồng, nếu con bạc thắng chủ sòng thu 5%/ván. Chủ sòng khuyến khích các con bạc tham gia hùn tiền làm cái. Tổng số tiền hùn làm cái mỗi ngày từ 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng đến 1 (một) tỷ đồng.
Bảo vệ sòng bạc gồm các tên Nguyễn Thành Hiệp, Nguyễn Minh Tiến và tên Thông chịu trách nhiệm bảo vệ, cảnh giới vòng ngoài, nếu phát hiện có công an thì Hiệp làm ám hiệu cho tên ngồi trước cửa sòng bạc báo cho sòng bạc tẩu tán, chạy trốn.
Ngày 26/1/2000 Phạm Văn Minh phạm tội giết người, bỏ trốn, Trương Văn Cam và Tô Văn Tốt ra lệnh cho sòng bạc tạm nghỉ.
Khoảng cuối tháng 2/2000 Trương Văn Cam và Ba Mạnh giao cho Nguyễn Văn Nhã mở lại sòng bạc xóc đĩa tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Thành phần tham gia tổ chức sòng bạc, cách thức ăn chia và các con bạc vẫn giữ nguyên như cũ. Cuối tháng 4 đầu tháng 5/2000 Tô Văn Tốt chết đột ngột nên Trương Văn Cam cho sòng bạc tạm ngưng hoạt động.
Khi sòng bạc hoạt động, mỗi ngày Tô Văn Tốt và Nguyễn Văn Nhã giao cho Trương Thoại 160.000 (một trăm sáu mươi nghìn) đồng đi phân phát cho 8 hộ dân trong hẻm 74 Trần Nguyên Hãn quận 8 mỗi hộ 20.000 (hai mươi nghìn) đồng để các hộ dân này không tố giác hành vi phạm tội của chúng. Ngoài ra mỗi ngày Nguyễn Văn Nhã giao cho Tô Văn Tốt 3.300.000 đồng trong đó trả tiền nhà 400.000 đồng, tiền bảo vệ sòng bạc 300.000 đồng, còn lại 2.600.000 đồng Tốt dùng để đưa hối lộ cho một số cán bộ có trách nhiệm phòng chống tội phạm tại quận 8 nhằm bảo vệ cho sòng bạc hoạt động an toàn.
b. Nhà Nguyễn Thị Liên số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9, TP HCM
Khoảng cuối tháng 1/2001 (hạ tuần tháng Chạp năm Canh Thìn), Nguyễn Văn Nhã bàn với Trương Văn Cam và Nguyễn Thành Thảo tiếp tục mở sòng bạc xóc đĩa tại quận 9. Được Trương Văn Cam và Thảo đồng ý, Nhã đến gặp Nguyễn Văn Dương để nhờ Dương tìm địa điểm mở sòng bạc. Dương đến gặp Nguyễn Thị Liên thỏa thuận giá thuê nhà của Liên số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng/ngày để Nhã tổ chức sòng bạc. Sau đó Dương báo cho Nhã biết đã thuê nhà xong. Tiền nhà và tiền lo an ninh cho sòng bạc mỗi ngày phải giao cho Dương là 800.000 đồng (tám trăm nghìn). Thuê nhà xong, Nhã thông báo cho những tên đã phục vụ tại sòng bạc xóc đĩa cũ đến nhà Liên để phục vụ cho sòng bạc hoạt động và thông báo cho các con bạc đến tham gia đánh bạc. Ngay ngày hôm sau sòng bạc bắt đầu hoạt động, bộ phận phục vụ trong sòng bạc có mặt hầu hết những tên đã phục vụ tại sòng bạc cũ ở nhà Trương Thoại, chỉ thay đổi khâu hồ lỳ (chung chi tiền bạc) Tăng Văn Sên và Nguyễn Văn Hơn không tham gia. Khâu bảo vệ cảnh giới có thêm tên Tý. Những tên hùn vốn làm cái và đánh bạc gồm: Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Văn Dương, Trương Văn Lang, Phạm Ngọc Kim, Kiều Văn Xường, Nguyễn Khánh Quốc, Triệu Tô Hà, Đào Quang Cường, Trần Xuân Cường, Trần Duy Lai, Phát Con, Thân, Phong, Trung Đen, Trần Văn Lợi, Bùi Viết Hùng, Tạ Đắc Lung, Nguyễn Thành Thảo, Trần Thị Anh Anh, riêng Lê Thị Thu Hà chỉ tham gia góp vốn làm cái 50.000.000 đồng (năm mươi triệu). Tổng số tiền làm cái trong sòng bạc mỗi ngày từ 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu) đến 900.000.000 đồng (chín trăm triệu). Hàng ngày sòng bạc hoạt động tư 14h đến khoảng 23 giờ. Ngoài những tên góp vốn làm cái và tham gia đánh bạc nêu trên còn có thêm các con bạc như: Đặng Văn Chung, Liên, Nguyễn Thị Thủy.
Việc ăn chia trong sòng bạc được Trương Văn Cam chỉ đạo Nguyễn Văn Nhã chia như sau: Tiền xâu thu 5%/ván, mỗi ngày Nhã trích ra 800.000 đồng (tám trăm nghìn) giao cho Phượng để Phượng đưa cho Dương trả tiền nhà, tiền bảo vệ và 2.000.000 (hai triệu) đồng gọi là “phí bảo kê sòng bạc” giao cho Nguyễn Thị Kim Phượng giữ, cứ một tuần thì Phượng giao cho Nguyễn Văn Nhã để Nhã giao lại cho Nguyễn Thành Thảo đem về cho Trương Văn Cam. Còn lại chia làm hai phần: Một phần bỏ vào phần tiền lời của nhà cái để chia cho các phần hùn vốn làm cái, phần còn lại chia làm ba phần: 1/3 Nhã đem về cho Trương Văn Cam để Trương Văn Cam chia cho Nhã một phần, Thọ và Thảo một phần, Trương Văn Cam hai phần. 2/3 tiền xâu còn lại Nhã chia cho những tên có phần hùn lớn, có công lôi kéo con bạc đến đánh bạc gồm Nguyễn Khánh Quốc, Trần Xuân Cường, Trần Duy Lai, Lê Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Dương, Phạm Ngọc Kim, Tạ Đắc Lung, Trung "Đen", Lợi "Hói" tùy theo công sức uy tín đối với sòng bạc mà Nhã chia tiền xâu cho nhiều hay ít. Riêng Lê Thị Thu Hà tuy có 50 (năm mươi) phần hùn nhưng không tham gia đánh bạc và không có công lôi kéo con bạc nên lúc đầu không được chia tiền xâu. Hà yêu cầu Trương Văn Cam chia cho một phần tiền xâu để dùng số tiền xâu này nuôi Phạm Văn Minh đang bị tạm giam về tội giết người, nên Trương Văn Cam ra lệnh cho Nhã chia cho Hà một nửa phần xâu.
Tổng số tiền lời làm cái hằng ngày được chia làm 10 phần (gọi là tiền “đầu mười”): Nhã đem về giao Trương Văn Cam một đầu mười, Trương Văn Cam chia lại đầu mười của mình cho Nhã 2/10, Trương Văn Cam hưởng 8/10, còn lại Nhã chia đều cho các phần hùn. Sòng bạc hoạt động khoảng nửa tháng thì đến Tết nên tạm nghỉ.
Khoảng mùng 10 Tết Canh Thìn (tức khoảng tháng 2/2001) Trương Văn Cam đi Mỹ, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Thành Thảo tiếp tục mở sòng bạc tại nhà Liên số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9. Thành phần tham gia sòng bạc cũng như cách thức ăn chia vẫn được giữ nguyên như cũ. Sòng bạc hoạt động được hơn 10 ngày thì Trương Văn Cam từ Mỹ trở về và Trương Văn Cam cho sòng bạc nghỉ vì công an đang truy bắt một số tên tham gia trong sòng bạc có liên quan đến vụ án giết Vũ Hoàng Dung (Dung Hà).
c. Nhà Triệu Tô Hà số 46/12 Âu Cơ - Phường 9 - Quận Tân Bình
Tháng 7/2001 Triệu Tô Hà rủ Tạ Đắc Lung cùng nhau mở sòng bạc xóc đĩa tại nhà Triệu Tô Hà số 46/12 Âu Cơ, phường 9, quận Tân Bình. Triệu Tô Hà phân công Tạ Đắc Lung đến "xin phép" Trương Văn Cam được mở sòng bạc. Lung đến công viên dinh Thống Nhất nơi Trương Văn Cam tập thể dục buổi sáng gặp Trương Văn Cam để xin mở sòng bạc tại nhà Triệu Tô Hà nhưng Trương Văn Cam không đồng ý với lý do TP HCM đang xảy ra một số vụ án, công an để ý Trương Văn Cam. Lung cho rằng Lung và Triệu Tô Hà bị thua bạc nhiều, không có uy tín trong giới cờ bạc nên Trương Văn Cam không cho y mở sòng bạc, nên Lung nói với Trương Văn Cam là cho Lung và Hà mở sòng bạc, nếu có lời chút đỉnh thì Lung và Hà chia lại cho Trương Văn Cam một ít tiêu xài. Thấy Trương Văn Cam không nói gì nên Lung và Hà quyết định cho sòng bạc hoạt động và mời Nguyễn Văn Nhã tham gia sòng bạc nhưng Nhã không tham gia. Do Trương Văn Cam không cho "phép" mở và Nhã không tham gia nên sòng bạc ít có con bạc đến đánh bạc. Hằng ngày, những tên tổ chức và một số tên phục vụ tham gia sát phạt nhau: Bộ phận phục vụ chỉ có Khải, Minh, Sên, Phát, Chảy, Hiệp, Sơn, Hòa. Tham gia góp vốn có Triệu Tô Hà, Tạ Đắc Lung, Trương Mạnh Long (Long "Giấy"). Đồng thời Triệu Tô Hà giao cho Vương Thanh (Sện) làm nhiệm vụ giám sát. Sòng bạc mở tại nhà Triệu Tô Hà được 5 ngày thì nghỉ vì ít người đến đánh bạc và sợ bị lộ.
d. Nhà Hà Gia Quyền số 27/23 Văn Thân phường 8 quận 6 (tháng 7/2001)
Để bảo đảm an toàn, Triệu Tô Hà và Tạ Đắc Lung quyết định chuyển sòng bạc đến nhà Hà Gia Quyền. Hà và Lung đã được Hà Gia Quyền cho mở sòng bạc tại nhà mình số 27/23 Văn Thân quận 6 và thuê nhà Nguyễn Thị Dung 27/6 Văn Thân, quận 6 để đặt két tiền và cho thủ quỹ ngồi. Mặc dù giữa Quyền và Triệu Tô Hà không thỏa thuận giá thuê nhà tổ chức sòng bạc vì Hà và Quyền là bạn thân, Hà cho Quyền bao nhiêu tiền thuê nhà thì cho nhưng mỗi ngày Hà vẫn lấy từ sòng bạc 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng là số tiền mà sòng bạc quy định phải chi để lo tiền nhà, tiền lo lót bảo vệ cho sòng bạc. Sòng bạc mở tại nhà Hà Gia Quyền được khoảng 5 ngày vẫn ít con bạc lớn đến tham gia.
e. Nhà Nguyễn Thị Dung số 27/6 Văn Thân phường 8 quận 6 (tháng 7/2001)
Thấy nhà Quyền nhỏ, dễ bị lộ nên Quyền và Triệu Tô Hà gặp Nguyễn Thị Dung bàn bạc thuê với giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng/ngày phần gác trên căn nhà số 27/6 Văn Thân quận 6 của Nguyễn Thị Dung làm nơi tổ chức sòng bạc.
Sau khi, Dung đồng ý và mời được Nguyễn Văn Nhã tham gia, Hà chuyển sòng bạc sang nhà thị Dung, két sắt và thủ quỹ chuyển về ngồi tại nhà Hà Gia Quyền. Đồng thời Tạ Đắc Lung đem 20 triệu đồng đến nhà hàng Ra Khơi đưa cho Trương Văn Cam nhằm đền ơn Trương Văn Cam vì đã cho Nguyễn Văn Nhã tham gia tổ chức sòng bạc nhưng Trương Văn Cam không nhận. Khi Nhã tham gia thì các con bạc và phần hùn vốn làm cái cũng được tăng lên. Phần hùn gồm có: Nguyễn Văn Nhã, Tạ Đắc Lung, Triệu Tô Hà, Lê Thị Thu Hà, Phạm Thị Thu Trang, Phạm Ngọc Kim, Kiều Văn Xường, Nguyễn Thị Kiệm, Nguyễn Thị Giang, Long Thành, Thăng, Trần Thị Anh Anh, Lâm, Tuấn. Các con bạc có thêm Đặng Văn Chung, tên Long. Tổng số vốn làm cái mỗi ngày khoảng 800 triệu đồng. Bộ phận phục vụ sòng bạc có các tên Nguyễn Thành Hiệp, Nguyễn Minh Tiến, Trần Thị Anh Anh, Nguyễn Thị Kim Hòa, Nguyễn Thị Kim Phượng, Đặng Thị Bé, Mã Chung Phát, Vũ Thế Khải, Đào Thế Minh, Tăng Văn Sên, Trịnh Chảy.
Số tiền xâu 5% ván thu tại các sòng mở tại nhà Triệu Tô Hà và nhà Hà Gia Quyền được sử dụng ăn chia như sau: Lấy một nửa số tiền xâu nhập vào phần lời của nhà cái; còn lại chia đều làm 3 phần cho Lung, Triệu Tô Hà, Long Giấy hưởng. Tiền lời hùn cái chia đều cho các phần hùn. Khi sòng bạc mở tại nhà Nguyễn Thị Dung, có thêm Nguyễn Văn Nhã tham gia, số tiền xâu mỗi ngày trích ra 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền “phí bảo kê” giao cho Trương Văn Cam và 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng giao cho Triệu Tô Hà đi lo khâu an ninh cho sòng bạc và trả tiền thuê nhà. Số tiền xâu còn lại chia ra làm hai phần: Một phần bỏ vào tiền lời làm cái; phần còn lại chia làm 13 phần cho những người sau: Tạ Đắc Lung, Triệu Tô Hà và Long Giấy mỗi người 3 phần; Hà Gia Quyền 2 phần, Lê Thị Thu Hà và Phạm Ngọc Kim mỗi người 1 phần. Tiền lời làm cái (đầu mười) được chia làm 10 phần: Nguyễn Văn Nhã nhận 1 phần để đem về cho Trương Văn Cam; 9 phần còn lại chia đều cho các phần hùn cái. Trương Văn Cam nhận tiền đầu mười đã chia lại cho Nhã 2 phần, còn Trương Văn Cam hưởng 8 phần.
Sòng bạc hoạt động tại nhà Nguyễn Thị Dung được 10 ngày.
f. Nhà Nguyễn Văn Nghĩa số 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình
Cuối tháng 8/2001 Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã xin phép Trương Văn Cam mở lại sòng bạc xóc đĩa tại Tân Bình. Nguyễn Khánh Quốc nhờ Bùi Viết Hùng tìm địa điểm mở sòng, Hùng đã giới thiệu địa điểm quán cà phê của Nguyễn Văn Nghĩa (quán 12 kinh doanh cà phê có chiếu bóng đá thu qua vệ tinh) số nhà 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình. Nguyễn Khánh Quốc thuê gác trên để mở sòng bạc xóc đĩa với giá 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng/ngày, bao gồm tiền thuê nhà 2.000.000 (hai triệu) đồng và 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng để Nghĩa lo hối lộ, bảo vệ cho sòng bạc. Tầng dưới quán vẫn kinh doanh bình thường, thủ quỹ và két sắt đặt tại quán (tầng trệt).
Khoảng ngày 4/9/2001, sòng bạc bắt đầu hoạt động do Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã trực tiếp điều hành sòng bạc. Bộ phận phục vụ sòng bạc gồm có các tên: Trần Thị Anh Anh (thủ quỹ), Nguyễn Hoàng Khương (lắc cái), Nguyễn Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Kim Hòa (giữ phỉnh đổi tiền trong sòng bạc), Vũ Thế Khải, Bùi Viết Hùng (giám sát), Tăng Văn Sên, Mã Chung Phát, Đào Thế Minh, Trịnh Chảy (hồ lỳ), Đặng Thị Bé, Nguyễn Thanh Tuấn (phục vụ ăn uống), Nguyễn Minh Tiến, Bùi Thanh Tuấn, Nguyễn Thành Hiệp (cảnh giới, bảo vệ).
Góp vốn làm cái gồm: Nguyễn Khánh Quốc, Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Thành Thảo, Kiều Văn Xường, Phạm Ngọc Kim, Nguyễn Văn Dương, Tạ Đắc Lung, Nguyễn Hoàng Khương, Lê Thị Thu Hà, Trần Xuân Cường, Bùi Viết Hùng, Đào Quang Cường, Nguyễn Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Kim Hòa, Phạm Thị Thu Trang, Nguyễn Văn Quý, Nguyễn Văn Quang, Phạm Văn Lắm, Nguyễn Thị Kiệm, Trần Thị Anh Anh, Tuân, Thân, Phong, Vân, Liên, Lê Thanh Mão, Long, Hoàng, Bính, Dung, Nguyễn Thị Giang (Mợ Giang)…
Các con bạc tham gia ngoài những tên có phần hùn nêu trên còn có: Lê Tấn Hổ, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Thị Thủy, Phạm Thị Lượng, Hồ Thị Út, Đặng Văn Chung. Riêng Nguyễn Thị Kim Phượng có phần hùn, giữ vai trò giữ phỉnh đổi tiền nên không tham gia đánh bạc.
Tổng số phần hùn làm cái hằng ngày khoảng 1,3 tỷ (một tỷ ba trăm triệu) đồng. Hằng ngày sòng bạc mở cửa từ 13h đến khoảng 22h. Mỗi ván con bạc đặt từ 50.000 (năm mươi nghìn) đồng đến 10.000.000 đồng (mười triệu). Tiền xâu thu 5%/ván, mỗi ngày chủ sòng trích ra 2.000.000 (hai triệu) đồng làm tiền phí bảo kê giao cho Thảo đem về cho Trương Văn Cam. Số tiền xâu còn lại sau khi trừ các khoản chi phí tiền nhà, tiền người phục vụ… được chia làm 2 phần: một phần bỏ vào phần tiền lời làm cái; phần còn lại chia làm 4 phần: Quốc và Trương Văn Cam mỗi người một phần (Trương Văn Cam chia lại phần của mình cho Nhã 1 phần, Thọ 1 phần, Trương Văn Cam 2 phần); hai phần còn lại Quốc chia cho những tên có công lôi kéo con bạc. Những con bạc có phần hùn lớn thì chủ sòng xét theo uy tín, có công nhiều hay ít để chia. Cụ thể những tên được chia tiền xâu gồm Bùi Viết Hùng, Kiều Văn Xường, Nguyễn Văn Dương, Tạ Đắc Lung, Trần Xuân Cường, Đào Quang Cường, Phạm Ngọc Kim. Riêng Lê Thị Thu Hà tuy chỉ góp vốn, không tham gia đánh bạc nhưng được Trương Văn Cam chỉ đạo cho Quốc và Nhã chia cho 1 phần tiền xâu để nuôi Phạm Văn Minh đang bị tạm giam.
Tiền lời làm cái (đầu mười) được chia làm 10 phần: Trương Văn Cam 1 phần, Quốc 1 phần. Trương Văn Cam lấy phần của mình chia lại cho Nhã 2 phần, còn Trương Văn Cam hưởng 8 phần. Còn lại 8/10 (tám đầu mười) đem chia tiếp ra làm 10 phần: Nhã lấy 3 phần; Còn lại 7 phần chia cho những tên có phần hùn trong sòng. Phần của Nhã đem về chia tiếp làm 10 phần gồm Thảo, Nhã, Thọ mỗi người 2 phần, Quang, Quý mỗi người 1,5 phần và Phạm Văn Lắm 1 phần.
- Ngày 27/9/2001 Nguyễn Văn Nghĩa sợ bị lộ nên không cho Quốc và Nhã tiếp tục thuê mở sòng bạc.
g. Nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, TP HCM
Ngày 28/9/2001, Nhã thuê nhà Trương Thoại mở lại sòng bạc và nhờ Thoại thuê lại nhà của Lê Định Quốc số 74/16 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 cho Trần Thị Anh Anh ngồi giữ két sắt đựng tiền của sòng bạc. Trương Thoại đồng ý cho Nhã thuê nhà mở sòng bạc với giá 500.000 (năm trăm nghìn) đồng/ngày và Quốc cho thuê nhà để két sắt sòng bạc với giá 30.000 (ba chục nghìn) đồng đến 50.000 (năm chục nghìn) đồng/ngày.
Ngày 29/9/2001, Nhã và Quốc cho sòng bạc chuyển về nhà Trương Thoại tiếp tục hoạt động. Toàn bộ những người phục vụ trong sòng bạc và số lượng phần hùn các con bạc và cách thức ăn chia trong sòng bạc cũng giống như sòng bạc hoạt động ở 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình. Về con bạc có thêm Phạm Văn Phàn. Chủ nhà Trương Thoại thuê Trương Diệu Hán và Trịnh Lang đến phục vụ bưng bê cơm nước cho bọn tổ chức sòng bạc mỗi ngày Thoại trả công cho Hán và Lang 20.000 (hai chục nghìn) đồng. Đồng thời Trương Thoại hàng ngày nhận tiền từ sòng bạc do Nguyễn Văn Nhã giao để phân phát cho 8 hộ dân trong hẻm 74 Trần Nguyên Hãn quận 8 mỗi hộ 20.000 (hai chục nghìn) đồng/ngày để các hộ dân này không tố giác hành vi phạm tội của chúng. Mặt khác Nhã cũng lấy tiền từ sòng bạc mỗi ngày 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm nghìn) giao cho Nguyễn Thị Kim Phượng để Phượng giao cho Nguyễn Văn Thọ và Cô Đệ chi phí bảo vệ và “ngoại giao” với một số cán bộ công an phường 13, quận 8 và Cảnh sát Hình sự quận 8 (trong đó 3.600.000 đồng dùng để hối lộ, 300.000 đồng trả công bảo vệ canh gác vòng ngoài sòng bạc).
Ngày 9/10/2001, sòng bạc bị bắt quả tang, Trần Thị Anh Anh bỏ trốn. Trong khi bắt giữ sòng bạc, Cơ quan Công an yêu cầu Lê Định Quốc giao nộp những tài sản của sòng bạc, những con bạc chạy trốn trong nhà Quốc nếu có. Nhưng Quốc cố tình che giấu chiếc két sắt của sòng bạc. Sau khi sòng bạc bị bắt giữ, Anh trở lại nhà Quốc mở két sắt lấy đi toàn bộ số tiền của sòng bạc (khoảng 800.000.000 đồng) rồi bỏ trốn.
1.2. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và trốn khỏi nơi giam của Nguyễn Khánh Quốc
Trong quá trình bắt quả tang sòng bạc xóc đĩa tại nhà Trương Thoại ngày 9/10/2001, cơ quan điều tra khám xét người Nguyễn Khánh Quốc đã thu giữ trong ví của Quốc 5 viên thuốc tân dược màu đỏ có khắc chữ WY và một gói nylon chất bột màu trắng. Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự kết luận: 5 viên thuốc tân dược màu đỏ có khắc chữ WY nặng 0,5016 g có chứa thành phần Methamphetamin và 1,7666g chất bột trắng trong gói nylon là heroin. Một số bị can trong vụ án này như Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Văn Nghĩa đều khai Nguyễn Khánh Quốc nghiện nặng ma túy.
Nguyễn Khánh Quốc luôn luôn khai báo gian dối về lai lịch bản thân để che giấu tiền án - tiền sự, hành vi trốn trại và đồng bọn cùng phạm tội nhưng cơ quan điều tra chứng minh được quá trình phạm tội của Nguyễn Khánh Quốc như sau: Ngày 8/9/1984, Quốc bị Công an TP. Hải Phòng bắt về tội cướp tài sản công dân, bị TAND TP Hải Phòng xử 5 năm tù giam. Trong khi đang chấp hành án phạt tù tại trại Phi Liệt (nay là trại Xuân Nguyên), Nguyễn Khánh Quốc cùng đồng bọn đánh bạc xóc đĩa, bị bắt quả tang ngày 20/1/1986 (việc đánh bạc do Quốc rủ rê các phạm nhân khác tham gia và chính Quốc là người chuẩn bị dụng cụ như bát, đĩa và cắt lá bài tổ tôm làm đồng vị… Ngày 20/4/1986, TAND huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng xử phạt Quốc 18 tháng tù về tội đánh bạc, tổng hợp hình phạt 2 tội là 78 tháng tù. Ngày 4/5/1986, Quốc đang thi hành án phạt tù đến tháng thứ 21 thì trốn trại trong khi trại cải tạo cho đi lao động. Như vậy Quốc còn phải thụ hình tiếp 57 tháng.
1.3 Hệ thống sòng bạc xập xám
Đánh bạc bằng hình thức chơi bài xập xám là sử dụng bộ bài Tây 52 lá chia ra bốn tụ, mỗi tụ 13 lá (tiếng Quảng Đông - Trung Quốc số 13 là xập xám), đổ hột xí ngầu chọn ngẫu nhiên mỗi người lấy một tụ bài, người ngồi ngoài có thể ké (góp vốn) vào mỗi tụ, các con bạc ăn thua với nhau. Chủ sòng bạc lo địa điểm, cung cấp bài mới, phục vụ ăn uống, làm trọng tài, cử người chia bài, ghi chép sổ sách theo dõi ăn thua, cho con bạc vay tiền, cuối ngày tính sổ ăn chia cho khách chơi bạc, thu tiền xâu.
Trương Văn Cam và đồng bọn đã tổ chức sòng bạc xập xám tại các địa điểm sau:
a. Nhà Triệu Tô Hà thuê tại 780 Nguyễn Đình Chiểu phường 1, quận 3, TP HCM
Khoảng tháng 6/2000 tên Vương Tử (tự Xây - Việt kiều Canada, anh vợ trước của Triệu Tô Hà) cho Triệu Tô Hà biết: Xây và Lâm Như Thiên (Việt kiều Canada) có một bộ máy camera, máy rung phục vụ cho việc đánh bạc xập xám gian lận. Xây bàn với Triệu Tô Hà (Tài Ngạn) cùng đến gặp Trương Văn Cam bàn bạc mở sòng bạc tại nhà 780 Nguyễn Đình Chiểu phường 1, quận 3. Nhà này do Tài Ngạn thuê để vợ chồng Tài Ngạn ở. Hợp đồng thuê nhà do vợ Tài Ngạn là Nguyễn Thị Ngọc Nga đứng tên. Sau khi thuê nhà Ngọc Nga không chịu ở nên Tài Ngạn để cho Xây ở và Tài Ngạn cùng Xây làm nơi chứa bạc. Tài Ngạn, Xây và Trương Văn Cam cùng bàn bạc phân công: Trương Văn Cam có nhiệm vụ tìm kiếm lôi kéo các con bạc giàu có đến đánh bạc, quản lý tiền xâu và thu nhận tiền của người thua bạc chung cho người thắng bạc. Nguyễn Thành Thảo trực tiếp ghi sổ người thắng, người thua, thu tiền xâu giao lại cho Trương Văn Cam. Vương Tử (Xây) và Trần Quốc Dân (Gia) mỗi tên nhận một máy rung để trong người và trực tiếp ngồi đánh bạc theo sự chỉ đạo của tên Thiên và Tài Ngạn. Trong sòng có gắn camera quan sát trộm bài của các con bạc, Lâm Như Thiên bí mật ngồi ngoài xe du lịch 15 chỗ ngồi đậu cách sòng bạc khoảng 300 m quan sát màn hình và điều khiển máy rung báo cho Dân và Xây đánh bạc. Người lái chiếc xe này là Khui con rể của Lâm Như Thiên.
Bàn bạc xong, Trương Văn Cam lôi kéo được Trần Lệ Nguyên đến nhà 780 Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, quận 3 gặp Xây và tổ chức sòng bạc. Khi Nguyên tham gia sòng bạc, Trương Văn Cam gọi điện cho Lương Cẩm Huy và Trần Quốc Dân đến tham gia. Đồng thời Xây dẫn thêm hai người bạn nữa (không rõ tên tuổi, địa chỉ) cùng đến tham gia đánh bạc.
Sòng bạc đánh mỗi chến từ 30 đến 45 triệu đồng, ăn thua mỗi chi 1 triệu đồng. Ngoài ra các con bạc còn “đá ngang” với nhau. Tiền xâu Trương Văn Cam thu 4 triệu đồng 1 ván. Một nửa tiền xâu được bỏ vào sòng, một nửa chủ sòng thu.
Ngày đầu đánh bạc sát phạt nhau, Trần Lệ Nguyên và Vương Tử thắng bạc. Trần Quốc Dân thua gần 20.000 USD và Lương Cẩm Huy thua 200 triệu đồng nên Huy nghỉ. Dân không có tiền trả nên Trương Văn Cam cho Dân vay 20.000 USD. Những ngày sau, Trần Lệ Nguyên thua bạc. Sau 7 ngày sát phạt nhau, Trương Văn Cam cộng sổ, trừ các khoản đã thanh toán thì Trần Lệ Nguyên còn thiếu các con bạc là 100.000 USD, Trần Quốc Dân thắng 37.500 USD và 15 triệu, Vương Tử thắng 30.000 USD và 200 triệu đồng. Triệu Tô Hà và Lâm Như Thiên mỗi tên được 50 triệu đồng. Một người bạn của Xây không rõ thắng bao nhiêu.
Nguyên không có tiền trả một lần nên Trương Văn Cam lấy tiếp 20.000 USD của Trương Văn Cam trả trước một phần cho Xây và Dân. Hằng tháng, Nguyên trả cho Trương Văn Cam 10.000 USD, Trương Văn Cam trả cho Xây và Dân mỗi tên 3.000 USD (tiền của Xây do Triệu Tô Hà nhận), còn lại 4.000 USD, Trương Văn Cam trừ vào số tiền Trương Văn Cam ứng trả trước 2 lần là 40.000 USD
Tiền xâu thu được 850 triệu đồng, Trương Văn Cam khai chia số tiền xâu thu được cho Dân, Xây, Hà và Trương Văn Cam mỗi tên 150 triệu đồng; cho Nguyên 200 triệu và cho Nguyễn Thành Thảo 50 triệu nhưng Nguyên, Hà và Dân không thừa nhận số tiền xâu thu được chia mà Trương Văn Cam đã khai. Do đó Trương Văn Cam phải chịu trách nhiệm số tiền xâu 800 triệu đồng.
b. Nhà Triệu Tô Hà thuê tại 835/1-2 Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5
Khoảng tháng 12/2000 Triệu Tô Hà, Vương Tử (Xây) và Nguyễn Thành Thảo bàn nhau tổ chức sòng bạc xập xám tại 835/1-2 Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5. Nhà này do tên Xây thuê làm nơi ở và tổ chức sòng bạc (Xây nhờ Nguyễn Công Án, ngụ tại 46/12A Âu Cơ P9 Tân Bình đứng tên hợp đồng thuê nhà). Xây, Thảo và Tài Ngạn phân công: Thảo tìm kiếm con bạc, ghi chép phần thắng thua của con bạc và thu tiền của người thua chung cho người thắng. Xây và Triệu Tô Hà tìm kiếm con bạc và điều hành sòng bạc. Tên Lâm Như Thiên ngồi ở xe ôtô điều khiển camera và máy rung. Trần Quốc Dân và Trần Văn Hên (còn có tên là Đực, do tên Tý giới thiệu cho Triệu Tô Hà) làm nhiệm vụ giữ máy rung và đánh bạc theo sự điều khiển của Xây, Thiên và Triệu Tô Hà. Sau khi bàn bạc thống nhất, Nguyễn Thành Thảo đưa Trần Thị Cẩm và Phạm Ngọc Kim đến sòng bạc. Vương Tử đưa 2 người Hoa (không rõ tên tuổi, địa chỉ) đến đánh bạc. Mỗi chến đánh từ 15 triệu đến 30 triệu đồng. Ăn thua mỗi chi 500.000 đồng, tiền xâu thu 1 triệu đồng 1 ván.
Sau 5 ngày sát phạt nhau, Trần Văn Hên được chủ sòng chia 200 triệu đồng thắng bạc, Trần Quốc Dân được 100 triệu, Thảo thu được 75 triệu đồng tiền xâu. Thảo chia cho Triệu Tô Hà 30 triệu đồng, Xây 15 triệu đồng và Thảo 30 triệu đồng.
c. Nhà vợ chồng Lương Cẩm Huy thuê tại số 122 Trần Hưng Đạo B phường 7, quận 5, TP HCM
Ngày 8/10/2001 Trương Văn Cam yêu cầu Lương Cẩm Huy cho Trương Văn Cam sử dụng phần gác trên của căn nhà 122 Trần Hưng Đạo B phường 7, quận 5 làm nơi tổ chức sòng bạc xập xám. Nhà 122 Trần Hưng Đạo B phường 7, quận 5 do Lương Cẩm Huy thuê cho vợ bé là Đỗ Thị Quyên mở tiệm uốn tóc. Huy đồng ý và Trương Văn Cam giao cho Nguyễn Thành Thảo và Bé Ba (Võ Thị Kim Hương) và Nguyễn Hữu Đức trực tiếp ghi sổ và thu tiền xâu. Mỗi chến từ 15 đến 30 triệu đồng, mỗi chi ăn thua 500.000 đồng, tiền xâu thu mỗi chến 1.000.000 đồng. Các con bạc tham gia gồm Trần Lệ Nguyên, Trần Quốc Dân, Nguyễn Hiếu Minh (Minh "Mít"), hai vợ chồng Thảo - Trinh và một số tên khác không rõ tên tuổi địa chỉ. Sòng bạc hoạt động sang ngày thứ hai (9/10/2001) thì sòng bạc xóc đĩa tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 bị bắt, Trương Văn Cam vội vàng cho sòng bạc xập xám giải tán. Sau hai ngày tổ chức đánh bạc, Trương Văn Cam thu được 30 triệu đồng tiền xâu, đã chia lại cho Lương Cẩm Huy 15 triệu đồng và trả công cho Bé Ba - Đức mỗi người 50.000 đồng/ngày.
Hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc, đánh bạc do Trương Văn Cam chủ mưu cầm đầu được thực hiện trong một thời gian dài và được tổ chức một cách tinh vi chặt chẽ có hệ thống, với số lượng đối tượng tham gia đông và đánh bạc với số lượng ăn thua rất lớn. Thu nhập bất chính từ hệ thống sòng bạc là nguồn tài chính quan trọng của tổ chức tội phạm do Trương Văn Cam cầm đầu.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 6:05 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Hối lộ công an bảo kê các sòng bài tại quận 8



Năm Cam đã chỉ đạo đàn em "tung tiền" mua chuộc lực lượng công an TP HCM, từ cảnh sát khu vực đến các trưởng phòng, để hệ thống sòng bài được tự do hoạt động. Người bắt mối cho Năm Cam là Võ Văn Tâm, đội trưởng Đội chống tệ nạn xã hội, Phòng cảnh sát hình sự, Công an thành phố.


A. Các vụ án do Trương Năm Cam và đồng bọn thực hiện
IV. Vụ tổ chức đánh bạc
1. Các vụ tổ chức đánh bạc và đánh bạc do Trương Văn Cam cầm đầu tại TP HCM
1.4 Hành vi đưa hối lộ và nhận hối lộ tại quận 8
a. Hành vi đưa hối lộ tại các sòng bạc
* Hành vi đưa hối lộ tại sòng bạc tài sửu:
Cuối tháng 1/2001 Cô Đệ (tức Tư "Râu") và Nguyễn Văn Thọ (tức Thọ "Đại Uý") tổ chức sòng bạc bằng hình thức đánh tài sửu mở tại nhà của Lương Trung, số 62/2B Trần Nguyên Hãn phường 13 quận 8. Bọn chúng phân công Cô Đệ lo quản lý điều hành toàn bộ hoạt động của sòng bạc, trả tiền thuê nhà cho Lương Trung 150.000 đồng/ngày; Nguyễn Văn Thọ lo phần an ninh sòng bạc. Thọ và Cô Đệ đã trích tiền xâu mỗi tuần 10.000.000 đồng giao cho Nguyễn Xuân Liệu (con rể Tô Văn Tốt, tức Ba Mạnh) hối lộ cho một số cán bộ, chiến sĩ công an phường 13, quận 8 và đội Cảnh sát hình sự - Công an quận 8 để đảm bảo cho sòng bạc không bị công an triệt phá. Quá trình hoạt động liên tục từ cuối tháng 1 đến 9/10/2001 có khoảng 2 tuần Cô Đệ tạm chuyển sòng bạc sang hoạt động tại hẻm 41 Cần Giuộc phường 12, quận 8 (do bị quần chúng phường 13, quận 8 tố cáo). Tại đây Cô Đệ cũng sử dụng tiền xâu thu được từ việc tổ chức sòng bạc đưa cho Nguyễn Xuân Liệu để mua chuộc một số cán bộ Công an phường 12 quận 8 bao che sòng bạc.
* Hành vi đưa hối lộ tại sòng bạc xóc đĩa:
Sau khi đi tập trung cải tạo về (được trả tự do vào tháng 10/1997), Trương Văn Cam cùng đồng bọn là các tên Tô Văn Tốt (Ba Mạnh), Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà), Nguyễn Khánh Quốc (Quốc "Lủi"), Phạm Văn Minh (Minh "Bu"), Lê Thị Thu Hà (Hà "Trề") và Thành "Chân" đã phục hồi lại sòng bạc xóc đĩa.
Khoảng tháng 10/1999, bọn chúng tổ chức sòng bạc xóc đĩa tại địa bàn quận 8 và phân công Tô Văn Tốt lo việc thuê nhà tổ chức sòng bạc và lo khâu bảo vệ, an ninh tại địa bàn quận 8; Trương Văn Cam lo tìm kiếm móc nối con bạc đến đánh bạc và lo “ngoại giao” cho sòng bạc; Sáu Nhà lo điều hành quản lý sòng bạc. Việc mua chuộc cán bộ để đảm bảo an ninh cho sòng bạc chúng phân công cho Ba Mạnh lo các cấp ở quận 8, Trương Văn Cam cùng Nguyễn Thành Thảo lo cấp thành phố.
Trương Văn Cam chủ trương nguồn tiền dùng để mua chuộc cán bộ công an bao che sòng bạc lấy từ nguồn tiền xâu thu mỗi ván 5% của người thắng bạc và được trích ra làm 2 khoản sử dụng:
Khoản thứ nhất gọi là tiền “phí ngoại giao” 2.000.000 (hai triệu) đồng/ngày nộp về cho Trương Văn Cam dùng làm chi phí hối lộ, mua chuộc một số cán bộ đơn vị có chức năng phòng chống tội phạm thuộc Công an TP HCM để bao che dung túng cho hoạt động vi phạm pháp luật của băng nhóm Trương Văn Cam và các sòng bạc của y.
Về chủ trương lập ra khoản tiền hối lộ này, Trương Văn Cam khai: Trương Văn Cam lập ra khoản chi phí này để sử dụng đưa hối lộ, trước đây Trương Văn Cam trực tiếp ở trong sòng bạc nên mỗi ngày trích ra 2.000.000 đồng thì những người cùng hùn làm chủ sòng đều biết. Sau khi tái lập sòng bạc xóc đĩa ở quận 8, Trương Văn Cam không trực tiếp vào sòng bạc mà hằng ngày Nguyễn Văn Nhã rồi Nguyễn Thành Thảo đem tiền về nộp Trương Văn Cam. Vì muốn công khai không để người khác nghi ngờ Trương Văn Cam chiếm đoạt sử dụng riêng nên Trương Văn Cam đã kêu Nguyễn Văn Nhã vào sòng bạc bàn bạc với các chủ sòng khác, sau đó Sáu Nhà báo lại cho Trương Văn Cam là các chủ sòng khác đều nhất trí mỗi ngày trích ra 2.000.000 đồng nộp cho Trương Văn Cam làm "phí ngoại giao" để Trương Văn Cam quan hệ mua chuộc, đút lót cho cán bộ cấp thành phố. Từ năm 1999 đến tháng 10/2001, các chủ sòng bạc xóc đĩa (kể cả người mới tham gia như Nguyễn Khánh Quốc) đều phải nộp về cho Trương Văn Cam khoản tiền trên.
Khoản thứ hai là tiền thuê nhà và tiền lo “an ninh cho sòng” tại quận, phường nơi sòng hoạt động, mỗi ngày Nguyễn Văn Nhã (Sáu Nhà) giao cho Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) 3.300.000 (ba triệu ba trăm nghìn) đồng, trong đó có 400.000 đồng trả tiền thuê nhà, 300.000 đồng để chi cho bọn canh gác sòng bạc, còn lại 2.600.000 (hai triệu sáu trăm nghìn) đồng dùng để đưa hối lộ hằng tuần cho một số cán bộ công an quận và công an phường nơi có sòng bạc hoạt động.
Thời gian Ba Mạnh còn sống, Trương Văn Cam giao cho Ba Mạnh lo hối lộ Công an quận 8. Tô Văn Tốt lợi dụng sự quen biết với ông Lê Văn Tiếu (tức Năm Tiếu, nguyên phó trưởng Công an quận 8) để tiếp xúc móc nối với Lê Minh Hùng (Đội trưởng cảnh sát hình sự, Công an quận 8) nhờ bao che sòng bạc xóc đĩa của Tốt tại phường 13.
Sau khi Ba Mạnh chết, Trương Văn Cam giao cho Nguyễn Văn Thọ lo việc chạy hối lộ để bao che cho sòng bạc. Thọ đã móc nối Nguyễn Xuân Liệu (con rể Ba Mạnh) đi hối lộ cho Công an quận 8 để bảo đảm an ninh cho sòng bạc.
Sòng bạc xóc đĩa hoạt động tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 vào các thời điểm sau:
- Từ tháng 10/1999 đến khoảng giữa tháng 1/2000 (do Phạm Văn Minh tức Minh "Bu" phạm tội giết người ở đường Hải Triều, quận 1 nên Trương Văn Cam cho sòng tạm nghỉ); hoạt động lại từ cuối tháng 2/2000 đến đầu tháng 5/2000 (do Tô Văn Tốt chết đột ngột nên Trương Văn Cam cho sòng bạc tạm ngưng hoạt động). Tổng cộng số ngày sòng bạc hoạt động là 135 ngày, tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 270.000.000 đồng, tiền Nguyễn Văn Nhã và Tô Văn Tốt dùng để đi hối lộ là 351.000.000 đồng.
- Sau khi di chuyển nhiều địa điểm sòng bạc xóc đĩa lại quay về hoạt động từ 29/9/2001 đến 9/10/2001 thì bị Công an TP HCM bắt quả tang. Thời gian sòng bạc hoạt động là 11 ngày, tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 8.000.000 đồng (vì sòng bạc nộp tiền về Trương Văn Cam qua Nguyễn Thành Thảo theo tuần, Thảo mới thu tiền tuần đầu, tuần kế tiếp chưa đến kỳ thu), tiền Cô Đệ và Nguyễn Văn Thọ đã lấy để đi hối lộ là 36.000.000 đồng.
Trong thời gian năm 1999-2000, sòng bạc xóc đĩa này còn rời tới hoạt động tại các địa điểm sau:
- Nhà Nguyễn Thị Liên số 351Akhu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 từ cuối tháng 1/2001 (hạ tuần tháng chạp năm Canh Thìn) đến Tết và từ mùng 10 Tết Canh Thìn (tức khoảng tháng 2/2001) hoạt động thêm 10 ngày. Tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 54.000.000 đồng, tiền hối lộ cấp địa phương không xác định được.
- Nhà Nguyễn Thị Dung số 27/6 Văn Thân phường 8, quận 6 hoạt động hơn 10 ngày. Tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 20.000.000 đồng, chi phí canh gác sòng bạc và tiền hối lộ cấp địa phương Triệu Tô Hà thu hằng ngày 4.300.000 đồng nhưng Triệu Tô Hà khai đã chiếm hưởng riêng để đánh bạc.
- Nhà Nguyễn Văn Nghĩa số 1102 đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình 23 ngày. Tiền “phí ngoại giao” đã nộp cho Trương Văn Cam là 46.000.000 đồng, tiền hối lộ cấp địa phương Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã đã giao cho Nguyễn Văn Nghĩa 57.500.000 đồng. Nhưng Nguyễn Văn Nghĩa khai đã chiếm hưởng sử dụng riêng số tiền này (Nguyễn Văn Nghĩa đã nộp lại cho Cơ quan điều tra số tiền này cùng với số tiền sòng bạc trả tiền thuê nhà tổng cộng là 103.500.000 đồng).
Riêng vào tháng 7/2001 Triệu Tô Hà và Tạ Đắc Lung mở sòng tại số 46/12 Âu Cơ phường 9, quận Tân Bình 5 ngày rồi chuyển sang nhà Hà Gia Quyền số 27/23 Văn Thân phường 8 quận 6 hoạt động thêm 5 ngày. Vì hai sòng bạc này Trương Văn Cam không nhận bảo kê nên Triệu Tô Hà và Tạ Đắc Lung không nộp “phí ngoại giao” 2.000.000 đồng/ngày và chưa trích tiền của sòng bạc lo lót, hối lộ cho cán bộ địa phương.
Tổng số tiền Trương Văn Cam đã nhận “phí ngoại giao” từ các sòng bạc nộp về là 398.000.000 đồng, là khoản tiền để mua chuộc, hối lộ cho một số cán bộ thuộc các đơn vị chức năng phòng chống tội phạm cấp thành phố. Trương Văn Cam khai đã sử dụng hết số tiền 398.000.000 đồng để đưa hối lộ và chi ăn nhậu với một số cán bộ chức năng của Công an thành phố. Đồng phạm với Trương Văn Cam gồm có Nguyễn Thành Thảo, Nguyễn Văn Nhã, Tô Văn Tốt (đã chết), Nguyễn Khánh Quốc, Tạ Đắc Lung, Triệu Tô Hà.
Các bị can trực tiếp quản lý sòng bạc xóc đĩa và tài xỉu đã đưa hối lộ tổng cộng 811.000.000 đồng (gồm: Cô Đệ và Nguyễn Văn Thọ đưa hối lộ 310 triệu đồng của sòng bạc tài xỉu; Nguyễn Văn Nhã và Tô văn Tốt dùng để đi hối lộ là 351.000.000 đồng của sòng bạc xóc đĩa quận 8 từ năm 1999 đến 2000; Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã giao cho Cô Đệ và Nguyễn Văn Thọ đi hối lộ là 36.000.000 đồng của sòng bạc xóc đĩa quận 8 tháng 10/2001; Nguyễn Khánh Quốc và Nguyễn Văn Nhã đã giao cho Nguyễn Văn Nghĩa 57.500.000 đồng để đi hối lộ cho sòng bạc xóc đĩa ở Tân Bình tháng 09/2001); 13.500.000 đồng Nhã giao cho Nguyễn Văn Dương lo hối lộ tại sòng quận 9; 43.000.000 đồng Nhã và Lung giao cho Triệu Tô Hà lo hối lộ, bảo vệ cho sòng bạc ở đường Văn Thân, quận 6, TP HCM.
Như vậy theo chỉ đạo của Trương Văn Cam, tổng số tiền đã lấy từ tiền xâu của sòng bạc xóc đĩa để đi đưa hối lộ là 899.000.000 đồng, Nguyễn Văn Nhã đồng phạm đưa hối lộ là 899.000.000 đồng, Nguyễn Thành Thảo đồng phạm đưa hối lộ là 134.000.000 đồng, Nguyễn Khánh Quốc đồng phạm đưa hối lộ là 145.500.000 đồng (gồm các khoản nộp 2.000.000 đồng/ngày cho Trương Văn Cam: 46 triệu đồng sòng bạc Tân Bình, 8 triệu đồng sòng bạc quận 8 tháng 10/2001, 57.500.000 đồng cùng Nhã giao cho Nghĩa, 36.000.000 đồng cùng Nhã giao cho Cô Đệ), Tạ Đắc Lung đồng phạm đưa hối lộ 63.000.000 đồng. Triệu Tô Hà đồng phạm đưa hối lộ 20 triệu đồng.
Nguyễn Văn Thọ và Cô Đệ đưa hối lộ 310.000.000 đồng của sòng bạc tài sửu.
Dựa vào mối quan hệ sẵn có với một số cán bộ công an phường 13 quận 8 và đội Cảnh sát hình sự, Công an quận 8 khi cha vợ (Tô Văn Tốt) còn sống, Nguyễn Xuân Liệu đã liên hệ và được những người có trách nhiệm trong công tác phòng chống tội phạm tại địa bàn sòng bạc hoạt động đồng ý thỏa thuận bao che cho sòng bạc tài sửu hoạt động gồm:
Ở đội Cảnh sát hình sự Công an quận 8: Lê Minh Hùng (Đội trưởng), Trần Văn Chính (Phó đội trưởng), Vũ Quốc Đạt (Phó đội trưởng), Huỳnh Công Thành (trinh sát địa bàn) và Nguyễn Văn Phương (trinh sát địa bàn).
Ở Công an phường 13 quận 8: Đặng Văn Hoãn (Phó công an phường), Huỳnh Văn Long (Phó công an phường), Nguyễn Bá Thanh (cảnh sát khu vực, nơi có sòng bạc tài xỉu hoạt động).
Ngoài những lần Nguyễn Xuân Liệu trực tiếp đưa tiền hối lộ, Nguyễn Xuân Liệu còn sử dụng Lý Minh Tòng và Nguyễn Văn Việt đi đưa hối lộ, cụ thể như sau:
- Sử dụng Lý Minh Tòng (tức A Phò, là người thường xuyên chở Tô Văn Tốt đi quan hệ với một số cán bộ công an bao che sòng bạc xóc đĩa khi Tốt còn sống) dẫn Liệu đi đưa hối lộ cho Lê Minh Hùng (đội trưởng Cảnh sát hình sự) 2 lần, mỗi lần 1.000.000 đồng/tuần. Sáu tuần tiếp theo Liệu giao hẳn cho Tòng một mình đến nhà Lê Minh Hùng đưa hối lộ.
- Từ tháng 4 đến ngày 9/10/2001 (trừ 2 tuần sòng nghỉ), Liệu thuê Nguyễn Văn Việt (xe ôm) đi đưa tiền hằng tuần cho Lê Minh Hùng với tiền công mỗi lần từ 60.000 đến 80.000 đồng. Ngoài ra Việt còn được Liệu giao thường xuyên đi đưa tiền cho Đặng Văn Hoãn.
- Nhờ chị Ông Tam Muổi (chủ quán cà phê 85 Trần Nguyên Hãn phường 13, quận 8) chuyển hộ tiền cho Chính, Đạt, Thành (BL: V5 T1: 69-72).
Liệu không cho Nguyễn Văn Việt, Ông Tam Muổi biết rõ việc đưa tiền cho Lê Minh Hùng và một số cán bộ Công an khác là để hối lộ nhằm được bao che sòng bạc (BL: V5 T1: 63, 70; BL: V5 T6: 333F).
Hằng tuần Cô Đệ giao cho Nguyễn Xuân Liệu 10.000.000 đồng để Liệu sử dụng làm chi phí mua chuộc, tạo quan hệ, hối lộ cho một số cán bộ chiến sĩ công an phường 13 và đội Cảnh sát hình sự Công an quận 8 để họ dung túng, bao che cho sòng bạc.
Sau khi được Thọ và Cô Đệ giao tiền hối lộ, Nguyễn Xuân Liệu đã quan hệ móc nối đặt vấn đề, ấn định mức tiền đưa hối lộ cho một số cán bộ chiến sĩ ở đội Cảnh sát hình sự và Công an phường 13 quận 8 nhờ họ bao che sòng bạc.
Từ tháng 2 đến tháng 9/10/2001, Liệu đưa hối lộ hằng tuần: 31 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ đội Cảnh sát hình sự, 27 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ Công an phường 13 quận 8, 2 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ Công an phường 12, quận 8. Liệu nhận tiền của Cô Đệ là 310.000.000 đồng, mang đi hối lộ cho một số Công an phường 13 là 47.300.000 đồng, đội Cảnh sát hình sự 131.300.000 đồng, Công an phường 12 là 6.000.000 đồng; Liệu còn khai đưa cho ông Lê Văn Tiếu, Mai Út Hoàng, Lưu Tấn Đức mỗi người 15.500.000 đồng/3 tuần (ba người này không thừa nhận được Liệu cho tiền), Liệu còn lại: 121.600.000 đồng.
Ngày 29/9/2001, sòng bạc xóc đĩa chuyển về hoạt động tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Trương Văn Cam phân công Nguyễn Văn Thọ lo phần an ninh cho sòng bạc tại địa bàn quận 8. Thọ đã nhờ Cô Đệ bố trí tay chân canh gác sòng bạc ở đầu hẻm và hàng ngày vào sòng bạc gặp Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Khánh Quốc nhận 3.900.000 đồng để chi phí tiền canh gác là 300.000 đồng và 3.600.000 đồng chi hối lộ cho cán bộ địa phương cấp quận, phường. Sẵn có đường dây đưa hối lộ bao che cho sòng bạc tài sửu, Thọ và Cô Đệ giao cho Liệu lo lót hối lộ công an.
Cô Đệ đã vào sòng bạc 10 ngày lấy số tiền 39.000.000 đồng, đã giao cho Liệu 10.000.000 đồng để Liệu đưa đi hối lộ. Số còn lại Cô Đệ chiếm hưởng và nuôi tay chân canh gác sòng bạc.
Ngày 8/10/2001, Nguyễn Văn Nhã lấy từ sòng bạc 10.000.000 đồng giao cho Nguyễn Hoàng Khương đem cho vợ Tô Văn Tốt. Nguyễn Xuân Liệu nhầm tưởng đây là tiền sòng bạc chi hối lộ nên đã mang đi đưa hối lộ. Sáng hôm sau Cô Đệ giao 20.000.000 đồng (gồm tiền hối lộ tuần đầu của sòng bạc xóc đĩa và tiền hối lộ tuần của sòng bạc tài sửu) thì Nguyễn Xuân Liệu mới phát hiện bị nhầm (BL: V5 T6: 308).
Nguyễn Xuân Liệu đã đưa hối lộ cho một số Công an phường 13, quận 8 số tiền 1.200.000 đồng, đội Cảnh sát hình sự: 1.700.000 đồng, Liệu còn lại: 17.100.000 đồng.
Như vậy vào năm 2001, Cô Đệ đã giao tổng số tiền 320.000.000 đồng cho Nguyễn Xuân Liệu đưa hối lộ để mua chuộc các cán bộ có thẩm quyền nhờ bao che cho 2 sòng bạc (xóc đĩa và tài sửu) hoạt động tại phường 13 quận 8. Nguyễn Xuân Liệu đã dùng số tiền đó đưa hối lộ cho một số cán bộ chiến sĩ đội Cảnh sát hình sự và Công an phường 12, 13 của Công an Quận 8 là 176.200.000 đồng, còn lại Liệu chiếm hưởng riêng số tiền 150.900.000 đồng và Liệu còn chiếm hưởng 10.000.000 đồng của sòng bạc cho mẹ vợ. Cô Đệ làm môi giới hối lộ cho sòng bạc xóc đĩa số tiền 36.000.000 đồng. Lý Minh Tòng đưa hối lộ 9 lần số tiền 8.500.000 đồng.
Ngày 26/1/2002, Nguyễn Xuân Liệu đến Bộ Công an đầu thú, nộp 78.900.000 đồng là số tiền trong phần Liệu chiếm hưởng qua hoạt động đưa hối lộ cho sòng bạc.
b. Hành vi nhận hối lộ
* Hành vi nhận hối lộ của cán bộ đơn vị chức năng thuộc Công an thành phố:
Trương Văn Cam đã có mối quan hệ quen biết với Võ Văn Tâm (Đội trưởng Đội chống tệ nạn xã hội - phòng Cảnh sát hình sự - Công an thành phố) từ năm 1989, lợi dụng mối quan hệ này, khi đi học tập cải tạo về Trương Văn Cam đã tổ chức lại một số sòng bạc và móc nối đưa hối lộ Võ Văn Tâm để bao che cho sòng bạc. Đầu năm 2000, Trương Văn Cam yêu cầu Nguyễn Thành Thảo (tức Thảo "Ma") liên hệ với Võ Văn Tâm nhờ tiếp tục bao che cho sòng bạc. Võ Văn Tâm nhận lời, trong suốt quá trình công tác chưa lần nào Võ Văn Tâm thể hiện có hoạt động trinh sát các sòng bạc của Trương Văn Cam và đồng bọn. Trương Văn Cam đã sử dụng nguồn tiền từ khoản “phí ngoại giao” 2.000.000 đồng/ngày thu từ sòng bạc để đưa hối lộ. Trương Văn Cam khai nhận đã sử dụng khoảng 200 triệu đồng cùng với Nguyễn Thành Thảo đưa hối lộ, ăn nhậu với một số cán bộ các đơn vị chức năng phòng chống tội phạm để họ dung túng cho các hoạt động phạm tội và bao che cho sòng bạc của băng nhóm Trương Văn Cam.
Trương Văn Cam khai hắn và Nguyễn Thành Thảo đã đưa hối lộ cho Võ Văn Tâm tổng cộng khoảng 24.000.000 đồng và Dương Minh Ngọc 10 triệu đồng. Nguyễn Thành Thảo khai đã đưa hối lộ cho Võ Văn Tâm 7 lần tổng cộng 18.000.000 đồng. Võ Văn Tâm khai nhận đã được Nguyễn Thành Thảo trực tiếp hối lộ 7 lần nhưng tổng số tiền chỉ là 9 triệu đồng, và được Trương Văn Cam trực tiếp hối lộ một lần số tiền 1.000.000 đồng.
* Hành vi nhận hối lộ của cán bộ công an phường và đội Cảnh sát hình sự Công an quận 8:
Nhận hối lộ để bao che sòng bạc tài sửu:
Đúng như thỏa thuận, sòng bạc tài sửu hoạt động liên tục từ tháng 2/2001 đến 9/10/2001 có sự bao che của một số cán bộ công an bị Liệu mua chuộc. Trong thời gian trên, vào hai tuần cuối tháng 8/2001 Lê Minh Hùng, Huỳnh Văn Long và Nguyễn Ái Vĩnh thông báo sòng bạc bị quần chúng tố cáo, phải tạm nghỉ để công an phường kiểm tra chiếu lệ nhằm đối phó với tố cáo của quần chúng. Như vậy thời gian hoạt động của sòng bạc là 31 tuần gồm 27 tuần tại phường 13 quận 8, 2 tuần tại phường 12 quận 8 và 2 tuần nghỉ.
Từ tháng 2 đến tháng 9/10/2001, Liệu đưa hối lộ hàng tuần: 31 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ đội Cảnh sát hình sự, 27 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ Công an phường 13, quận 8, 2 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ Công an phường 12, quận 8. Cụ thể:
+ Ở đội Cảnh sát hình sự: Nguyễn Xuân Liệu đã đưa hối lộ 31 tuần cho Lê Minh Hùng: 31.000.000 đồng, Trần Văn Chính: 15.500.000 đồng, Vũ Quốc Đạt: 15.500.000 đồng, Huỳnh Công Thành: 9.300.000 đồng và một số người khác.
+ Ở Công an phường 13, quận 8: Nguyễn Xuân Liệu đã đưa hối lộ cho Đặng Văn Hoãn 13.500.000 đồng (27 lần, mỗi tuần một lần 500.000 đồng); Huỳnh Văn Long 8.100.000 đồng (27 lần, mỗi tuần một lần 300.000 đồng); Nguyễn Bá Thanh 7.300.000 đồng (8 lần, mỗi tuần một lần 200.000 đồng và 19 lần, mỗi tuần một lần 300.000 đồng), một điện thoại di động trị giá 1.000.000 đồng và một tờ ngân phiếu 1.000.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Xuân Liệu khai còn thông qua chỉ huy các đơn vị để quan hệ cho tiền gây ảnh hưởng, mua chuộc một số người khác như sau:
- 5 cán bộ chiến sĩ Công an phường 12 quận 8: 6.000.000 đồng.
- Nguyễn Văn Phương, Lê Kỳ Nam và 14 cán bộ chiến sĩ đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 8: 56.400.000 đồng.
- 7 cán bộ chiến sĩ Công an phường 13 quận 8: 16.400.000 đồng.
Nhận hối lộ để bao che sòng bạc xóc đĩa:
Vào tuần đầu của tháng 10/2001 tại đường Trần Nguyên Hãn phường 13, quận 8 có 2 sòng bạc xóc đĩa và tài xỉu cùng hoạt động. Nguyễn Xuân Liệu đã đưa hối lộ cho sòng bạc xóc đĩa như sau: Lê Minh Hùng 1.000.000 đồng, Trần Văn Chính 300.000 đồng, Vũ Quốc Đạt 300.000 đồng, Đặng văn Hoãn 500.000 đồng, Huỳnh văn Long 300.000 đồng và một số người khác (Hãn, Nam, Vĩnh) số tiền là 500.000 đồng.
Tổng số tiền các bị can đã nhận hối lộ là 116.800.000 đồng (tính theo lời khai nhận của các bị can nhận hối lộ). Ngoài số bị can đã nhận hối lộ, còn 10 trường hợp (nguyên là cán bộ chiến sĩ công an phường 12, phường 13 và đội Cảnh sát hình sự Công an quận 8) đã tự giác khai nhận có nhận tiền của sòng bạc và giao nộp lại tổng số tiền 26.900.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Xuân Liệu còn thông qua chỉ huy các đơn vị để quan hệ cho tiền gây ảnh hưởng, mua chuộc một số người khác như sau:
- 5 cán bộ chiến sĩ Công an phường 12 quận 8: 6.000.000 đồng.
- Nguyễn Văn Phương, Lê Kỳ Nam, 14 cán bộ chiến sĩ và Nguyễn Thị Ửng (làm cấp dưỡng) đội Cảnh sát hình sự Công an quận 8: 56.400.000 đồng.
- 7 cán bộ chiến sĩ Công an phường 13 quận 8: 16.800.000 đồng.
Như vậy, Trương Văn Cam, Nguyễn Thành Thảo, Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Khánh Quốc, Tạ Đắc Lung, Triệu Tô Hà, Nguyễn Xuân Liệu, Lý Minh Tòng đã phạm tội đưa hối lộ được quy định tại điều 289 Bộ Luật hình sự; Lê Minh Hùng, Võ Văn Tâm, Trần Văn Chính, Vũ Quốc Đạt, Đặng Văn Hoãn, Huỳnh Văn Long, Nguyễn Bá Thanh, Huỳnh Công Thành đã phạm tội nhận hối lộ được quy định tại điều 279 Bộ luật hình sự; Lương Trung đã phạm tội gá bạc được quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự.
Vì Tô Văn Tốt đã chết nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với bị can Cô Đệ và Nguyễn Văn Thọ đã có hành vi tổ chức đánh bạc và đưa hối lộ cho sòng tài xỉu tại hẻm 62 Trần Nguyên Hãn với vai trò chủ sòng. Thông qua việc thuê nhà của Lương Trung, Cô Đệ đã tổ chức được sòng bạc trong thời gian dài và Cô Đệ đã dùng 10.000.000 đồng trích ra hằng tuần từ tiền xâu của sòng bạc để đưa hối lộ với tổng số tiền giá trị rất lớn (310.000.000 đồng) mua chuộc lôi kéo làm sa ngã hư hỏng nhiều cán bộ công an. Đồng thời, Nguyễn Văn Thọ đồng phạm tội đưa hối lộ, Cô Đệ đồng phạm tội làm môi giới hối lộ cho sòng xóc đĩa tại 74/18 Trần Nguyễn Hãn, phường 13, quận 8. Hành vi của Cô Đệ đã phạm vào các điều 249, 289, 290 của BLHS, hành vi của Nguyễn Văn Thọ đã phạm vào các điều 249, 289 của BLHS. Cô Đệ và Nguyễn Văn Thọ đã bỏ trốn, Cơ quan Điều tra đã truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với trường hợp Nguyễn Ái Vĩnh (nguyên là cán bộ trực ban hình sự Công an phường 13, quận 8) tuy có hành vi nhận hối lộ nhưng sớm nhận ra sai phạm, tự thú khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình và đồng bọn, giúp Cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ sự thật vụ án; tự giác nộp lại số tiền 8.200.000 đồng đã nhận của sòng bạc, xé thấy xử lý hành chính là thỏa đáng nên không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với các trường hợp Nguyễn Văn Phương, Lê Kỳ Nam tuy có hành vi nhận hối lộ nhưng đã thành khẩn khai báo, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ sự thật vụ án, đã nộp lại đủ tiền thu lợi bất chính, đã bị xử lý hành chính tước danh hiệu Công an nhân dân, xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với các trường hợp Lý Chí Thanh, Nguyễn Liêm Thảo, Phạm Văn Thắng tuy có nhận tiền hối lộ, nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Công an TP HCM đã đề nghị Bộ Công an tước danh hiệu Công an nhân dân, xét thấy xử lý hành chính là thỏa đáng, không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với các trường hợp Nguyễn Văn Móng, Phạm Hùng Tuấn, Lê Thanh Hùng, Nguyễn Văn Đua tuy có nhận tiền, nhưng không biết là tiền hối lộ của sòng bạc, đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính, nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nguyễn Xuân Liệu và Nguyễn Ái Vĩnh đều khai có chi tiền tuần cho Lê Ngọc Thanh và Huỳnh Chí Công nhưng số tiền không lớn, đã bị xử lý hành chính, tước danh hiệu Công an nhân dân, xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Riêng các trường hợp Nguyễn Văn Hường, Mai Út Hoàng, Lê văn Tiếu và Lưu Tấn Đức do chỉ có một lời khai về việc nhận tiền nên không có đủ cơ sở kết luận.
Các trường hợp Nguyễn Văn Móng, Nguyễn Văn Hường là chỉ huy Công an phường nơi sòng bạc hoạt động, Công an TP HCM đã xử lý kỷ luật tước danh hiệu Công an nhân dân về hành vi thiếu trách nhiệm.
Đối với Ông Tam Muổi và Nguyễn Văn Việt có hành vi làm trung gian chuyển tiền hối lộ, nhưng Nguyễn Xuân Liệu không cho biết rõ việc đưa tiền cho một số cán bộ là đưa hối lộ nên không phạm tội.
Đối với 14 chiến sĩ đội Cảnh sát hình sự và Nguyễn Thị Ửng không biết tiền được chia có nguồn gốc là tiền hối lộ nên không phạm tội.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 12/09/11, 6:06 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Cá độ, đánh bạc do đệ tử tổ chức



Năm Cam còn chỉ đạo đệ tử thuê đất ở khắp TP HCM để tổ chức đá gà ăn tiền; cá độ các trận bóng đá trong nước và thế giới tại nhiều quán cà phê. Nhờ có "ông trùm", ngoài việc "sân chơi" được đảm bảo an toàn, thì các fan không có mặt tại tụ điểm chỉ cần gọi điện thoại để đặt tỷ số, mức cá cược. Hàng tháng Năm Cam chỉ việc thu tiền nộp "xâu".


A. Các vụ án do Trương Năm Cam và đồng bọn thực hiện
IV. Vụ tổ chức đánh bạc
2. Các vụ tổ chức đánh bạc và đánh bạc do các đối tượng khác thực hiện
2.1. Đoàn Minh Chánh (Tư Chánh), Nguyễn Anh Minh (Cu "Nhứt") Nguyễn Văn Sy (Bảy Sy) tổ chức sòng bài và tổ chức đá gà
a. Hành vi tổ chức trường đá gà ăn tiền, thu tiền xâu của Đoàn Minh Chánh và Nguyễn Anh Minh
Tháng 3/1999, Đoàn Minh Chánh chủ động rủ Nguyễn Anh Minh là con bạc chuyên nghiệp tại 204/45 Đoàn Văn Bơ, phường 9 quận 4, TP HCM cùng tổ chức mở trường gà, mục đích thu tiền xâu chia nhau (BL: V6 T1: 68). Chúng phân công Chánh thuê địa điểm để tổ chức, Minh lo tìm mua gà nòi (loại gà chuyên đá chọi), số lượng 3-5 con (BL: V6 T1 từ 63-64, từ 124-125). Từ tháng 3/1999 đến khoảng tháng 3/2001 (thời gian không liên tục), do đặc điểm của trường gà có nhiều người tham gia, phải chơi đá gà vào ban ngày, dễ bị cơ quan công an phát hiện nên Chánh và Minh đã thuê các điểm đất trống của nhiều gia đình ở địa điểm nằm sâu trong hẻm, trên cánh đồng với giá 100.000-150.000 đồng/ngày để tổ chức trường gà. Chơi khoảng nửa tháng thì chúng thay đổi địa điểm khác nhằm tránh sự phát hiện bắt giữ của cơ quan công an (BL: V6 T1 từ 124-125). Các điểm thuê cụ thể là:
- Thuê đất của gia đình Dương Văn Tư (Tư Đình) ở khu vực Đồng Diều, gần hồ bơi Hoà Bình thuộc phường 4 quận 8 giáp ranh xã Bình Hưng, Bình Chánh. Tại địa điểm này Chánh và Minh tổ chức được khoảng 1 tháng. Đã trả tiền thuê đất 1,2 triệu đồng (BL: V6 T1: 73).
- Thuê đất của Nguyễn Văn Quang, sinh 1962 ngụ tại 769/1 Phạm Thế Hiển, phường 4 quận 8, ngụ tại ấp 4 xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh. Tại địa điểm này, Chánh và Minh chuyển di chuyển đến 4 lần, thời gian chơi các lần tổ chức khoảng 2 tháng rưỡi. Đã trả tiền thuê đất 1,2 triệu đồng (BL: V6 T1: 182).
- Thuê đất của Nguyễn Trung Trước (sinh 1948) tại nhà không số ở tổ 45, khu phố 5, phường 7 quận 8, thời gian thuê khoảng 2 tuần. Đã trả tiền thuê đất 400.000 đồng (BL: V6 T1: 73).
- Thuê đất của bà Nguyễn Thị Thương, sinh 1939 ở 769/4A tổ 123, phường 4 quận 8 khoảng 2 tuần, sau đó chuyển đi rồi quay lại khoảng 2-3 lần. Đã trả tiền thuê đất 1,2 triệu đồng (BL: V6 T1: 73).
- Ngoài ra Chánh và Minh còn thuê đất của một số gia đình trong cánh đồng thuộc huyện Bình Chánh, Nhà Bè, quận 7. Đã trả tiền thuê đất tổng cộng 1,4 triệu đồng (BL: V6 T1: 65, 73).
Khi thuê được địa điểm, Chánh và Minh dựng lều tạm để mở trường đá gà ăn tiền. Thông thường chúng tổ chức đá gà từ 13h đến 18h các ngày thứ bảy, chủ nhật hằng tuần. Thường có khoảng 25-30 con bạc từ khắp các quận đến chơi. Có lúc đông đến 50 người. Mỗi ngày chúng thường tổ chức đá khoảng 5-7 trận, tiền cá độ mỗi trận 2-10 triệu đồng (tuỳ theo mức độ tham gia cá độ của các con bạc). Trước khi đá gà, Chánh và Minh là người trực tiếp thu tiền xâu. Có nhiều lúc, Minh nhờ anh Nam "Cao", anh Long, không biết địa chỉ, thu tiền xâu. Cách thức thu: Các con bạc cá độ với nhau 1-2 triệu đồng/trận thì mỗi bên phải nộp 100.000 đồng tiền xâu; 3-5 triệu đồng/trận thì mỗi bên phải nộp 200.000 đồng tiền xâu; 5-7 triệu đồng/trận thì mỗi bên phải nộp 300.000 đồng tiền xâu; 7-10 triệu đồng/trận thì mỗi bên phải nộp 400.000 đồng hoặc 50.000 đồng tiền xâu (tuỳ theo khách). Các con bạc khác không có gà đá (đá ngoài với nhau), Chánh và Minh thu tiền xâu mỗi người 50.000-70.000 đồng/trận. Bằng cách thu tiền xâu như trên, Chánh và Minh thu được ít nhất 2 triệu đồng, nhiều nhất là 7 triệu đồng tiền xâu/ngày (BL: V6 T1: 63-64, 67-68). Trong suốt thời gian mở trường gà, Chánh và Minh thu được 600 triệu đồng tiền xâu, đã trả tiền thuê đất, trả cho nhiều người giúp việc hết 100 triệu, Chánh chia cho Minh 200 triệu đồng (BL: V6 T1: 118). Còn lại 300 triệu, Chánh sử dụng cá nhân.
Về các con bạc đến trường gà của Chánh và Minh để đá gà ăn tiền, Chánh khai: Trước khi mở trường gà, Chánh và Minh đều là các con bạc đá gà chuyên nghiệp nên biết nhiều các con bạc. Khi Chánh và Minh mở trường gà, các con bạc đá gà ở nhiều quận trong thành phố đến rất đông. Chánh chỉ nhớ tên, địa chỉ của một số con bạc có đến trường gà của Chánh và Minh đá gà ăn tiền gồm:
- Phạm Thái Hoà (Bò "Lục"), sinh 1964, trú tại 189Q/9 Tôn Thất Thuyết, phường 3 quận 4 TP HCM (BL: V6 T1: 54). Hoà đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã khởi tố bị can và ra quyết định truy nã về tội tổ chức đánh bạc.
- Nguyễn Văn Lắn (Lũng "Đầu bò"), sinh 1962 trú tại 109D/1/9 Bến Vân Đồn, phường 8 quận 4 TP HCM (BL: V6 T1: 53-54, 61). Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an bắt giam ngày 21/1/2002 về tội tổ chức đánh bạc. Qua đấu tranh xét hỏi, Lắn đã thừa nhận có tham gia đá gà ăn tiền ở trường gà của Chánh và Minh 3 lần (BL: V6 T1: 155).
- Nguyễn Minh Đức (Đức "Què"), sinh 1958, trú tại 53/1 Nguyễn Khắc Nhu, phường Cô Giang quận 1 TP HCM. Tiến hành ghi lời khai, Đức khai nhận có tham gia đá gà ăn tiền ở trường gà của Chánh và Minh 3 lần (BL: V6 T1: 174, 177).
- Nguyễn Văn Định (Út Định), sinh 1963, trú tại C13/35 Bis Tôn Đản phường 13 quận 4 TP HCM (BL: V6 T1: 120-121). Tiến hành ghi lời khai, Định khai nhận có đến đá gà ăn tiền ở trường gà của Chánh và Minh khoảng 3-4 tháng (không liên tục) (BL: V6 T1: 187-188).
- Hứa Văn Em (Hai Bé Em) sinh 1951 trú tại 105 Ký Con, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1 TP HCM. Tiến hành xét hỏi, Hứa Văn Em khai nhận tham gia đá gà ăn tiền ở trường gà của Chánh và Minh 3-4 lần (BL: V6 T1: 184).
- Châu Phát Lai (Lai Anh) sinh 1957, trú tại 18 đường 17 phường 4 quận 4, TP HCM (BL: V6 T1: 49). Tiến hành xét hỏi, Châu Phát Lai khai nhận tham gia đá gà ăn tiền ở trường gà của Chánh và Minh một vài lần.
- Châu Phát Lai Em, sinh 1959, trú tại 88X Bến Chương Dương, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1 (BL: V6 T1: 49). Tiến hành xét hỏi, Châu Phát Lai Em khai nhận tham gia đá gà ăn tiền ở trường gà của Chánh và Minh một vài lần cùng với anh Công, bốc xếp ở chợ cá Cầu Ông Lãnh.
- Ngoài các tên nêu trên, Chánh còn khai nhận biết các con bạc Thoàn, Bánh "Bao", Sơn, Vũ, Dũng "Chùa", Phong, Cu "Đen" nhiều lần đến trường gà của mình để đá gà ăn tiền nhưng không biết địa chỉ ở đâu (BL: V6 T1: 48, 113).
Như vậy từ tháng 3/1999 đến 3/2001, Đoàn Minh Chánh cùng với Nguyễn Anh Minh đã thuê đất trống của nhiều gia đình ở các quận 7, quận 8, huyện Nhà Bè, Bình Chánh (đã xác định được 4 địa điểm cụ thể như đã nêu ở phần a) để tổ chức trường đá gà ăn tiền thu tiền xâu. Chúng thường tổ chức đá gà 13-18h của các ngày lễ, tết, thứ bảy, chủ nhật; có 20-50 con bạc tham gia.
Cách thức thu: Các con bạc cá độ với nhau 1-2 triệu đồng/trận thì mỗi bên phải nộp 100.000 đồng tiền xâu; 3-5 triệu đồng/trận thì mỗi bên phải nộp 200.000 đồng tiền xâu; 5-7 triệu đồng/trận thì mỗi bên phải nộp 300.000 đồng tiền xâu; 7-10 triệu đồng/trận thì mỗi bên phải nộp 400.000 đồng hoặc 50.000 đồng tiền xâu (tuỳ theo khách). Các con bạc khác không có gà đá (đá ngoài với nhau), Chánh và Minh thu tiền xâu mỗi người 50.000-70.000 đồng/trận. Bằng cách thu tiền xâu như trên, Chánh và Minh thu được ít nhất 2 triệu đồng, nhiều nhất là 7 triệu đồng tiền xâu/ngày. Chánh và Minh thu được 600 triệu đồng tiền xâu, đã trả tiền thuê đất, trả cho nhiều người giúp việc hết 100 triệu đồng, Chánh chia cho Minh 200 triệu đồng. Còn lại 300 triệu, Chánh sử dụng cá nhân.
b. Hành vi tổ chức sòng bài (đánh bạc ăn tiền để thu tiền xâu) của Đoàn Minh Chánh và Nguyễn Văn Sy
Đầu tháng 9/2001, Nguyễn Văn Sy (Bảy Sy) chủ động rủ Đoàn Minh Chánh mở sòng bài thu tiền xâu, được Chánh đồng ý (BL: V6 T1: 57). Chúng phân công Chánh có trách nhiệm lo thuê địa điểm, Bảy Sy lo rủ các con bạc quen biết từ trước về để tổ chức sòng bạc (BL: V6 T3: 273). Chánh trực tiếp điện cho Võ Tấn Phước (Lành) sinh 1972, hộ khẩu 65/2 Đoàn Như Hài, phường 12 quận 4, chỗ ở C200/12 Vòm Chiếu, phường 14 quận 4 để thuê căn nhà không số bỏ không của Phước tại hẻm bên cạnh hồ bơi Hoà Bình thuộc phường 4 quận 8 TP HCM, được Phước đồng ý. Hai bên thoả thuận Chánh sẽ trả cho Phước 80.000 đồng/ngày (BL: V6 T1: 64). Chánh và Sy đã hùn vốn mỗi người 5 triệu đồng để làm vốn mở sòng bài (BL: V6 T1: 69).
Sòng bài này chính thức chơi từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 12/2001 thì nghỉ. Lúc đầu Bảy Sy đưa đến một số con bạc như bà Bảy, bà Năm, bà Mười, bà Bầu, cô Hoa, bà Phượng… Sau đó các con bạc này rủ thêm một số con bạc khác (BL: V6 T1: 69). Chánh, Sy tổ chức từ 12h đến 19h, có hôm đến 21h cùng ngày. Thường có khoảng 12-16 con bạc tham gia, hình thức chơi binh xập xám hoặc xí ngầu. Ngoài việc tổ chức sòng bài, Chánh và Sy cũng tham gia chơi cùng với các con bạc (BL: V6 T1: 69).
Cách thức tổ chức đánh bài xập xám và thu tiền xâu: Dùng bộ bài 52 lá chia đều cho 4 người chơi, mỗi người 13 lá. 13 lá chia thành 3 chi: Chi dưới 5 lá, chi giữa 5 lá, chi đầu 3 lá, ăn thua theo từng chi. Mỗi người đứng cái 1 cặp (2 ván bài), mỗi chi tuỳ theo con bạc chơi mà đặt từ 200.000-1 triệu đồng/chi. Nếu con bạc nào đó làm cái 2 ván bài, 3 người đặt 500.000 đồng/chi, nếu cái thắng hết 3 chi của 3 con bạc thì số tiền thắng là 4,5 triệu đồng, nếu thắng 2 bàn liên tục thì thắng 9 triệu đồng, nếu thua thì ngược lại. Sau mỗi ván, Chánh trực tiếp thu tiền xâu, ai thắng 1 triệu thì thu 30.000 đồng, thắng 10 triệu thì thu 300.000 đồng (BL: V6 T1: 71).
Cách thức tổ chức đánh bài xí ngầu và thu tiền xâu: Dùng 4 hột xí ngầu (do khách mua), mỗi hột xí ngầu có 6 mặt có từ 1 nút đến 6 nút. 4 hột xí ngầu được để trên cái đĩa, phía trên đĩa úp 1 cái chén (bát ăn cơm). Mỗi lần lắc 3 cái gọi là chơi 1 chén, bên ngoài có tấm vẽ ngang dọc theo số chẵn, lẻ 1, 2, 3, 4. Trên mỗi chén, tuỳ theo các con bạc đặt nhiều hay ít (150.000-1 triệu đồng/chén) chọn đặt số tiền chẵn hoặc lẻ theo 4 cửa 1, 2, 3, 4. nếu con bạc nào đặt cửa 4, khi lắc xong, cộng tất cả các nút trên mặt con xí ngầu rồi tính đến 10 hoặc 20 còn thừa ra 4 nút thì người đó thắng (thắng cả cái và các con bạc), hai nút thì thua (thua cả cái và các con bạc khác); 1 hoặc 3 nút thì sề (huề). Chánh hoặc Sy, hoặc con bạc nào đó làm cái, sau mỗi chén, con bạc nào thắng phải nộp cho Chánh, cứ 1 triệu đồng thì nộp 40.000 đồng tiền xâu (BL: V6 T1: 71, 170).
Với các hình thức chơi, các con bạc tham gia đánh xập xám, xí ngầu, cách thu tiền xâu như nêu trên. Mỗi ngày Chánh và Sy thu ít nhất là 1,5 triệu đồng, nhiều là 3 triêụ đồng tiền xâu. Cả quá trình thu được khoảng 56 triệu đồng, trả tiền nhà cho Phước (Lành) 6 triệu, trừ các khoản ăn uống, thuốc nước thì Chánh và Sy mỗi người được chia 25 triệu đồng. Số tiền trên, Chánh và Sy dùng để trả lãi suất vay vốn và tiêu sài hết (BL: V6 T1: 73, 74).
Hành vi trên (phần a và b) của Đoàn Minh Chánh, Nguyễn Anh Minh và Nguyễn Văn Sy đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS.
Đoàn Minh Chánh đã khai nhận toàn bộ hành vi cùng Nguyễn Anh Minh mở trường đá gà ăn tiền và cùng với Nguyễn Văn Sy mở sòng bài tổ chức đánh bạc ăn tiền để thu tiền xâu chia nhau phù hợp với tài liệu chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được. Để được chia phần tiền nhiều hơn Nguyễn Anh Minh 100 triệu đồng, Chánh nói với Minh là dùng 100 triệu để “chi phí ngoại giao” nhưng thực chất Chánh đã dùng để trả nợ và sử dụng cá nhân. Đoàn Minh Chánh là con bạc chuyên nghiệp, đã bị cơ quan chức năng xử lý nhiều lần, được chính quyền địa phương nhắc nhở, giáo dục, răn đe, bắt viết cam kết nhiều lần nhưng không chịu hối cải, không chịu làm ăn lương thiện, tiếp tục lao vào con đường cờ bạc, tổ chức đánh bạc bằng các hình thức đá gà, sòng bài để thu tiền xâu với mục đích trục lợi cá nhân. Hành vi trên của Đoàn Minh Chánh phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm lập lại trật tự trị an, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân.
Nguyễn Văn Sy cũng khai nhận toàn bộ hành vi cùng Đoàn Minh Chánh mở sòng đánh bạc ăn tiền thu tiền xâu chia nhau phù hợp với tài liệu chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được (BL: V6 T3: 277-280). Nguyễn Văn Sy cũng là con bạc chuyên nghiệp, đã bị bắt, xử lý nhiều lần. Sau khi ra tù tìm đến đồng bọn để tổ chức đánh bạc thu tiền xâu. Hành vi của Sy thể hiện sự coi thường pháp luật và tái phạm nhiều lần cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Đối với Nguyễn Anh Minh: Sau khi đồng bọn bị bắt giữ, Minh đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Do bị truy lùng ráo riết, ngày 21/8/2002 Minh đã ra tự thú tại Công an tỉnh Đồng Nai và khai nhận toàn bộ hành vi tổ chức đá gà cùng Đoàn Minh Chánh như đã nêu trên và thừa nhận được chia 200 triệu đồng từ nguồn thu nhập bất chính. Trong quá trình tổ chức đá gà, Chánh có nói với Minh đã dùng số tiền 100 triệu đồng để lo chi phí cho việc bảo kê trường gà, còn việc chi phí cụ thể như thế nào thì Minh không được biết. Kết quả điều tra và lời khai nhận của Chánh xác định không có việc Chánh dùng 100 triệu đồng để lo bảo vệ sòng bài, đây chỉ là thủ đoạn để Chánh ăn chặn tiền xâu của Minh.
Tiến hành ghi lời khai các con bạc như Ba Kiệm, Mười Lượng (BL: V6 T1: 168-169), Nguyễn Minh Đức (BL: V6 T1: 174, 177), Nguyễn Văn Định (BL: V6 T1: 120-121), Kim Anh (BL: V6 T1: 281-283) đã thừa nhận có đến sòng bài của Chánh và Sy đánh bạc nhiều lần, Võ Tấn Phước cũng thừa nhận cho Chánh và Sy thuê địa điểm tổ chức đánh bạc, được trả mỗi ngày 80.000 đồng. Tổng cộng khoảng 7 triệu đồng.
Đối với các chủ cho thuê đất làm địa điểm mở sòng bài, do nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội nhất thời chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà xem xét xử lý hành chính, thu lại tiền thu lợi bất chính.
Đối với các con bạc tham gia chơi bạc tại sòng bài của Nguyễn Văn Sy và Đoàn Minh Chánh đều đã được khởi tố điều tra và đề nghị xử lý. Riêng Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Văn Định, Nguyễn Thị Kim Anh không phải là con bạc chuyên nghiệp, phạm tội nhất thời chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà xem xét xử lý hành chính.
c. Hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của Nguyễn Anh Minh (Cu "Nhứt")
Quá trình khai thác, bị can Nguyễn Anh Minh (Cu "Nhứt") khai nhận: Ngoài hành vi cùng Đoàn Minh Chánh tổ chức trường đá gà ăn tiền để thu tiền xâu chia nhau, do mâu thuẫn với Nguyễn Văn Dũng (Dũng Quốc Thanh) là nhân viên bảo vệ vũ trường Viễn Đông, ngày 19/2/2001, Anh Minh đã đến vũ trường Viễn Đông trên đường Phạm Ngũ Lão, quận 1, TP HCM chém Nguyễn Văn Dũng gây thương tích. Vì biết Dũng là đệ tử thân thiết của Bình "Kiểm", sợ băng nhóm của Bình kiểm trả thù nên tháng 3/2001, Minh đã mua một khẩu súng ngắn có 6 viên đạn của tên Bòn chạy xe ôm (không rõ địa chỉ) ở địa phận núi Sam, Tịnh Biên, An Giang với giá 3 triệu đồng. Minh đã chôn cất khẩu súng tại vườn nhà ông Huỳnh Văn Muôi, sinh 1936, ngụ tại 55/2 Lâm Văn Bền, phường Tân Kiểng, quận 7, TP HCM. Cơ quan điều tra đã thu được khẩu súng trên và 6 viên đạn. Qua giám định, xác định đó là khẩu súng quân dụng còn sử dụng được, loại súng ngắn, cỡ nòng 6,35 mm, số Z519750 do Cộng hoà Czech - Slovakia sản xuất (bắn thực nghiệm: 4 viên nổ, 2 viên không nổ).
Hành vi trên của Nguyễn Anh Minh đã phạm tội tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng, tội danh được quy định tại điều 230 BLHS.
2.2. Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá, đánh bài ăn tiền của các tên Trương Hiền Bảo, Lê Văn Đại, Lưu Hồng Lâm, Huỳnh Chí Đức, Nguyễn Văn Thành, Hứa Tấn Bửu, Tiêu Quân, Nguyễn Chí Dũng, Ngô Quang Vinh, Lương Cẩm Huy
Tháng 12/2000, thấy có nhiều con bạc tụ tập tại các quán cà phê để chơi cá độ bóng đá, Trương Hiền Bảo nghĩ cách dựa vào thế lực và uy tín của mình (là con Trương Văn Cam) tìm địa điểm để thu hút các con bạc tập trung lại thành điểm tổ chức cá độ bóng đá nhằm bán hàng (cơm, nước giải khát) giá cao cho các con bạc để thu lợi nhuận bất chính và tổ chức đánh bài ăn tiền để thu tiền xâu. Để dễ di chuyển thay đổi địa điểm khi cần, tránh sự phát hiện của cơ quan pháp luật, Bảo tính toán rất kỹ là dựa vào các quán cà phê đang hoạt động để thuê lại một phần thời gian từ 10h đến 17h hằng ngày, như vậy Bảo không phải đứng tên đăng ký kinh doanh, không phải đầu tư tài sản, đồng thời Bảo cho chế biến đồ ăn từ nhà hàng Ra Khơi (nhà hàng của gia đình Bảo) rồi cử nhân viên mang đến quán bán. Phần nước uống, Bảo cho lấy ngay tại quán để vừa đỡ phải đầu tư, quán cũng có phần lợi ích, dễ thoả thuận cho thuê. Bảo không nói rõ mục đích tổ chức cá độ bóng đá mà Bảo chỉ đặt vấn đề với chủ quán là xin hợp tác làm ăn bằng cách thuê lại quán để kéo khách về bán cơm, còn quán được bán nước cho cả khách của Bảo để các chủ quán yên tâm đồng ý cho Bảo thuê quán. Để chiêu mộ được nhiều con bạc đến cá độ bóng đá và đánh bài ăn tiền, Bảo dùng cách chỉ tổ chức các con bạc 10-17h hằng ngày. Trong thời gian này không có truyền hình bóng đá nhưng các con bạc đến đây để thanh toán tiền cá độ của hôm trước, trao đổi, bình luận, nắm bắt thông tin về bóng đá… và bắt độ với nhau các trận tiếp theo. Sau khi bắt độ với nhau, buổi tối chúng đến các quán cà phê có truyền hình trực tiếp bóng đá khác để theo dõi kết quả. Từ đó chúng tuyên thuyền thông tin cho nhau biết điểm tổ chức cá độ bóng đá của Bảo và ngày càng nhiều con bạc đến cá độ tại các địa điểm này.
Kết quả Trương Hiền Bảo đã tổ chức các điểm cá độ bóng đá tại các quán cà phê ở số nhà 11D Thi Sách, quận 1 và 196 Trần Bình trọng quận 5, như sau:
a. Điểm tổ chức cá độ bóng đá tại 11D Thi Sách, quận 1, TP HCM
Tháng 11/2000, Trần Anh Tuấn, sinh năm 1967, ngụ tại 1166 đường 3/2, phường 12, quận 11, TP HCM thuê lại mặt bằng diện tích 950 m2 tại 11D Thi Sách, quận 1, TP HCM của anh Đặng Đình Thanh ở 68 Nguyễn Huệ, quận 1 để làm quán cà phê. Hàng ngày Tuấn giao cho Nguyễn Thị Hồng Sâm và Trần Thanh Quý (là người yêu và em của Tuấn) quản lý, bán hàng. Tuấn xây một nhà cấp 4 rộng 100 m2 làm phòng lạnh bán hàng, phần còn lại Tuấn bán hàng ngoài trời. Thấy địa điểm trên rộng, ở khu vực yên tĩnh thuận lợi cho việc mở điểm tổ chức cá độ bóng đá, tháng 12/2000 Trương Hiền Bảo, sinh năm 1974, ngụ tại: 107/38 Trương Định, phường 6, quận 3, TP HCM đã chủ động đến gặp Tuấn (trước đó Bảo và Tuấn chưa quen biết nhau) và đặt vấn đề hợp tác làm ăn bằng cách thuê lại một phần quán để Bảo kéo khách về bán cơm từ 11h đến 16h hằng ngày, còn Tuấn bán nước bình thường. Tuấn thấy có thêm khách để bán hàng (cà phê, nước giải khát) nên đã đồng ý cho Bảo thuê một góc quán ngoài trời nhưng không thu tiền thuê quán (vì Tuấn bán nước cho cả khách của Bảo). Bảo chỉ nói với Tuấn là thuê quán để bán cơm, nhưng mục đích của Bảo là để làm điểm tổ chức cá độ bóng đá nhằm thu lợi nhuận từ việc bán cơm, nước giá cao cho các con bạc. Sau khi hỏi thuê được quán của Tuấn, Bảo nói với Trương Thị Lan (chị ruột của Bảo) - làm quản lý ở nhà hàng Ra Khơi giúp Bảo cử người đi chợ mua và chế biến đồ ăn tại nhà hàng Ra Khơi; cử nhân viên đi bán hàng, theo dõi thu, chi, trả tiền lương cho nhân viên. Số tiền còn lại, Lan đưa cho Bảo. Lan phân công các tên Đặng Văn Tâm sinh năm 1972, ở 521/90 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 26, quận Tân Bình; Lê Công Thạo sinh năm 1964, ở 148/12/30/31/6 Tôn Đản, phường 8, quận 4; Chi, Thuỷ (không biết địa chỉ) - nhân viên nhà hàng Ra Khơi trực tiếp chở đồ ăn đã chế biến sẵn ở nhà hàng Ra Khơi đến quán 11D Thi Sách để bán, cụ thể:
- Đặng Văn Tâm viết phiếu bán hàng gồm 2 liên, liên 1 đưa cho tên Thạo (kế toán) để theo dõi, thu tiền của khách, đối chiếu, nộp tiền cho Trương Thị Lan. Liên 2 đưa cho nhân viên của Tuấn để theo dõi, đối chiếu, thanh toán tiền bán hàng hàng tháng giữa Bảo và Tuấn.
- Tên Thạo làm kế toán theo dõi, thu tiền bán hàng, hết ngày về đối chiếu và nộp tiền cho Trương Thị Lan.
- Các tên Chi, Thuỷ làm phục vụ.
Hằng ngày các tên Thạo, Tâm, Thuỷ, Chi chở đồ ăn đã chế biến sẵn từ nhà hàng Ra khơi đến bán giá cao cho các con bạc (20 đến 30 nghìn đồng/suất) tại quán 11D Thi Sách. Đối với việc bán nước giải khát, khi khách của Bảo yêu cầu nước thì nhân viên của Bảo viết phiếu bán hàng và giao cho Tuấn một liên để Tuấn xuất hàng. Sau đó hằng tuần, Bảo thanh toán tiền nước cho Tuấn theo giá bán hàng bình thường của Tuấn (10.000-15.000 đồng/ly nước), còn Bảo thu của các con bạc giá cao (20.000-25.000 đồng/ly). Trung bình mỗi ngày có 30-60 con bạc đến đây chơi cá độ bóng đá và Bảo bán hàng thu được trên dưới 2 triệu đồng, sau khi trừ đi phần tiền vốn, trả lương cho nhân viên và các chi phí khác…, Bảo còn thu được1.000.000 đồng tiền lời từ việc bán cơm, nước giá cao cho các con bạc. Bảo tổ chức tại đây từ tháng 12/2000 đến ngày 12/3/2001 là 3 tháng và đã thu được 90.000.000 đồng tiền lời (BL số: V6T8: 870, 878).
Bảo khai trước Cơ quan điều tra là khi đặt vấn đề thuê quán của Tuấn, Bảo có nói rõ với Tuấn mục đích thuê quán là để làm điểm tổ chức cá độ bóng đá (BL số: V6 T7: 637-638). Nhưng Tuấn không thừa nhận việc Bảo nói mục đích thuê quán để làm điểm tổ chức cá độ bóng đá (BL số: V6 T7: 776-777). Xét thấy Tuấn không quen biết Bảo, Tuấn cho Bảo thuê quán không lấy tiền thuê quán, không tính tăng giá bán nước đối với khách mà mục đích để bán được thêm hàng và giới thiệu thêm nhiều người đến quán của Tuấn, còn Bảo bán hàng giá cao cho các con bạc để thu lời bất chính nhưng không chia một phần lợi nhuận nào cho Tuấn. Do vậy chưa có đủ cơ sở xác định Tuấn phạm tội tổ chức đánh bạc cùng với Bảo.
Đến ngày 12/3/2001, thấy điểm cá độ bóng đá này đã bị lộ (bị công an phường Bến Nghé kiểm tra), Bảo cho quán tạm ngừng hoạt động để tìm thuê địa điểm khác.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Chủ đề này đã bị khóa, bạn không thể sửa những bài viết của mình hay trả lời bài viết thêm nữa.  [ 74 bài viết ]  Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5 ... 8  Trang kế tiếp

Múi giờ UTC + 7 Giờ


Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
cron


Protected by Anti-Spam ACP Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group
Vietnamese translation by nedka