Chào bạn, Hãy ĐĂNG KÝ hoặc ĐĂNG NHẬP để tham gia cùng chúng tôi

WWW.DVDVOTHUAT.COM/FORUM

Diễn đàn của website DVD Võ Thuật

Thông báo

DIỄN ĐÀN DVD VÕ THUẬT ĐỔI GIAO DIỆN MỚI !!

Hôm nay, 20/11/18, 7:20

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Chủ đề này đã bị khóa, bạn không thể sửa những bài viết của mình hay trả lời bài viết thêm nữa.  [ 74 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1 ... 4, 5, 6, 7, 8  Trang kế tiếp
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:33 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 10 đối tượng tham gia đánh bạc


Trần Văn Hên mang một máy rung bỏ trong người để đánh xập xám theo sự chỉ đạo của Triệu Tô Hà và Vương Tử tại sòng bạc 835/1-2 Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5, TP HCM. Đặng Văn Chung đến sòng 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 đánh bạc xóc đĩa, mỗi ván đặt cược 100.000-300.000 đồng.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
83. Bị can Trần Văn Hên (Đực)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1949 tại Bến Tre
- ĐKNKTT: 134A14 Tô Hiến Thành, phường 15, quận 10, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Con ông: Trần Văn Ngọc (chết)
- Con bà: Lê Thị Thạnh
- Vợ: Trịnh Ngọc (đã ly dị)
- Có 3 con (lớn nhất sinh 1979, nhỏ nhất sinh 1982)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1949-1965: Ở với cha mẹ đi học đến lớp 6, phụ giúp gia đình. Năm 1966-1968: Phụ buôn bán cá tại chợ cá Trần Quốc Toản. Năm 1969-1973: Đi lính ngụy. Năm 1973-1998: Buôn bán hải sản tại Lương Nhữ Học, quận 5. Năm 1998-2001: Không nghề nghiệp ổn định.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Tháng 12/2000, Trần Văn Hên tham gia đánh bạc xập xám tại sòng bạc số 835/1-2 Trần Hưng Đạo, phần 1, quận 5. Hên được Triệu Tô Hà giao cho một máy rung bỏ trong người để đánh bạc theo sự chỉ đạo của Triệu Tô Hà và Vương Tử (Xây - Việt kiều Canada). Sau 5 ngày tham gia đánh bạc, Hên được Triệu Tô Hà và Vương Tử chia cho 200 triệu đồng. Ngày 30/1/2002 Trần Văn Hên đến Cơ quan An ninh Điều tra - Công an TP HCM đầu thú và nộp số tiền 200 triệu đồng do Hên thắng bạc mà có. (BL số 1690, 1691 - V4 - tập 22)
Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc của bị can Trần Văn Hên đã phạm vào điều 249, 248 BLHS nước CHXHCNVN.
84. Bị can Hồ Thị Út
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 7/8/1964 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 125 Bùi Viện, Phạm Ngũ Lão, quận 1, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 11/12
- Con ông: Hồ Văn Huy (79 tuổi)
- Con bà: Nguyễn Thị Đào (77 tuổi)
- Chồng: Nguyễn Thanh Bình, 47 tuổi
- Có 2 con (lớn sinh 1985, nhỏ sinh 1988)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1964-1983: Ở với cha mẹ đi học đến lớp 11/12 tại Nhà Bè. Năm 1984-2001: lấy chồng, làm nghề thợ may.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam từ ngày 9/10/2001 đến ngày 14/1/2002
c. Hành vi phạm tội
- Từ tháng 10/1999 đến tháng 1/2000 Hồ Thị Út tham gia đánh bạc tại sòng bạc xóc đĩa mở tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Mỗi lần đến sòng bạc Hồ Thị Út đem theo khoảng 2.000.000 (hai triệu) đồng, mỗi ván đặt từ 100.000 đến 200.000 đồng. Sau 3 tháng đánh bạc, Út bị thua khoảng 6.000.000 đồng.
- Đầu tháng 9/2001 Hồ Thị Út tiếp tục đến đánh bạc tại sòng bạc 1102 Đường Tự Lập, phường 4, quận Tân Bình. Tại đây Hồ Thị Út đã đánh bạc 4 (bốn) ngày. Ngày đầu ăn được 450.000 đồng, 3 (ba) ngày sau bị thua khoảng 1.600.000 (một triệu sáu trăm ngàn) đồng. (BL số 2615 - V4 - tập 41)
- Đầu tháng 10/2001 sòng bạc di chuyển về số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Út lại tiếp tục đến đánh bạc. Từ ngày 6/10/2001 đến ngày 9/10/2001, Út đem theo mỗi ngày từ 2.000.000 đồng đến 6.500.000 đồng đến sòng bạc, mỗi ván đặt từ 100.000 đến 200.000 đồng. Sau 3 ngày đánh bạc, thua 3.300.000 đồng. (BL số 2637, 2638 - V4 - tập 41)
Tổng cộng những lần tham gia đánh bạc, Hồ Thị Út thua 10.450.000 đồng.
Ngoài việc Út tham gia đánh bạc, Hồ Thị Út còn có hành vi cho một số con bạc vay tiền để lấy lãi nhưng quá trình điều tra xác minh, xác định Út cho vay với lãi suất 3% đến 5%/tháng với số lượng tiền cho vay không lớn và số người vay không nhiều. Hành vi cho vay tiền của Hồ Thị Út chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. (BL số 2643, 2644 - V4 - tập 41)
Hành vi đánh bạc của bị can Hồ Thị Út đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ của Hồ Thị Út có 13.650.000 đồng, 3 máy điện thoại di động hiệu Nokia. Về 3 chiếc máy điện thoại Hồ Thị Út khai có 2 máy 1 máy đang sử dụng, 1 máy bị hư đem đi sửa, chiếc còn lại Út cầm của người bạn tên Thư ngụ tại 6 bis/11 Nguyễn Tất Thành, phường 12, quận 4.
85. Bị can Nguyễn Thị Thủy
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1966 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 196/4 Hoàng Văn Thụ, phường 4, Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Con ông: Nguyễn Văn Cát (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Nghé
- Chồng: Âu Vĩnh Cường, sinh 1961
- Con: 1 người con, sinh 1986
b. Quá trình hoạt động
Năm 1966-1988: Từ nhỏ sống với cha mẹ ở Tân Bình, làm nghề đan len. Năm 1988-1994: Buôn bán, ở nhà thuê. Năm 1994-2001: Làm hụi, ngụ tại 196/9 Hoàng Văn Thụ, phường 4, Tân Bình, TP HCM.
- Tiền án: 1. Ngày 21/8/1999, TAND Tân Bình xử phạt 6 tháng tù treo và 12 tháng thử thách về tội đánh bạc.
- Tiền sự: Không
- Tạm giam từ ngày 9/10/2001 đến ngày 11/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Nguyễn Thị Thủy khai nhận: Khoảng cuối năm 1999, trong khi đang thi hành bản án 6 tháng tù treo về tội đánh bạc, Thủy lại tiếp tục đến sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 tham gia đánh bạc xóc đĩa ăn tiền khoảng 1 tháng. Mỗi ván Thủy đặt cược từ 50.000 đến 300.000 đồng. Tháng 9/2001 Thủy tham gia đánh bạc tại sòng 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình được 3 ngày. Khi sòng bạc chuyển về 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Thủy tham gia được khoảng 3 ngày thì bị bắt, mỗi ván Thủy đặt cược từ 50.000 đến 300.000 đồng. Tổng cộng trong thời gian tham gia đánh bạc Thủy thua khoảng 12 triệu đồng. (BL số 3224 - V4 - tập 60)
Căn cứ lời khai của các bị can có đủ cơ sở kết luận: Thủy còn tham gia đánh bạc tại sòng bạc xóc đĩa tổ chức tại 351A Khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 và sòng số 27/23, 27/6 Văn Thân, phường 8, quận 6 khoảng 18 ngày, mỗi ván đặt cược từ 50.000 đến 300.000 đồng. (BL số 13, 27 - V4 - tập 74)
Riêng lời khai của bị can Nguyễn Thị Kim Phượng về Thủy có tham gia hùn vốn làm cái trong sòng bạc là 10 triệu đồng được chia lời khoảng 33.000.000 đồng, nhưng chỉ có 1 lời khai của Phượng và Thủy không thừa nhận nên chưa có đủ cơ sở kết luận Thủy tham gia hùn vốn làm cái trong sòng bạc.
Khi bị bắt, Nguyễn Thị Thủy khai tên là Nguyễn Thị Kim Ngân (là tên em ruột của Thủy) nhằm che giấu hành vi tái phạm của mình.
Hành vi đánh bạc của bị can Nguyễn Thị Thủy đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Kiến nghị Tòa án tổng hợp hình phạt 6 tháng tù treo của TAND quận Tân Bình xử ngày 21/8/1999 đối với Nguyễn Thị Thủy về hành vi đánh bạc.
Vật chứng thu giữ tại sòng bạc gồm 13.486.000 đồng, 10 USD và 4 phỉnh màu vàng tương đương 2 triệu đồng.
86. Bị can Đặng Văn Chung (Chung Viphon)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 24/04/1957 tại Ninh Bình
- ĐKNKTT: 248 Trường Chinh, phường 13, Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Đặng Văn Được (chết)
- Con bà: Đinh Thị Huệ
- Vợ: Trần Hồng Nga, sinh 1967
- Có 3 con: Lớn sinh 1989 nhỏ sinh năm 1996
b. Quá trình hoạt động
Năm 1957-1974: Ở với cha mẹ và đi học tại thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Năm 1974-1983: Đi bộ đội đóng quân tại Quân khu 7 và Quân khu 9. Năm 1983-2002: Công nhân phân xưởng điện nhà máy mì ăn liền Vifon.
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Tháng 3/2000, Đặng Văn Chung được tên Man nhà ở đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3 (Man đã định cư tại Mỹ) đưa đến sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 đánh bạc xóc đĩa khoảng 10 lần, mỗi ván đặt cược từ 100.000 đến 300.000 đồng, thua khoảng 4.000.000 đồng.
Tháng 2/2001, tham gia đánh bạc tại sòng bạc số 351A khu phố 1, phường Phước Long A, quận 9 khoảng 7 lần, mỗi ván đánh từ 200.000 đến 500.000 đồng, bị thua khoảng 7.000.00 đồng.
Tháng 7/2001, tham gia đánh bạc tại sòng bạc 27/23 Văn Thân, phường 8, quận 6 khoảng 5 lần, mỗi ván đặt cược từ 200.000 đến 500.000 đồng, bị thua khoảng 8.000.000 đồng.
Tháng 9 và 10/2001 đánh bạc tại sòng bạc 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình và 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, mỗi ván đánh từ 500.000 đến 1.000.000 đồng, bị thua khoảng 4.000.000 đồng. (BL số 2824, 2825 - V4 - tập 47)
Tổng cộng Chung tham gia đánh bạc tại các sòng bạc bị thua khoảng 23.000.000 đồng.
Hành vi đánh bạc của bị can Đặng Văn Chung đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
87. Bị can Lê Tấn Hổ
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 22/2/1954 tại Quảng Nam
- ĐKNKTT: 40/3 Hương Lộ 14, phường 17, quận Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Lê Tấn Anh (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Thìn
- Vợ: Lê Thị Lụa, sinh 1957
- Con: 1 người con, sinh 1982
b. Quá trình hoạt động
Năm 1954-1972: Còn nhỏ sống với cha mẹ tại Quảng Nam. Đi học hết lớp 12/12. Năm 1973-1975: Học trường cán sự y tế Sài Gòn. Năm 1976-1981: Đi nghĩa vụ quân sự. Tháng 1/1981-2001: cư ngụ tại 40/3 Hương Lộ 14, phường 17, quận Tân Bình làm nghề chế biến gỗ.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 9/10/2001 đến ngày 11/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Đầu tháng 10/2001, thông qua một số con bạc Hổ biết được tại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 có một sòng bạc chuyên xóc đĩa ăn tiền nên Hổ đã tự tìm đến sòng bạc nói trên để đánh bạc, cụ thể:
- Khoảng 14h ngày 7/10/2001, Hổ đem theo 1.000.000 đồng vào sòng bạc và đặt mỗi ván 200.000 đến 500.000 đồng kết quả hơn một giờ Hổ đã thua hết 1.000.000 (một triệu đồng) đồng.
- Khoảng 16h ngày 8/10/2001, Hổ đem theo 400 USD và 1.000.000 đồng đến sòng bạc nói trên đánh bạc mỗi ván đặt từ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đến 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Khoảng 21h cùng ngày, sòng bạc tạm ngưng, Hổ ăn được 12.500.000 (mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Số tiền ăn được Hổ đổi thành 10 phỉnh màu trắng xám (theo quy ước của tổ chức sòng bạc mệnh giá tương đương 10.000.000 đồng) và 5 phỉnh màu vàng tương đương 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng và Hổ nhờ Nguyễn Thị Phượng là người chuyên giữ phỉnh đổi tiền của sòng bạc cất giữ hộ để hôm sau đến đánh bạc tiếp.
- Khoảng 15 giờ ngày 09/10/2001, tên Hổ đến sòng bạc nói trên có đem thêm 4.000.000 (bốn triệu) đồng để đánh bạc. Mỗi ván Hổ đặt từ 200.000 đồng trở lên và đánh được khoảng 3 ván thì bị bắt. (BL số 2679, 2680 - V4 - tập 42)
Hành vi đánh bạc của bị can Lê Tấn Hổ đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ gồm: 15 miếng phỉnh, 785.000 đồng tiền mặt (bảy trăm tám mươi lăm ngàn), 01 điện thoại hiệu Startac màu nâu.
88. Bị can Đỗ Tuấn Khoa
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1976 tại Hải Phòng
- ĐKNKTT: 34B/258 Đà Nẵng, Cầu Tre, Ngô Quyền, TP Hải Phòng
- Chỗ ở (tạm trú): 147 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 17, Bình Thạnh, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Đỗ Thế Kế (sinh 1939)
- Con bà: Phan Thị Hường (sinh 1942)
- Vợ: Đỗ Thị Linh Thu, sinh 1970
- Có 1 con
b. Quá trình hoạt động
Năm 1976-1996: Sống cùng gia đình đi học hết lớp 12/12 tại Hải Phòng. Năm 1996-2001: Nhân viên hợp đồng bán hàng cho Công ty Cổ phần đồ hộp Hạ Long, tạm trú tại số 147 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 17, Bình Thạnh.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 9/10/2001
c. Hành vi phạm tội
Ngày 6/10/2001 bị can Đỗ Tuấn Khoa mang theo 3.000.000 đồng (ba triệu) đến sòng bạc xóc đĩa ăn tiền tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 để đánh bạc. Khoa đặt mỗi ván từ 100.000 (một trăm nghìn) đến 300.000 đồng (ba trăm nghìn), đánh gần 1 tiếng thì thua hết 3.000.000 đồng, lúc về được giám sát sòng bạc cho 50.000 đồng (năm chục nghìn). Đến ngày 9/10/2001 bị can Khoa đến sòng bạc mang theo 4.000.000 đồng (bốn triệu) để đánh bạc. Khoa đặt mỗi ván từ 100.000 đồng (một trăm nghìn) đến 300.000 đồng (ba trăm nghìn) ăn được 600.000 đồng (sáu trăm nghìn), đang đánh tiếp thì bị bắt quả tang. (BL số 1171, 1172 - V4 - tập 15 và số 27 - V4 - tập 74)
Hành vi đánh bạc của bị can Đỗ Tuấn Khoa đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ: 9.470.000 đồng (chín triệu bốn trăm bảy mươi ngàn), 31 phỉnh màu vàng.
89. Bị can Nguyễn Văn Lý
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm 1968 tại Đồng Nai
- ĐKNKTT: 479/13 Nguyễn Kiệm, phường 9, Phú Nhuận, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Thiên chúa
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Con ông: Nguyễn Văn Thuận
- Con bà: Trần Thị Sứ
- Vợ: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, sinh 1971, thợ may
- Có 2 con
b. Quá trình hoạt động
Năm 1968-1987: Sống cùng gia đình tại Nhơn Trạch, Đồng Nai, đi học hết lớp 9/12. Năm 1988-2001: thợ may, ngụ tại TP HCM.
Tiền án - tiền sự: Không.
- Tạm giam từ ngày 9/10/2001 đến ngày 11/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Trong tháng 9/2001 bị can Nguyễn Văn Lý đến sòng bạc xóc đĩa tại 1102 đường Tự Lập, phường 4, Tân Bình tham gia đánh bạc ăn tiền 6 lần, mỗi ván đặt từ 100.000 đến 500.000 đồng, có lần ăn, lần thua, lần thua nhiều nhất và lần ăn nhiều nhất cũng 2.000.000 đồng. Tổng cộng sáu lần đánh bạc không ăn không thua. Ngày 6/10/2001 Nguyễn Văn Lý đến sòng bạc tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 tham gia đánh bạc thua hơn 1.000.000 đồng. Ngày 9/10/2001 Nguyễn Văn Lý mang theo 2.200 USD và 200.000 đồng đến sòng bạc đánh bạc. Lý đánh ván đầu thua hết 200.000 đồng, đổi 100 USD lấy 1.000.000 đồng và 1 phỉnh màu vàng trị giá 500.000 đồng, đang đặt 1 phỉnh để đánh thì bị Công an bắt quả tang. (BL số 3595, 3596 - V4 - tập 69)
Hành vi đánh bạc của bị can Nguyễn Văn Lý đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ: 2.100 USD, 1.000.000 đồng, 1 phỉnh màu vàng trị giá 500.000 đồng, 1 điện thoại di động hiệu Nokia - 8850.
90. Bị can Nguyễn Duy Dũng (Dũng "Đui")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 27/5/1964 tại Nghệ An
- ĐKNKTT: Khối Tân Phú, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, Nghệ An
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 10/12
- Con ông: Nguyễn Duy Nhuần (67 tuổi)
- Con bà: Trần Thị Tâm (64 tuổi)
- Vợ 1: Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1964 (ly dị năm 1996). Có 1 con sinh năm 1992
- Vợ 2: Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1971. Có 1 con sinh năm 1996
b. Quá trình hoạt động
Năm 1964-1984: ở với cha mẹ và đi học văn hóa tại thành phố Vinh. Năm 1984: đi nghĩa vụ quân sự và đánh chết người bị Tòa án quân sự quân khu 4 xử 4 năm tù giam. Năm 1987-1990: ra tù về địa phương. Năm 1990: bị Công an tỉnh Nghệ An bắt tạm giam 4 tháng về hành vi cưỡng đoạt tài sản. Năm 1997: bị Công an thành phố Vinh bắt về hành vi đánh bạc, TAND thành phố Vinh xử 6 tháng tù giam. Tháng 5/2001: bị Công an quận 1 bắt về hành vi tàng trữ, sử dụng chất ma túy. Tạm giữ 10 ngày được trả tự do. Từ ngày 6/4/2002 đến nay: bị Công an tỉnh An Giang bắt tạm giam về hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy.
c. Hành vi phạm tội
Cuối năm 1999, Nguyễn Duy Dũng, cùng tên Lâm (không rõ địa chỉ cụ thể) đến sòng bạc tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 tham gia đánh bạc khoảng 3 lần. Mỗi ván đặt cược từ 1 đến 5 triệu đồng. Tổng cộng những lần đánh bạc, Dũng bị thua 45 triệu đồng, thua hết tiền Dũng nghỉ đánh bạc. (BL số 1031 - V4 - tập 12 và số 27 - V4 - tập 74)
Hành vi đánh bạc của bị can Nguyễn Duy Dũng đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
91. Bị can Nguyễn Hiếu Minh (Minh "Mít")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 9/2/1962 tại Hà Nội
- ĐKNKTT: 232/21 Võ Thị Sáu, phường 7, quận 3, TP HCM
- Chỗ ở: 128/2 Bàn Cờ, phường 2, quận 3, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Nguyễn Hiếu Trung
- Con bà: Trần Thị Phận
- Vợ: Nguyễn Thị Tuyết Trâm, sinh 1968
- Có 3 con (lớn sinh 1994, nhỏ sinh 1998)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1968-1980: Đi học phổ thông tại Hà Nội. Năm 1981-1987: Đi du học tại Tiệp Khắc. Năm 1988-1994: Buôn bán, ngụ tại 25 Lê Thánh Tôn, quận 1 TP HCM. Năm 1994-3/2001: Buôn bán, ngụ tại 7/13 Nguyễn Thị Diệu phường 6, quận 3. Tháng 4/2001-2002: Buôn bán, ngụ tại 232/21 Võ Thị Sáu, phường 7, quận 3.
c. Hành vi phạm tội
Ngày 9/10/2001 Nguyễn Hiếu Minh đến sòng bạc do Trương Văn Cam tổ chức tại 122 Trần Hưng Đạo B, phường 7, quận 5 tham gia đánh bạc xập xám. Mỗi chến đánh 15 triệu đồng, ăn thua mỗi chi 500.000 đồng. Sòng bạc đang đánh thì Trương Văn Cam nghe tin sòng bạc xóc đĩa của Trương Văn Cam tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 bị bắt nên cho sòng bạc giải tán. Sòng bạc đang đánh thì giải tán nên Trương Văn Cam và những con bạc không biết được những ai thắng thua cụ thể bao nhiêu. Nguyễn Hiếu Minh khai thua bạc là 800.000 đồng là không đúng vì sòng bạc đánh mỗi chến 15 triệu đồng và ăn thua mỗi chi 500.000 đồng. Tiền xâu thu 500.000 đồng mỗi chến. (BL số 3172, 3176, 3177 - V4 - tập 59)
Ngày 30/6/2002, bị Cảnh sát Điều tra - Công an TP HCM bắt về tội tổ chức đánh bạc (cá độ bóng đá) trong vụ án khác.
Hành vi đánh bạc của bị can Nguyễn Hiếu Minh đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
92. Bị can Phạm Văn Phàn
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1961 tại Ninh Bình
- ĐKNKTT: số 2 Long Hưng, phường 7, Tân Bình, TP HCM
- Chỗ ở: MK38 đường BC9, phường 13, Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Thiên Chúa
- Trình độ văn hóa: 10/10
- Con ông: Phạm Văn Hùng (chết)
- Con bà: Phạm Thị Vy
- Vợ: Phạm Thị Hoài Thu, sinh năm 1972
- Có 2 con (lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 1999)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1961-1983: đi học hết lớp 10/10 tại Ninh Bình. Năm 1984-2001: làm nghề xây dựng, ngụ tại Tân Bình TP HCM.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không.
- Tạm giam từ ngày 9/10/2001 đến ngày 11/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Bị can Phạm Văn Phàn khai: Vào lúc 16h ngày 9/10/2001 Phạm Văn Phàn mang theo tiền mặt và 1.700 USD đến sòng bạc số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 để đánh bạc bằng hình thức: xóc đĩa chẵn, lẻ ăn thua bằng tiền. Do bị can mới đến sòng bạc lần đầu nên bị can phải nghiên cứu cách đánh một lúc, chưa kịp đánh thì bị bắt. Quá trình điều tra, qua lời khai các bị can cùng tham gia đánh bạc, có đủ căn cứ kết luận bị can Phạm Văn Phàn đến sòng bạc tham gia đánh bạc ngày đầu tiên và đã tham gia đánh được 2-3 ván mỗi ván đặt cược từ 200.000đ đến 300.000 đồng và bị thua, đang tiếp tục đặt cược đánh tiếp thì bị bắt. Khi bị bắt khai tên Phạm Văn Phú. (BL số 1199, 1200 - V4 - tập 16).
Hành vi đánh bạc của bị can Phạm Văn Phàn đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
Vật chứng thu giữ của bị can gồm: 1.700 USD (một nghìn bảy trăm) đôla Mỹ, 220.000 (hai trăm hai mươi nghìn) đồng tiền Việt Nam.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:34 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 10 đối tượng đánh bạc và nhận hối lộ


Trần Lệ Nguyên (nguyên giám đốc Công ty thực phẩm Kinh Đô) được Năm Cam rủ đến đánh xập xám tại 780 Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, quận 3, TP HCM, và thua khoảng 170.000 USD. Võ Văn Tâm (nguyên đội trưởng Đội chống tệ nạn và xã hội Công an TP HCM) đã nhận lót tay 24 triệu đồng để làm ngơ cho hệ thống sòng bài hoạt động.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
93. Bị can Phạm Văn Đào
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1958 tại Bạc Liêu
- ĐKNKTT: 13/1 Đồng Đen, phường 13, Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Thiên chúa
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Con ông: Phạm Văn Thi
- Con bà: Nguyễn Thị Thành
b. Quá trình hoạt động
Năm 1958-1960: Ở cùng cha mẹ tại Bạc Liêu. Năm 1960-1975: Ở với cha mẹ đi học văn hóa và phụ giúp gia đình tại Tân Bình, TP HCM. Năm 1976-1979: Đi Thanh niên xung phong. 1979-2002: Buôn bán xe gắn máy.
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Tháng 11/1999 tham gia đánh bạc tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, mỗi ván đặt cược từ 200.000 đến 500.000 đồng. Sau 3 ngày đánh bạc thua hết 26 triệu đồng. (1002, 1004 - V4 - tập 11)
Hành vi đánh bạc của bị can Phạm Văn Đào đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
94. Bị can Trần Lệ Nguyên
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1968 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 53 Nguyễn Tiểu La, phường 5, quận 10, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: Đại học
- Con ông: Trần Đình Huy (chết)
- Con bà: Lưu Diệu Trân (chết)
- Vợ: Vương Ngọc Xìm
- Có 2 con: Lớn sinh 1993, nhỏ sinh năm 1996
b. Quá trình hoạt động
Năm 1968-1986: Ở với cha mẹ và đi học văn hóa hết lớp 12 trường Trần Bội Cơ, quận 5. Năm 1986-1989: Nhân viên kỹ thuật Công ty Chế biến thực phẩm quận 3. Năm 1989-1991: Quản đốc phân xưởng chế biến thực phẩm Thắng Lợi. Từ năm 1992 - 2002: Giám đốc Công ty TNHH chế biến thực phẩm Kinh Đô.
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Ngày 2/1/2002, sau khi Trương Văn Cam bị bắt, Trần Lệ Nguyên đến Công an TP HCM tự thú và tố cáo hành vi tổ chức đánh bạc của Trương Văn Cam và đồng bọn.
Tháng 6/2000, được Trương Văn Cam rủ đến 780 Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, quận 3 đánh bạc xập xám. Sau 7 lần tham gia đánh bạc, Trần Lệ Nguyên thua khoảng 170.000 USD. Vì không có tiền trả một lần nên Trương Văn Cam cho Nguyên trả mỗi tháng 10.000 USD. Chiều 9/11/2001, Trương Văn Cam gọi điện cho Nguyên đem theo số tiền còn nợ 10.000 USD (trong số nợ 170.000 USD) đến 122 Trần Hưng Đạo B, phường 7, quận 5 trả cho Trương Văn Cam. Nguyên đem tiền đến 122 Trần Hưng Đạo B, phường 7, quận 5, thấy sòng bạc xập xám của Trương Văn Cam đang hoạt động, Nguyên giao tiền cho Trương Văn Cam và ngồi xem các con bạc đánh bạc một lúc rồi ra về. (BL số 2884, 2885 - V4 - tập 50)
Hành vi đánh bạc của bị can Trần Lệ Nguyên đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
95. Bị can Phạm Công Tuyến (Tuyến Thi, Tuyến "Bàu Cát")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1966 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 9/1 Vinh Sơn Liêm, phường 12, Tân Bình, TP HCM
- Chỗ ở: 123 Trương Định, phường 13, Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Thiên Chúa
- Trình độ văn hóa: 10/12
- Con ông: Phạm Văn Thi, sinh 1934
- Con bà: Nguyễn Thị Thành, sinh 1935
- Vợ: Nguyễn Thị Kim Oanh, sinh 1965
- Có 3 con: Lớn nhất 17 tuổi, nhỏ nhất 2 tuổi
b. Quá trình hoạt động
Năm 1966-1983: Ở với cha mẹ đi học đến hết lớp 10/12. Năm 1983-1986: Đạp xích lô. Năm 1986: Đi Thanh niên xung phong được 6 tháng thì đào ngũ. Năm 1986-1989: Đạp xích lô. Năm 1989-1991: Làm cơ khí ở nhà. Năm 1991-2002: Cò buôn bán xe máy trôi nổi trên thị trường, cho vay lãi nặng.
Tiền án - tiền sự
- Năm 1991: Bị Công an phường 12, Tân Bình bắt về hành vi gây rối trật tự công cộng, phạt hành chính 20.000 đồng.
- Năm 1997: Bị Đội cảnh sát Hình sự Công an Tân Bình bắt về hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng, xử phạt hành chính 50.000 đồng.
- Tháng 6/1999: Đội 2 - Phòng Cảnh sát Hình sự - Công an TP HCM bắt, cảnh cáo về hành vi cho vay lãi nặng.
- Tháng 6/2001: Bị Công an phường 13 Tân Bình bắt về hành vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng, phạt hành chính 100.000 đồng.
Ngày 18/4/2002 Cơ quan An ninh Điều tra - Công an TP HCM bắt tạm giam về hành vi cho vay lãi nặng, bắt giữ người trái pháp luật, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
c. Hành vi phạm tội
Quá trình điều tra bị can Phạm Công Tuyến khai vào tháng 11/1999 Tuyến đến sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 để đòi nợ. Căn cứ vào lời khai của các bị can Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Thị Kim Phượng, Đào Thế Minh và Hoàng Anh Tuấn có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng tháng 11/1999 đến đầu năm 2000, Phạm Công Tuyến được Phạm Văn Đào giới thiệu đến tham gia đánh bạc tại sòng bạc 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Tuyến rủ Hoàng Anh Tuấn (Tuấn Ấp) là đàn em thân cận đi cùng. Khi đến sòng bạc Tuyến đổi tiền mặt ra phỉnh mỗi lần từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng, đặt cược mỗi ván từ 1.000.000 đến 5.000.000 đồng. Tuyến đã đến đánh bạc khoảng từ 4 đến 6 ngày. Tiền thắng thua do đánh bạc do Tuyến không khai nhận nên không xác định được. Riêng Hoàng Anh Tuấn không tham gia đánh bạc, chỉ đứng xem. (BL số 2084, 2087, 2089 - V4 - tập 29)
Phạm Công Tuyến còn có hành vi cho vay lãi nặng, bắt giữ người trái pháp luật và sử dụng trái phép vũ khí quân dụng đã được khởi tố điều tra trong vụ án khác.
Hành vi đánh bạc của bị can Phạm Công Tuyến đã phạm vào điều 248 của BLHS nước CHXHCNVN.
96. Bị can Nguyễn Xuân Liệu
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 11/10/1969 tại Hà Nội
- ĐKNKTT: 228/1E Bến Hàm Tử, phường 5, quận 5, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Nguyễn Văn Đua (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Tuyến.
- Vợ: Nghi Tuyết Hoa, sinh 1971
- Có 2 con: Lớn nhất sinh 1995, nhỏ nhất sinh 1997
b. Quá trình hoạt động
Năm 1969-1975: Ở với cha mẹ đi học phổ thông tại Hà Nội. Năm 1976-1994: Theo cha mẹ vào TP HCM đi học phổ thông đến lớp 12 thì nghỉ học, phụ gia đình buôn bán cá. Năm 1995-2000: Buôn bán quần áo với vợ tại chợ Xóm Củi, phường 12, quận 8.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 1. Ngày 31/12/1987 bị Công an quận 8 bắt về tội cố ý gây thương tích
- Tạm giam: 20/5/2002
c. Hành vi phạm tội
* Hành vi tổ chức đánh bạc
Ngày 7/10/2001 Nguyễn Xuân Liệu được Nguyễn Văn Nhã cho hùn vốn trong sòng bạc xóc đĩa 20 phần là 20.000.000 đồng. Ngày 7 và ngày 8/10/2001 phần hùn làm cái bị lỗ, ngày 9/10/2001 sòng bạc bị bắt nên Liệu chưa được chia tiền lời. (BL số 2915, 2916 - V4 - tập 52)
* Hành vi đưa hối lộ:
- Dựa vào mối quan hệ sẵn có với một số cán bộ công an phường 13 quận 8 và Đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8 khi cha vợ (Tô Văn Tốt) còn sống, Nguyễn Xuân Liệu đã liên hệ và được những người có trách nhiệm trong công tác phòng chống tội phạm tại nơi có sòng bạc đồng ý thỏa thuận bao che cho sòng bạc tài xỉu hoạt động gồm:
Ở đội Cảnh sát Hình sự Công an Quận 8: Lê Minh Hùng - Đội trưởng, Trần Văn Chính - Phó đội trưởng, Vũ Quốc Đạt - Phó đội trưởng, Huỳnh Công Thành - trinh sát địa bàn.
Ở Công an phường 13 quận 8: Đặng Văn Hoản - Phó Công an phường, Huỳnh Văn Long - Phó Công an phường, Nguyễn Bá Thanh - cảnh sát khu vực nơi có sòng bạc tài xỉu hoạt động.
Ngoài những lần Nguyễn Xuân Liệu trực tiếp đưa tiền hối lộ, Nguyễn Xuân Liệu còn sử dụng Lý Minh Tòng và Nguyễn Văn Việt đi đưa hối lộ.
Hàng tuần Cô Đệ giao cho Nguyễn Xuân Liệu 10.000.000 đồng để Liệu sử dụng làm chi phí mua chuộc, tạo quan hệ, hối lộ cho một số cán bộ chiến sĩ công an phường 13 và đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8 để họ bao che cho sòng bạc.
Sau khi được Thọ và Cô Đệ giao tiền hối lộ, Nguyễn Xuân Liệu đã quan hệ móc nối đặt vấn đề, ấn định mức tiền đưa hối lộ cho một số cán bộ chiến sĩ ở Đội Cảnh sát hình sự và Công an phường 13 quận 8 nhờ họ bao che sòng bạc.
Từ tháng 2 đến tháng 9/10/2001, Liệu đưa hối lộ hàng tuần: 31 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ Đội Cảnh sát Hình sự, 27 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ Công an phường 13, quận 8; 2 lần mỗi tuần một lần cho một số cán bộ công an phường 12, quận 8. Liệu nhận tiền của Cô Đệ là 310.000.000 đồng, mang đi hối lộ cho một số công an phường 13 là 42.600.000 đồng, Đội Cảnh sát Hình sự 129.700.000 đồng, công an phường 12 là 3.900.000 đồng.
Ngày 29/9/2001, sòng bạc xóc đĩa chuyển về hoạt động tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Bọn tổ chức sòng bạc đã nhờ Nguyễn Xuân Liệu đưa hối lộ để bao che cho sòng bạc. Cô Đệ đã giao cho Liệu 10.000.000 đồng để Liệu đưa đi hối lộ. Nguyễn Xuân Liệu đã đưa hối lộ cho một số công an phường 13, quận 8 số tiền 1.200.000 đồng, Đội Cảnh sát Hình sự: 1.700.000 đồng, Liệu còn lại: 17.100.000 đồng. (BL: V5 T6: 333B, 333D)
Như vậy vào năm 2001, Cô Đệ đã giao tổng số tiền 320.000.000 đồng cho Nguyễn Xuân Liệu đưa hối lộ để mua chuộc các cán bộ có thẩm quyền nhờ bao che cho 2 sòng bạc (xóc đĩa và tài sửu) hoạt động tại quận 8. Nguyễn Xuân Liệu đã dùng số tiền đó đưa hối lộ cho một số cán bộ chiến sĩ Đội Cảnh sát Hình sự và Công an phường 12, 13 Công an Quận 8 là 179.100.000 đồng, còn lại Liệu chiếm hưởng số tiền 140.900.000 đồng và Liệu còn chiếm hưởng 10.000.000 đồng của sòng bạc cho mẹ vợ. Trong số tiền chiếm hưởng 150.900.000đ, Liệu đã khai đưa tiền tuần cho một số cán bộ chiến sĩ Công an phường 12, 13, Đội Cảnh sát hình sự Công an quận 8 và một số người khác (Lê Văn Tiếu, Mai Út Hoàng, Lê Tấn Đức), số tiền lên tới 54.900.000 đồng và đã chung chi quà biếu, ăn nhậu với số cán bộ trên hết 20.000.000 đồng (BL: V5 T6: 333C) nhưng không chứng minh được.
Ngày 26/01/2002, Nguyễn Xuân Liệu đến Bộ Công an đầu thú, nộp 78.900.000 đồng là số tiền Liệu được hưởng qua việc đưa hối lộ cho sòng bạc xóc đĩa. (BL: V5 T6: 333E).
Hành vi tổ chức đánh bạc, đưa hối lộ của bị can Nguyễn Xuân Liệu đã phạm vào các điều 249, 289 của BLHS nước CHXHCNVN.
97. Bị can Lương Trung
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 10/10/1957 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 78/41 Tân Khai, phường 4, quận 11, TP HCM
- Chỗ ở: 62/2B Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: không biết chữ
- Con ông: Lưu Trạch Huê (chết)
- Con bà: Lương Tiêu 81 tuổi
- Vợ: Mã Thục Phân, 43 tuổi
- Có 2 con (lớn sinh 1984, nhỏ sinh 1988)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1957-1969: Sống với cha mẹ đi học đến hết tiểu học chữ Hoa tại Chợ Lớn. Năm 1970-1984: Học nghề cơ khí và làm công nhân ép nhựa cho tư nhân. Năm 1985-1989: Gia công ép nhựa tại nhà. Năm 1990-2002: Thợ cơ khí sửa chữa máy ép nhựa.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Khoảng tháng 2/2001, Lương Trung đã cho Cô Đệ thuê tầng trệt nhà của Trung tại số 62/2B Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 để tổ chức đánh bạc tài xỉu với giá 150.000 đồng/ngày. Sòng bạc hoạt động từ chiều đến khoảng nửa đêm, có khi tới sáng. Sau mỗi ngày, khi sòng bạc tạm nghỉ thì Cô Đệ trả tiền thuê nhà để tổ chức đánh bạc cho Trung. (BL: V5 T16: 673, 675, 676, 677A - 677B)
Đến ngày 23/8/2001, vì bị quần chúng tố giác, Lương Trung không cho Cô Đệ thuê nhà tổ chức đánh bạc nữa. (BL: V5 T16: 675, 677C)
Như vậy từ tháng 2/2001 đến 23/8/2001, Lương Trung cho Cô Đệ thuê nhà để tổ chức đánh bạc tài xỉu 200 ngày, đã thu tiền cho thuê nhà là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). (BL: V5 T16: 676)
Bị can Lương Trung đã nộp lại 10.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính. (BL: V5 T16: 671)
Hành vi gá bạc của bị can Lương Trung đã phạm vào điều 249 của BLHS nước CHXHCNVN.
98. Bị can Lý Minh Tòng (A Phò)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 14/03/1959 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 169/24 Gia Phú, phường 1, quận 6, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Hoa
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: Không biết chữ
- Con ông: Từ Phước Tinh, sinh 1922
- Con bà: Lý Thục Chơn (chết)
- Vợ: Ngô Thanh, sinh 1963
b. Quá trình hoạt động
Năm 1959-1983: Còn nhỏ sống với cha mẹ tại quận 5. Năm 1983-1988: Làm công nhân ép nhựa tư nhân. Năm 1988-5/2002: Buôn bán tại chợ Hà Tôn Quyền, quận 5.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 20/5/2002
c. Hành vi phạm tội
Thời gian trước tháng 5/2000 khi Tô Văn Tốt còn sống, Lý Minh Tòng (A Phò) thường chở Tô Văn Tốt đi hối lộ cho một số cán bộ công an có trách nhiệm phòng chống tội phạm tại quận 8 để được bao che cho hoạt động tổ chức đánh bạc. Từ cuối năm 1999 đến tháng 5/2000, Lý Minh Tòng đã nhiều lần chở Tô Văn Tốt đến gặp Lê Minh Hùng tại nhà riêng đưa hối lộ (theo mức 500.000 đồng/tuần khi có sòng bạc hoạt động). Có một lần Tô Văn Tốt giao cho Tòng số tiền 500.000 đồng/tuần mang đi trực tiếp đưa hối lộ cho Lê Minh Hùng tại nhà. (BL: V5 T7: 327-328, 351, 353)
Sau khi Tô Văn Tốt chết, Nguyễn Xuân Liệu được Nguyễn Văn Thọ và Cô Đệ giao cho việc đi đưa hối lộ. Liệu là con rể của Tô Văn Tốt biết Lý Minh Tòng đã từng nhiều lần chở Tốt hoặc được Tốt giao trực tiếp đi đưa hối lộ, nên từ tháng 02/2001 đến hết tháng 6/2001, Liệu tiếp tục sử dụng Tòng vào việc mang tiền đi đưa hối lộ cho Lê Minh Hùng 1.000.000 đồng/tuần. Hai lần đầu, Liệu cùng Tòng đến nhà Hùng đưa tiền hối lộ. Sáu tuần kế tiếp, Liệu giao cho Lý Minh Tòng đi đưa hối lộ cho Hùng 1.000.000 đồng/tuần. (BL: V5 T7: 317, 345, 369, 378)
Ngoài ra bị can Nguyễn Xuân Liệu khai từ tháng 2/2001 đến ngày 9/10/2001, hàng tuần Liệu giao cho Lý Minh Tòng 1.500.000 đồng mang đi cho ông Lê Văn Tiếu (nguyên đại Tá, Phó công an quận 8, lúc đó đã nghỉ hưu); ông Mai Út Hoàng (nguyên Bí thư Đảng ủy phường 13, quận 8, lúc đó đã nghỉ hưu); ông Lưu Tấn Đức (Phó bí thư, Chủ tịch UBND phường 13, quận 8) mỗi người 500.000 đồng/tuần. Nhưng bị can Lý Minh Tòng và các ông Tiếu, Hoàng, Đức không nhận sự việc trên. (BL: V5 T1: 728 -730; V5 T6: 315, 316, 333, 333B, 333D)
Như vậy Lý Minh Tòng đưa hối lộ 9 lần số tiền 8.500.000 đồng.
Hành vi đưa hối lộ của bị can Lý Minh Tòng đã phạm vào điều 289 của BLHS nước CHXHCNVN.
99. Bị can Võ Văn Tâm (Tâm "Lừa")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 5/2/1955 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 809/254 Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12 (hệ bổ túc Văn - Sử - Địa)
- Con ông: Nguyễn Thế Còn (Tám Còn)
- Con bà: Lý Thị Mót
- Vợ: Phạm Thị Nhan, sinh 1958
- Có 2 con: Lớn nhất 18 tuổi, nhỏ nhất 5 tuổi
b. Quá trình hoạt động
Năm 1955-1972: Sống với cha mẹ, đi học trường tiểu học, trung học tại quận 6 và quận 7. Năm 1973-1975: Trốn quân dịch, học nghề thợ hàn và lái xe ủi tại kho 360 Bến Vân Đồn, quận 4; làm công tại hồ bơi An Đông quận 5. Năm 1976-2002: Công tác tại Phòng Cảnh sát Hình sự Công an TP HCM; Cấp bậc chức vụ cuối cùng: Đại úy, Đội trưởng Đội chống tệ nạn và xã hội. Năm 1985 bị thương khi đang làm nhiệm vụ, được công nhận thương binh công an hạng 4/4.
c. Hành vi phạm tội
Từ năm 1989, Võ Văn Tâm đã quan hệ quen biết, ăn nhậu với Trương Văn Cam. Đầu năm 2000, sau khi tái lập hoạt động sòng bạc xóc đĩa, Trương Văn Cam đã giao cho Nguyễn Thành Thảo đặt vấn đề đưa hối lộ cho Võ Văn Tâm để Tâm bao che cho sòng bạc. Suốt quá trình các sòng bạc của Trương Văn Cam hoạt động cho đến ngày bị Công an TP HCM bắt vào ngày 9/10/2001, Võ Văn Tâm đã không thực hiện các biện pháp công tác nghiệp vụ để phát hiện, theo dõi, triệt phá hoạt động cờ bạc của Trương Văn Cam và đồng bọn (BL: V5 T9: 420, 446, 448 - 449, 452 - 453, 455, 471A). Trương Văn Cam khai tổng số tiền đưa hối lộ cho Tâm khoảng 24.000.000 đồng, ngoài một số lần Trương Văn Cam trực tiếp đưa, Trương Văn Cam còn thông qua Nguyễn Thành Thảo đưa hối lộ cho Võ Văn Tâm (BL: V5 T9: 442C). Nguyễn Thành Thảo khai đã đưa hối lộ 7 lần tổng số tiền là 18.000.000 đồng nhưng Võ Văn Tâm chỉ thừa nhận có nhận 7 lần số tiền 9.000.000 đồng của Nguyễn Thành Thảo trực tiếp đưa và một lần Trương Văn Cam đưa 1.000.000 đồng. (BL: V5 T9: 324, 369)
Ngày 24/7/2002, bà Phạm Thị Nhan là vợ bị can Võ Văn Tâm đã thay chồng nộp lại cơ quan điều tra 10.000.000 đồng. (BL: V5 T9: 467)
Hành vi nhận hối lộ của bị can Võ Văn Tâm đã phạm vào điều 279 của BLHS nước CHXHCNVN.
100. Bị can Lê Minh Hùng
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1949 tại Tiền Giang
- ĐKNKTT: 479 Bến Bình Đông, KP2, phường 13, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Lê Văn Năm (đã chết)
- Con bà: Đỗ Thị Ngôn (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Vàng
- Có 2 con (lớn sinh 1986, nhỏ sinh 1995)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1949-1963: Còn nhỏ sống với cha mẹ tại Long Định, Châu Thành, Tiền Giang, đi học văn hóa. Năm 1963-1965: Sống cùng người cô ở quận 8, đi học văn hóa. Tháng 9/1965- 1975: Tham gia kháng chiến chống Mỹ thuộc đơn vị An ninh T4. Thương binh 4/4. Năm 1975-2002: Công tác tại Công an Quận 8, cấp bậc cuối cùng trung tá, Đội trưởng đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8.
- Tạm giam: 15/5/2002
c. Hành vi phạm tội
Đầu tháng 2/2001, sau khi được Nguyễn Xuân Liệu đặt vấn đề hối lộ bao che cho sòng bạc tài xỉu ở hẻm 62 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 với mức tiền 1.000.000 đồng/tuần, Lê Minh Hùng đồng ý. (BL: V5 T8: 377)
Từ tháng 2/2001 đến ngày 9/10/2001, Lê Minh Hùng đã nhận tổng cộng 31.000.000 đồng tiền của sòng bạc tài xỉu. Hai tuần đầu, Nguyễn Xuân Liệu cùng đi với Lý Minh Tòng (A Phò) đến nhà Lê Minh Hùng đưa hối lộ (vì Lý Minh Tòng đã từng chở Tô Văn Tốt nhiều lần đưa hối lộ cho Hùng khi Tô Văn Tốt còn sống). Sáu tuần kế tiếp, Liệu giao cho Lý Minh Tòng đi đưa hối lộ cho Hùng. Những tuần kế tiếp Liệu giao cho Nguyễn Văn Việt (xe ôm) chuyển tiền hối lộ cho Hùng. (BL: V5 T1: 62)
Ngày 28/9/2001, khi sòng bạc xóc đĩa chuyển về hoạt động tại nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, Liệu được Nguyễn Văn Thọ và Cô Đệ giao cho việc đưa hối lộ để bao che cho sòng bạc này. Liệu đặt vấn đề về sòng bạc xóc đĩa với Lê Minh Hùng. Hùng đồng ý với Liệu mức tiền hối lộ 2.000.000 đồng/tuần để bao che cho cả 2 sòng bạc tài xỉu và xóc đĩa. (BL: V5 T8: 377)
Như vậy Lê Minh Hùng đã nhận hối lộ của sòng bạc tài xỉu trong 31 tuần là 31.000.000 đồng và nhận hối lộ của sòng bạc xóc đĩa 1 tuần là 1.000.000 đồng, tổng cộng là 32.000.000 đồng. (BL: V5 T8: 383)
Ngoài ra, Lê Minh Hùng còn tự giác, thành khẩn khai nhận đã nhận hối lộ của Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) để bao che cho sòng bạc xóc đĩa tại 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 số tiền 6.000.000 đồng là tiền nhận hối lộ của 12 tuần (500.000 đồng/tuần) trong khoảng thời gian từ tháng 11/1999 đến tháng 5/2000. (BL: V5 T8: 376, 380)
Tổng cộng Lê Minh Hùng đã nhận hối lộ là: 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu đồng). Gia đình của bị can đã nộp lại 38.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính. (BL: V5 T8: 367)
Hành vi nhận hối lộ của bị can Lê Minh Hùng đã phạm vào điều 279 của BLHS nước CHXHCNVN.
101. Bị can Trần Văn Chính
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1963 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 85/147 Bùi Minh Trực, phường 5, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Trần Văn Trung
- Con bà: Lê Thị Kiền
- Vợ: Phan Thị Thu Mai
- Có 2 con (lớn sinh 1988, nhỏ sinh 1996)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1963-1980: Còn nhỏ sống với cha mẹ và đi học văn hóa tại Chợ Lớn. Năm 1981-3/2002: Công tác tại Công an quận 8. Cấp bậc, chức vụ cuối cùng: đại úy, Đội phó đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8. Tháng 3/2002 bị khai trừ Đảng, tước danh hiệu CAND.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 17/5/2002
c. Hành vi phạm tội
Khoảng cuối tháng 1/2001, Nguyễn Xuân Liệu đặt vấn đề với Trần Văn Chính (Đội phó đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8) cho Cô Đệ mở sòng bạc tài xỉu tại hẻm 62 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, hằng tuần sẽ đưa hối lộ 500.000 đồng, Chính đồng ý. Sau đó Chính bàn thêm với Đạt (Đội phó Đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8) và Đạt cũng đồng ý. (BL: V5 T10: 485)
Sòng bạc tài xỉu của Cô Đệ (Tư Râu) hoạt động từ tháng 2/2001 đến ngày 9/10/2001, tổng cộng 31 tuần.
Ngày 28/9/2001, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc chuyển sòng bạc xóc đĩa về hoạt động tại nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Liệu môi giới hối lộ thêm cho Chính 300.000 đồng/tuần để Chính bao che thêm một sòng bạc xóc đĩa nữa. (BL: V5 T10: 486)
Như vậy, Trần Văn Chính đã lợi dụng chức vụ quyền hạn Đội phó đội Cảnh sát Hình sự để nhận hối lộ, bao che cho sòng bạc tài xỉu của Cô Đệ và sòng bạc xóc đĩa của Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc, thông qua Nguyễn Xuân Liệu làm môi giới đưa hối lộ. Trần Văn Chính đã nhận hối lộ tổng cộng 15.800.000 đồng gồm 31 lần mỗi tuần một lần 500.000 đồng và một lần 800.000 đồng vào tuần đầu tháng 10/2001. (BL: V5 T10: 448, 501 - 502, 510)
Trần Văn Chính đã nộp lại đủ 15.800.000 đồng số tiền nhận hối lộ. (BL: V5 T10: 479, 515A)
Hành vi nhận hối lộ của bị can Trần Văn Chính đã phạm vào điều 279 của BLHS nước CHXHCNVN.
102. Bị can Vũ Quốc Đạt
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 31/10/1967 tại Bình Dương
- ĐKNKTT: 235 Chánh Hưng, phường 4, quận 8, TP HCM
- Chỗ ở: 79/51/33 Phú Định, phường 16, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: Đại học
- Con ông: Vũ Văn Tuất (đã chết)
- Con bà: Phan Thị Chừng
- Vợ: Huỳnh Ngọc Hòa, sinh năm 1968
- Có 2 con: Lớn nhất 7 tuổi, nhỏ nhất 1 tuổi.
b. Quá trình hoạt động
Năm 1967-1983: Sống với cha mẹ, đi học Củ Chi, TP HCM. Năm 1986-1988: Học viên trường Trung học Cảnh Sát Nhân Dân II - Thủ Đức. Năm 1988-3/2002: Công tác tại Công an quận 8; Cấp bậc, chức vụ sau cùng: đại úy, Phó đội trưởng Đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8. Tháng 5/2002 bị khai trừ Đảng, tước danh hiệu Công an nhân dân.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 13/7/2002
c. Hành vi phạm tội
Khoảng cuối tháng 1/2001, Nguyễn Xuân Liệu đặt vấn đề với Trần Văn Chính (Đội phó dội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8) cho Cô Đệ mở sòng bạc tài sửu tại hẻm 62 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8, hằng tuần sẽ đưa hối lộ 500.000 đồng, Chính đồng ý. Sau đó Chính bàn thêm với Đạt (Đội phó Đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8) và Đạt cũng đồng ý. (BL: V5 T10: 485)
Sòng bạc tài sửu của Cô Đệ (Tư Râu) hoạt động từ tháng 2/2001 đến ngày 9/10/2001, tổng cộng 31 tuần.
Ngày 28/9/2001, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc chuyển sòng bạc xóc đĩa về hoạt động tại nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Liệu môi giới hối lộ thêm cho Đạt 300.000 đồng/tuần để Đạt bao che thêm một sòng bạc xóc đĩa nữa. (BL: V5 T11: 534A - 534B)
Như vậy, Vũ Quốc Đạt đã lợi dụng chức vụ quyền hạn đội Phó đội Cảnh sát Hình sự để nhận hối lộ, bao che cho sòng bạc tài xỉu của Cô Đệ và sòng bạc xóc đĩa của Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc, thông qua Nguyễn Xuân Liệu làm môi giới đưa hối lộ. Vũ Quốc Đạt đã nhận hối lộ tổng cộng 15.800.000 đồng gồm 31 lần mỗi tuần một lần 500.000 đồng và một lần 800.000 đồng vào tuần đầu tháng 10/2001.
Vũ Quốc Đạt đã nộp lại 2.000.000 đồng số tiền nhận hối lộ. (BL: V5 T11: 534C)
Hành vi nhận hối lộ của bị can Vũ Quốc Đạt đã phạm vào điều 279 của BLHS nước CHXHCNVN.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:35 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết
Trương Hiền Bảo (con trai Năm Cam) mở 2 hàng giải khát tại 196 Trần Bình Trọng, và 11D Thi Sách, TP HCM để làm nơi cá độ bóng đá và đánh bài binh xập xám. Hằng ngày có hơn 100 lượt con bạc tụ tập về đây. Đặng Văn Hoản, nguyên phó Công an phường 13, quận 8 đã 26 lần nhận tiền hối lộ của đàn em Năm Cam, để làm ngơ cho sòng tài xỉu và xóc đĩa hoạt động trên địa bàn.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
103. Bị can Đặng Văn Hoản
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 28/12/1962 tại Nam Định
- ĐKNKTT: 145/1 Cao Xuân Dục, phường 12, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Đặng Văn Cộn
- Con bà: Vũ Thị Thẹo
- Vợ: Trần Thị Mỹ Liêm, sinh năm 1963
- Có 2 con (lớn sinh 1992, nhỏ sinh 1996)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1962-1979: Sống với cha mẹ và đi học tại Xuân Vinh, Xuân Trường, Nam Định. Năm 1979-1981: Công tác tại Công an quận 8. Năm 1981-1983: Học viên trường Trung học Công an. Năm 1983-1993: Công an Phường 13, quận 8. Tháng 12/1993-3/2002: Bị tạm đình chỉ công tác. Tháng 3/2002 bị khai trừ Đảng, tước danh hiệu CAND.
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Khoảng cuối tháng 1/2001, Nguyễn Xuân Liệu đặt vấn đề với Đặng Văn Hoản (Phó Công an phường 13, quận 8) cho Cô Đệ mở sòng bạc tài xỉu tại hẻm 62 Trần Nguyên Hãn, phường 13 quận 8, hàng tuần sẽ đưa hối lộ 500.000 đồng, Hoản đồng ý. (BL: V5 T12: 546)
Sòng bạc tài xỉu của Cô Đệ (Tư Râu) hoạt động từ tháng 2/2001 đến ngày 9/10/2001, tổng cộng 27 tuần (trừ 4 tuần sòng bạc chuyển sang nơi khác). Vào thứ năm hoặc thứ sáu hàng tuần, Liệu đưa hối lộ cho Hoản 500.000 đồng bằng cách nhờ Nguyễn Văn Việt (xe ôm) trực tiếp chuyển cho Hoản tại nhà riêng. (BL: V5 T1: 64 - 65)
Ngày 28/9/2001, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc chuyển sòng bạc xóc đĩa về hoạt động tại nhà Trương Thoại số 74/18 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8. Liệu môi giới hối lộ thêm cho Hoản 1.000.000 đồng/tuần để Hoản bao che cho cả 2 sòng bạc tài xỉu và xóc đĩa. (BL: V5 T1: 65)
Như vậy, Đặng Văn Hoản đã lợi dụng chức vụ quyền hạn phó công an phường, nhận hối lộ để bao che cho sòng bạc tài xỉu của Cô Đệ và sòng bạc xóc đĩa của Trương Văn Cam, Nguyễn Văn Nhã và Nguyễn Khánh Quốc, thông qua Nguyễn Xuân Liệu làm môi giới đưa hối lộ. Đặng Văn Hoản đã nhận hối lộ tổng cộng 14.000.000 đồng gồm 26 lần mỗi tuần một lần 500.000 đồng và một lần 1.000.000 đồng vào tuần đầu tháng 10/2001. (BL: V5 T12: 542 - 545)
Đặng Văn Hoản đã nộp lại 8.000.000 đồng tiền nhận hối lộ. (BL: V5 T12: 540)
Hành vi nhận hối lộ của bị can Đặng Văn Hoản đã phạm vào điều 279 của BLHS nước CHXHCNVN.
104. Bị can Huỳnh Văn Long
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 26/03/1966 tại Vĩnh Long
- ĐKNKTT: 137/50A Âu Dương Lân, phường 2, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Huỳnh Văn Khê, sinh 1928
- Con bà: Lê Thị Nhung (chết)
- Vợ: Võ Thị Yến Linh
- Có 2 con (lớn sinh 1992, nhỏ sinh 1995)
b. Quá trình hoạt động
Năm 1966-1986: Còn nhỏ sống với cha mẹ đi học tại Vĩnh Long. Tháng 10/1986-10/1988: Học trường Trung học Công an. Tháng 11/1988-12/2000: Công tác tại đội Cảnh sát Trật tự, rồi Cảnh sát Điều tra Công an quận 8. Tháng 1/2001-5/2002: Phó Công an phường 13, quận 8. Tháng 5/2002 bị khai trừ Đảng, tước danh hiệu CAND.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Vào tháng 1/2001, Nguyễn Xuân Liệu mua quà tặng Huỳnh Văn Long để tạo mối quan hệ chuẩn bị cho việc đặt vấn đề bao che sòng bạc sau này. Từ tháng 2/2001, Nguyễn Xuân Liệu thông qua Nguyễn Ái Vĩnh chuyển tiền cho Long 300.000 đồng/tuần. Đến tháng 3/2001 Vĩnh mới nói cho Long biết Liệu có mở sòng bạc tài xỉu tại hẻm 62 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8 và cho Long 300.000 đồng/tuần, Long đồng ý. Sau đó hằng tuần Long tiếp tục nhận từ Vĩnh 300.000 đồng tiền của Liệu đưa hối lộ để bao che sòng bạc tài sửu. (BL: V5 T13: 568-569)
Như vậy Huỳnh Văn Long đã lợi dụng chức vụ phó công an phường nhận hối lộ qua môi giới của Nguyễn Xuân Liệu để bao che cho hai sòng bạc tổng số tiền là 8.400.000 đồng gồm 27 lần có 4.200.000 đồng tiền mặt, còn lại dùng đi ăn nhậu với Vĩnh. (BL: V5 T13: 569-570)
Bị can Long đã nộp 4.600.000 đồng tiền nhận hối lộ. (BL: V5 T13: 606-607)
Hành vi nhận hối lộ của bị can Huỳnh Văn Long đã phạm vào điều 279 của BLHS nước CHXHCNVN.
105. Bị can Huỳnh Công Thành
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1968 tại Hà Nội
- ĐKNKTT: 6 Bình Đức, phường 15 quận 8, TP HCM
- Chỗ ở: 25 Kim Biên, phường 13, quận 5, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Huỳnh Văn Khánh
- Con bà: Dương Thị Chúc
- Vợ: Nguyễn Quỳnh Nga
- Có 1 con sinh 1988
b. Quá trình hoạt động
Năm 1968-1975: Ở với cha mẹ, đi học tại Hà Nội. Năm 1975-1985: Theo cha mẹ vào TP HCM, đi học văn hóa đến tốt nghiệp 12/12. Tháng 8/1985-3/2002: Công tác tại đội Tham mưu Tổng hợp, đội Cảnh sát Hình sự Công an quận 8. Cấp bậc cuối cùng: trung úy, trinh sát hình sự. Tháng 5/2002 bị khai trừ Đảng, tước danh hiệu CAND.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 13/7/2002
c. Hành vi phạm tội
Vào đầu tháng 2/2001, Huỳnh Công Thành được Trần Văn Chính (đội phó) giao cho việc đến quán cà phê 85 Trần Nguyên Hãn, phường 13 quận 8 gặp chị Ông Tam Muổi là chủ quán để nhận tiền hối lộ của Nguyễn Xuân Liệu đưa cho đội Cảnh sát Hình sự. Huỳnh Công Thành đến gặp chị Muổi nhận một gói tiền 2.800.000 đồng, Thành lấy ra phần của mình là 300.000 đồng, còn lại đem về đưa lại cho Chính 2.500.000 đồng. Sau đó hàng tuần vào thứ năm hoặc thứ sáu, Thành nhận phần tiền của mình 300.000 đồng, nhận giùm phần của chị Nguyễn Thị Ửng (chị nuôi đội cảnh sát hình sự) 100.000 đồng và 2.500.000 đồng đem về cho Chính hoặc Đạt. (BL: V5 T15: 658 - 659)
Như vậy, từ tháng 2/2001 đến 9/10/2001, Huỳnh Công Thành đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn của mình để nhận hối lộ bao che sòng bạc. Nguyễn Xuân Liệu khai Thành nhận 31 tuần tổng cộng 9.300.000 đồng, Thành chỉ khai đã nhận hối lộ của Nguyễn Xuân Liệu số tiền: 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
Ngoài ra, có lần Thành hỏi mượn Liệu 5.000.000 đồng với lý do “đi nhậu với xếp” nhưng Liệu chỉ cho Thành 2.000.000 đồng. Đối với phần của Nguyễn Thị Ửng, Thành khai đã nhận giùm cho chị Ửng 100.000 đồng/tuần và giao lại đủ, nhưng chị Ửng không thừa nhận. Chị Ửng chỉ khai có mượn của Thành 500.000 đồng, đã trả lại 200.000 đồng, số còn lại Thành cho luôn. (BL: V5 T17: 680-681)
Gia đình bị can Thành đã nộp lại 9.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính của Thành. (BL: V5 T15: 648, 665A)
Hành vi nhận hối lộ của bị can Huỳnh Công Thành đã phạm vào điều 279 của BLHS nước CHXHCNVN.
106. Bị can Nguyễn Bá Thanh
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 15/05/1965 tại Quảng Bình
- ĐKNKTT: 505/7 Bình Đông, phường 13, quận 8, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Con ông: Nguyễn Bá Thi (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Uyến
- Vợ: Nguyễn Thị Nhung
- Có 02 con, lớn sinh 1990, nhỏ sinh 1992
b. Quá trình hoạt động
Năm 1965-1985: Sống với cha mẹ và đi học tại Quảng Phong, Quảng Trạch, Quảng Bình. Năm 1985-2002: cảnh sát bảo vệ; cảnh sát khu vực thuộc Công an TP HCM. Tháng 5/2002 bị khai trừ Đảng, tước danh hiệu CAND.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Vào dịp tết Nguyên đán Tân Tỵ (năm 2001), Nguyễn Xuân Liệu thông qua Nguyễn Ái Vĩnh móc với Nguyễn Bá Thanh (cảnh sát khu vực phụ trách hẻm 62 Trần Nguyên Hãn, phường 13, quận 8) để bao che sòng bạc tài xỉu của Cô Đệ. Nguyễn Bá Thanh đồng ý. (BL: V5 T14: 626; V5 T17: 803)
Bị can Nguyễn Bá Thanh khai nhận: Vào tháng 3/2001, Nguyễn Bá Thanh được Nguyễn Ái Vĩnh làm trung gian nhận chuyển tiền hối lộ do Nguyễn Xuân Liệu làm môi giới hối lộ 4 lần, mỗi tuần một lần số tiền 100.000 đồng. Tháng 4/2001, Thanh không có nhận hối lộ. Từ tháng 5/2001 đến cuối tháng 8/2001 Thanh đã nhận hối lộ trực tiếp từ Nguyễn Xuân Liệu 2.200.000 đồng, một tờ ngân phiếu trị giá 1.000.000 triệu đồng và một điện thoại di động hiệu Nokia bán được 600.000 đồng. Tổng cộng là 4.200.000 đồng. (BL: V5 T14: 628)
- Về số tiền môi giới đưa hối lộ Nguyễn Bá Thanh:
+ Bị can Nguyễn Xuân Liệu khai: Từ tháng 2 và 3/2001, hàng tuần Nguyễn Xuân Liệu đã thông qua Nguyễn Ái Vĩnh chuyển 8 lần số tiền là 1.600.000 đồng mỗi tuần một lần số tiền 200.000 đồng cho Nguyễn Bá Thanh. Từ tháng 4/2001 đến 9/10/2001, Liệu trực tiếp làm môi giới đưa hối lộ cho Thanh 20 lần 6.000.000 đồng mỗi lần một tuần số tiền 300.000 đồng và một tuần đầu tháng 7/2001 một ngân phiếu trị giá 1.000.000 đồng và một điện thoại di động hiệu Nokia trị giá 1.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền Liệu khai đã hối lộ cho Thanh tổng cộng là 8.600.000 đồng và 1 điện thoại di động.
+ Nguyễn Ái Vĩnh khai từ tháng 2/2001, Vĩnh đã chuyển cho Thanh 8 lần mỗi tuần một lần số tiền 200.000 đồng. Lời khai này phù hợp với lời khai của Liệu nhưng không đủ cơ sở kết luận Vĩnh đã giao tiền cho Thanh. (BL: V5 T17: 403)
Như vậy Nguyễn Bá Thanh đã lợi dụng nhiệm vụ quyền hạn cảnh sát khu vực để nhận hối lộ, bao che cho sòng bạc tài xỉu hoạt động. Số tiền Thanh đã nhận hối lộ là 4.200.000 đồng và một điện thoại di động trị giá 1.000.000 đồng.
Bị can đã nộp lại 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền thu lợi bất chính (BL: V5 T14: 614).
Hành vi nhận hối lộ của bị can Nguyễn Bá Thanh đã phạm vào điều 279 của BLHS nước CHXHCNVN.
107. Bị can Đoàn Minh Chánh (Tư Chánh)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1940 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 177/21A Bùi Minh Trực, phường 5, quận 8, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 7/12
- Cha: Đoàn Văn Tám (chết)
- Mẹ: Trà Thị Can
- Vợ: vợ 1 Nguyễn Thị Chiếm, sinh 1945; vợ 2 Nguyễn Thị Lan, sinh 1950
- Con: 9 người con, lớn nhất sinh 1963, nhỏ nhất sinh 1977
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ sống chung với gia đình, năm 7 tuổi đi học tại trường Quy Đức, Bình Chánh. Năm 1959 buôn bán chiếu tại TP HCM. Năm 1960 bị bắt quân dịch đưa đi Quang Trung học 3 tháng, sau đó chuyển qua sư đoàn 7. Năm 1961, đào ngũ, lập gia đình. Năm 1963 xin vào gác cổng ở Gia Định. Năm 1969 đưa đi tác chiến, đảo ngũ. Từ năm 1975-1976 bán vật liệu ở phường 5, quận 8, TP HCM. Tháng 12/1976, Công an quận 1 bắt về tội đánh bài. Năm 1977 tiếp tục đánh bài bị quân quản bắt đưa đi tập trung cải tạo ở Phú Khánh 7 năm. Năm 1984 được tha về, tiếp tục đánh bài bị Công an quận Tân Bình bắt đưa đi cưỡng bức 6 tháng ở Duyên Hải. Năm 1990 tiếp tục đánh bài, Công an phường 7 Tân Bình bắt phạt 6 tháng tù giam tại trại tạm giam quận Tân Bình. Tháng 6-7/1999, Công an phường 4 phường 8 và CA TP HCM mời lên viết kiểm điểm về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Ngày 7/1/2002 bị Công an Tiền Giang bắt tội tổ chức đánh bạc.
- Tiền án: 1
- Tiền sự: 4
- Tạm giam: 7/1/2002
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 3/1999-3/2001, Đoàn Minh Chánh chủ động rủ Nguyễn Anh Minh (Cu "Nhứt") cùng tổ chức trường gà để thu tiền xâu của các con bạc. Chánh trực tiếp hoặc nhờ người thuê đất trống của nhiều người ở các địa điểm khác nhau thuộc phường 4 quận 7; phường 7 quận 8; quận 7; huyện Nhà Bè và huyện Bình Chánh, TP HCM để tổ chức trường đá gà. Cu "Nhứt" là dân đá gà chuyên nghiệp, chịu trách nhiệm lôi kéo các con bạc tham gia. Các con bạc đến tham gia rất đông và đều phải nộp tiền xâu cho Đoàn Minh Chánh, Cu "Nhứt" với mức quy định như sau: Nếu độ 1-2 triệu/trận thì mỗi bên nộp tiền xâu 100.000 đồng; nếu độ 3-5 triệu đồng/trận thì nộp 200.000 đồng; nếu độ 5-7 triệu/trận thì nộp 300.000 đồng; các con bạc đá ngoài (không có gà đá) thì Chánh và Minh thu từ 50.000- 70.000 đồng/trận rồi chia lại cho những người làm biện 50% số tiền trên.
Bằng cách thu tiền xâu nêu trên, vào các ngày tổ chức đá gà, Chánh và Minh thu được ít nhất 2 triệu, nhiều nhất 7 triệu tiền xâu/ngày.
Sau mỗi ngày đá gà, Chánh và Minh kiểm đếm số tiền thu được và chia làm ba phần: Chánh và Minh mỗi người một phần, phần còn lại chi 50% cho việc thuê đất, trả công người giúp việc (trọng tài, bảo vệ, phục vụ trường gà).
Từ tháng 3/1999 đến tháng 3/2001 (thời gian không liên tục), Chánh và Minh thu được 600 triệu tiền xâu, chi trả tiền thuê đất, tiền công cho người giúp việc hết 100 triệu, Chánh chia cho Minh 200 triệu đồng, còn lại 300 triệu Chánh sử dụng cá nhân. Để được chia số tiền 300 triệu đồng (nhiều hơn 100 triệu), Chánh nói với Minh là dùng 100 triệu để thông qua Nguyễn Thành Thảo (Thảo "Ma"), Tô Văn Tốt (Ba Mạnh) đưa tiền cho Võ Văn Tâm, nguyên Đội trưởng Đội chống tệ nạn xã hội Công an TP HCM; Nguyễn Minh Hùng, Đội trưởng Cảnh sát hình sự Công an quận 8 (đã bị bắt giam); Công an phường 4, Công an phường 8, quận 8. Trước Cơ quan Cảnh sát điều tra, Chánh lại khai số tiền 100 triệu Chành dùng để trả nợ và tiêu sài cá nhân mà không đưa cho ai, các đối tượng trên không thừa nhận hành vi nhận tiền của Chánh. Vì vậy chưa có cơ sở kết luận hành vi nhận hối lộ, bao che cho sòng đá gà của Chánh và Minh.
Đoàn Minh Chánh là con bạc chuyên nghiệp đã bị bắt, xử lý nhiều lần về tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc. Khi hết hạn tù không chịu hối cải, làm ăn lương thiện, vẫn tiếp tục mở trường đá gà ăn tiền, mở sòng bài thu tiền xâu, mục đích trục lợi cá nhân với thủ đoạn tinh vi, tính chất đặc biệt nghiêm trọng, lôi kéo rất nhiều con bạc ở các quận đến tham gia gây ra dư luận xấu trong quần chúng, nhiều con bạc thua đã chịu cảnh mất nhà, gia đình tan nát.
Hành vi trên của Đoàn Minh Chánh đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc với vai trò chủ mưu, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS cần được xử lý trước pháp luật.
Tài sản và vật chứng thu giữ
- 1 ĐTDĐ Nokia 8250
- 1 bộ bài 52 lá
108. Bị can Nguyễn Văn Sy (Bảy Sy)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 4/6/1933 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 198/17 Đoàn Văn Bơ, phường 10, quận 4, TP HCM
- Chỗ ở: 148/12/73 Tôn Đản, phường 8, quận 4, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật
- Cha: Nguyễn Văn Hưng (chết)
- Mẹ: Trần Thị Khoa (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Tồn (chết)
- Con: 3 người con, lớn nhất sinh 1969, nhỏ nhất sinh 1973
b. Quá trình hoạt động
Còn nhỏ ở với cha mẹ. Lớn lên là đối tượng cờ bạc chuyên nghiệp đã bị bắt và xử lý nhiều lần. Ngày 20/2/1953 bị bắt về tội trộm cắp tài sản công dân. Ngày 1/2/1956 bị bắt về tội trộm cắp tài sản công dân. Ngày 11/4/1956 bị bắt về tội cố ý gây thương tích. Ngày 11/1/1960 bị bắt về tội cố ý gây thương tích. Ngày 11/1/1975 bị Công an TP HCM bắt về tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc. Ngày 3/2/1985 bị Công an quận 4 bắt về tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc, gá bạc. Ngày 3/4/1990 bị Công an TP HCM bắt về tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc, gá bạc. Ngày 11/11/1993 bị Công an TP HCM bắt về tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc, gá bạc. Ngày 27/12/1998 bị Công an TP HCM bắt về tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc, gá bạc. Ngày 11/7/2000, TAND quận 11 ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Tiền án: 8
- Tiền sự: 1
- Tạm giam: 26/5/2002
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 9/2001, Nguyễn Văn Sy chủ động bàn bạc với Đoàn Minh Chánh mở sòng bài chơi xập xám và xí ngầu ở nhiều địa điểm khác nhau thuộc địa bàn quận 4, quận 8, TP HCM. Các địa điểm này thu hút nhiều con bạc đến chơi, mỗi ngày Sy và Chánh thu 1,5-3 triệu đồng. Sòng bài kéo dài nhiều ngày, Sy và Chánh thu tổng cộng 50 triệu tiền xâu. Trừ các chi phí, Chánh và Sy mỗi người được chia 20 triệu.
Nguyễn Văn Sy là con bạc chuyên nghiệp, từ trước 1975 đến nay đã có nhiều tiền án tiền sự về tội đánh bạc, sau khi mãn hạn tù về không cải tà quy chính mà vẫn tổ chức các hành vi đánh bạc, y đã tìm Đoàn Minh Chánh bàn bạc mở sòng bài tổ chức đánh bạc ăn tiền thu tiền xâu, mục đích trục lợi cá nhân, gây dư luận xấu đến tình hình trật tự ở địa phương.
Hành vi trên của Nguyễn Văn Sy đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS.
109. Bị can Nguyễn Anh Minh (Cu "Nhứt")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 2/5/1966 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 204/45 Đoàn Văn Bơ, phường 14, quận 4, TP HCM
- Chỗ ở: 40A khu phố 3, Tân Quy Đông, quận 7, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hoá: 4/12
- Cha: Nguyễn Văn Kiếm (chết)
- Mẹ: Nguyễn Thị Năm, sinh 1933
- Vợ: Phan Thị Thảo Minh, sinh 1975
b. Quá trình họat động
Từ nhỏ ở với gia đình, học hết lớp 4 nghỉ, ở nhà phụ giúp gia đình buôn bán trái cây, làm nghề bốc xếp. Tháng 7/1988 bị Công an quận 6 bắt về tội trộm cắp tài sản, TAND quận 6 xử 9 tháng tù, được tha về tháng 4/1989. Tháng 9/1989, bị Công an quận 4 bắt về tội cướp tài sản công dân, TAND TP HCM xử 3 năm tù. Ngày 7/12/2001 bị đưa vào cơ sở giáo dục.
- Tiền án: 2
-Tiền sự: 1
c. Hành vi phạm tội
Đầu năm 1999, Nguyễn Anh Minh (Cu "Nhứt") nghe tin Đoàn Minh Chánh mở trường gà ở khu vực hồ bơi Hoà Bình thuộc phường 4 quận 8, Minh đem gà đến đá, được Đoàn Minh Chánh rủ cùng mở trường đá gà thu tiền xâu chia nhau, Minh đồng ý.
Từ tháng 3/1999, Minh và Chánh chính thức hợp tác với nhau, Chánh lo thuê địa điểm, Minh lo mua hoặc thuê gà đá và có trách nhiệm rủ rê, lôi kéo các con bạc (dân đá gà chuyên nghiệp) đến trường gà chơi. Chánh chủ động thuê nhiều địa điểm thuộc phường 4, quận 8 (giáp ranh xã Bình Hưng, Bình Chánh phường 7, quận 8), quận 7, huyện Nhà Bè, huyện Bình Chánh, TP HCM để tổ chức trường đá gà. Từ khi có Minh tham gia, trường gà của Chánh và Minh rất đông khách (khoảng 50 con bạc), tổ chức liên tục các ngày trong tuần.
Minh trực tiếp thu tiền xâu, có lúc Minh nhờ Nam cao, Long (không biết địa chỉ cụ thể thu giúp tiền xâu) Cách thu tiền xâu: Nếu cá độ 1-2 triệu/trận thì mỗi bên nộp tiền xâu 100.000 đồng; nếu cá độ 3-5 triệu/trận thì nộp 200.000 đồng; nếu cá độ 5-7 triệu/trận thì mỗi bên nộp tiền xâu 300.000 đồng; nếu cá độ 7-10 triệu/trận thì nộp 400.000 đồng hoặc 500.000 đồng tiền xâu. Các con bạc đá ngoài (không có gà đá) thì Chánh và Minh thu 50.000-70.000 đồng/trận. Với cách thức thu tiền xâu như trên, mỗi ngày Minh và Chánh thu ít nhất 2 triệu, nhiều nhất 7 triệu tiền xâu.
Sau mỗi ngày đá gà, Chánh và Minh kiểm tiền thu được và chia làm ba phần: Chánh và Minh mỗi người một phần, phần còn lại chi 50% cho việc thuê đất, trả công người giúp việc (trọng tài, bảo vệ, phục vụ trường gà).
Trong suốt quá trình từ tháng 3/1999 đến tháng 3/2001 (thời gian không liên tục), Chánh và Minh thu được 600 triệu tiền xâu. Trả tiền thuê đất, tiền công người giúp việc hết 100 triệu đồng và Chánh chia cho Minh 200 triệu đồng (Minh đã đánh bạc và tiêu xài hết). Còn 300 triệu, Chánh giữ và sử dụng cá nhân, Chánh nói với Minh là dùng 100 triệu để lo đối ngoại nhưng Chánh đưa cho ai, Minh không biết. Nguyễn Anh Minh là đối tượng hình sự nguy hiểm, cờ bạc chuyên nghiệp, có nhiều tiền án tiền sự. Khi biết mình phạm tội đã bỏ trốn. (Trong lúc bỏ trốn vẫn tiếp tục chơi bạc, đá gà). Việc Nguyễn Anh Minh cùng với Đoàn Minh Chánh tổ chức trường gà ăn tiền, thu tiền xâu với thủ đoạn tinh vi, lôi kéo nhiều con bạc ở nhiều quận đến tham gia đã gây dư luận xấu trong nhân dân.
Hành vi trên của Nguyễn Anh Minh đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS, cần xử lý nghiêm minh.
Ngoài hành vi nêu trên, ngày 19/2/2001, Nguyễn Anh Minh đã đến vũ trường Viễn Đông trên đường Phạm Ngũ Lão, quận 1, TP HCM chém Nguyễn Văn Dũng (Dũng Quốc Thanh), là nhân viên bảo vệ của vũ trường gây thương tích. Vụ việc này đã được Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP HCM thu thập tài liệu cùng với vụ gây rối trật tự ở vũ trường Tân Hải Hà trên đường Nguyễn Tất Thành, quận 4, TP HCM vào năm 2000, lập hồ sơ đưa Nguyễn Anh Minh đi tập trung cải tạo tại trường giáo dục thời hạn 24 tháng, quyết định được ký vào tháng 11/2001 thì Minh bỏ trốn. Tuy vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an đang tiếp tục điều tra vụ chém anh Nguyễn Văn Dũng, có kết luận đề nghị xử lý sau.
Nguyễn Anh Minh mua khẩu súng ngắn có 6 viên đạn của tên Bòn (không rõ địa chỉ) chạy xe ôm ở khu vực núi Sam, Tịnh Biên, An Giang nhằm đối phó với băng nhóm của Bình kiểm. Qua giám định, xác định là khẩu súng quân dụng, còn sử dụng được. Hành vi mua, tàng trữ khẩu súng quân dụng nêu trên của Nguyễn Anh Minh đã phạm vào tội tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng, tội danh được quy định tại điều 230 BLHS cần được truy tố trước pháp luật.
Qua đấu tranh khai thác, Nguyễn Anh Minh còn khai nhận có biết và liên quan đến việc mua bán, tàng trữ vũ khí quân dụng của một số đối tượng ở một số địa phương khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục khai thác, củng có tài liệu kết luận và xử lý sau.
110. Bị can Trương Hiền Bảo
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 14/10/1974 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 107/38 Trương Định, phường 6, quận 3, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Cha: Trương Văn Cam
- Mẹ: Phan Thị Trúc
- Vợ: Trần Thị Hương Chi
- Con: 1 người con, sinh 2000
b. Quá trình hoạt động
Từ 1974-1989, còn nhỏ ở với gia đình, đi học văn hóa đến hết lớp 6 nghỉ. Từ 1989-1993 học thợ bạc. Từ 1993 đến nay mua bán xe gắn máy tại khu vực Gia Long, quận 1. Ngày 12/12/2001, bị cơ quan điều tra bắt về tội tổ chức đánh bạc.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 12/12/2001
c. Hành vi phạm tội
Tháng 12/2000, thấy có nhiều con bạc tụ tập tại các quán cà phê để chơi cá độ bóng đá, Trương Hiền Bảo nghĩ cách tìm thuê địa điểm để tổ chức cá độ bóng đá nhằm bán hàng (cơm, nước giải khát) giá cao cho các con bạc để thu lợi nhuận bất chính và tổ chức đánh bài ăn tiền để thu tiền xâu. Để dễ di chuyển thay đổi địa điểm, tránh sự phát hiện của cơ quan pháp luật, Bảo tính dựa vào các quán cà phê đang hoạt động để thuê lại một phần thời gian từ 10 giờ đến 17 giờ hàng ngày, như vậy Bảo không phải đứng tên đăng ký kinh doanh, không phải đầu tư tài sản, đồng thời Bảo cho chế biến đồ ăn từ nhà hàng Ra Khơi (nhà hàng của gia đình Bảo) rồi cử nhân viên mang đến quán bán. Bảo dùng thủ đoạn không nói rõ mục đích thuê quán để tổ chức cá độ bóng đá để các chủ quán yên tâm đồng ý cho Bảo thuê quán. Để chiêu mộ được nhiều con bạc, Bảo dùng cách chỉ tổ chức các con bạc chơi vào 10-17h hàng ngày. Trong thời gian này không có truyền hình bóng đá nhưng các con bạc đến đây để thanh toán tiền cá độ của hôm trước, trao đổi, bình luận, nắm bắt thông tin về bóng đá… và bắt độ với nhau các trận tiếp theo. Sau khi bắt độ với nhau, buổi tối chúng đến các quán cà phê có truyền hình trực tiếp bóng đá khác để theo dõi kết quả. Từ đó chúng tuyên truyền, thông tin cho nhau biết điểm tổ chức cá độ bóng đá của Bảo và ngày càng nhiều con bạc đến cá độ tại các địa điểm này.
Kết quả Trương Hiền Bảo đã tổ chức các điểm cá độ bóng đá tại các quán cà phê ở số nhà 11D Thi Sách, Q1 và 196 Trần Bình Trọng, quận 5, như sau:
*Điểm tổ chức cá độ bóng đá tại 11D Thi Sách, quận 1
Tháng 11/2000, Trần Anh Tuấn, sinh năm 1967, ngụ tại 1166 đường 3/2, phường 12, quận 11, TP HCM thuê mặt bằng tại 11D Thi Sách, quận 1, TP HCM để làm quán cà phê. Tháng 12/2000, Trương Hiền Bảo đã chủ động đến gặp Tuấn và thuê lại một phần quán từ 11h đến 16h hàng ngày, để làm điểm tổ chức cá độ bóng đá. Được Tuấn đồng ý, Bảo nói với Trương Thị Lan (chị ruột của Bảo) - làm quản lý ở nhà hàng Ra Khơi giúp Bảo cử các tên Thạo, Tâm, Thủy, Chi - nhân viên nhà hàng Ra Khơi trực tiếp chở đồ ăn đã chế biến sẵn ở nhà hàng Ra Khơi đến quán 11D Thi Sách, quận 1 để bán giá cao cho các con bạc (từ 20 đến 30 nghìn đồng/suất).
Trung bình mỗi ngày có từ 30-60 con bạc đến đây chơi cá độ bóng đá và Bảo bán hàng thu được trên dưới 2 triệu đồng, sau khi trừ đi các chi phí, Bảo còn thu được 1.000.000 đồng tiền lời mỗi ngày. Bảo tổ chức tại đây từ tháng 12/2000 đến ngày 12/3/2001 là 3 tháng và đã thu được 90.000.000 đồng tiền lời. (BL: V6 T8: 870, 878)
Đến ngày 12/3/2001, thấy điểm cá độ bóng đá này đã bị lộ (bị công an phường Bến Nghé kiểm tra), Bảo cho quán tạm ngừng hoạt động để tìm thuê địa điểm khác.
* Điểm tổ chức cá độ bóng đá tại 196 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5, TP HCM
Tháng 8/1997, Lưu Hồng Lâm thuê mặt bằng của anh Trần Anh Dũng tại 196 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5, TP HCM để làm quán cà phê - bida. Sau khi tạm ngừng hoạt động tại 11D Thi Sách vài ngày, Bảo đã gặp Lâm và hỏi thuê lại toàn bộ quán từ 10h đến 17h hàng ngày để tiếp tục làm điểm tổ chức cá độ bóng đá. Được Lâm đồng ý, ngày 15/3/2001 Bảo tiếp tục thuê các nhân viên nhà hàng Ra Khơi nói trên mang đồ ăn đến quán 196 Trần Bình Trọng để bán cho các con bạc với cách thức tổ chức như ở quán 11D Thi Sách, quận 1.
Ngoài việc tổ chức cá độ bóng đá, từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2001, vào các ngày thứ bảy, chủ nhật, Bảo còn tổ chức cho các con bạc đến đây chơi đánh bài binh sập xám ăn tiền để thu tiền xâu. (Bút lục số: V6, T7-619)
Hàng ngày có từ 60 đến 100 lượt người tụ tập đến đây để uống cà phê, chơi bida, trong đó có nhiều người cá độ bóng đá và chơi đánh bài binh xập xám ăn tiền. Mỗi ngày Bảo bán hàng thu được 2-5 triệu đồng, sau khi trừ đi mọi chi phí, mỗi tháng Bảo còn thu được 60 triệu đồng tiền lời (Bút lục số: V6, T8-871). Bảo đã tổ chức tại đây 9 tháng và đã thu được 540 triệu đồng. Bảo đã trả cho Lâm 135 triệu đồng, chia cho Trương Thị Lan 135 triệu, chia cho Lê Thị Điệu 135 triệu. Còn lại 135 triệu đồng Bảo sử dụng cá nhân (Bút lục số: V6, T7-699). Riêng tiền xâu thu được từ việc tổ chức đánh bài, trung bình mỗi ngày thu được 10 triệu đồng. Từ tháng 6 đến tháng 10 là 32 ngày (thứ bảy và chủ nhật), tổng cộng thu được 320 triệu đồng, Bảo chia cho Lâm 160 triệu, Đại 22.400.000 đồng (mỗi ngày chia cho Đại 700.000 đồng) chia cho Lưu Hồng lâm 160 triệu, còn lại 137.600.000 đồng, Bảo sử dụng cá nhân.
Các con bạc thường xuyên đến các điểm trên để chơi cá độ bóng đá gồm: Lê Văn Đại; Huỳnh Chí Đức (Bánh Ú); Nguyễn Văn Thành (Mười "Lù"); Hứa Tấn Bửu (Bò Nghé); Tiêu Quân (Hải, Ba "Càng"); Nguyễn Chí Dũng (Dũng "Nội"); Ngô Quang Vinh (Man); và Lương Cẩm Huy (Huy "Râu). Cơ quan điều tra đã xác minh và những tên này khai nhận có đến quán 196 Trần Bình Trọng để cá độ bóng đá. Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can về tội đánh bạc đối với các đối tượng trên. Ngoài ra còn một số tên khác không biết địa chỉ nên Cơ quan điều tra không tiến hành xác minh được.
Từ việc tổ chức đánh bạc nói trên, Bảo đã thu lời bất chính từ bán cơm, nước giá cao cho các con bạc được 630 triệu đồng và thu tiền xâu từ tổ chức đánh bài ăn tiền được 320 triệu đồng. Tổng cộng là 950 triệu đồng.
Bảo vừa là kẻ chủ mưu khởi xướng, tính toán cách thức tổ chức đánh bạc, phân công nhiệm vụ cho từng người, vừa là kẻ trực tiếp, tích cực thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp đi hỏi thuê quán, trực tiếp có mặt hàng ngày tại quán để quản lý, điều hành hoạt động phạm tội. Ngoài hành vi tổ chức đánh bạc nói trên, Bảo còn trực tiếp tham gia chơi cá độ bóng đá ăn tiền như sau:
- Từ tháng 6-7/2000, Bảo thường đến quán cà phê ở đường Trương Định, quận 1 để chơi cá độ bóng đá trong giải EURO-2000 với tên Minh (Bảo khai không biết địa chỉ) 20 trận, mỗi trận 1-2 triệu đồng, do lâu Bảo không nhớ cụ thể từng trận nhưng tổng cộng sau 20 lần chơi, Bảo thắng Minh 6 triệu đồng. (BL: V6 T7: 693)
- Từ tháng 6-12/2001, Bảo chỉ đạo các tên đàn em là Lê Văn Đại đến quán cà phê tại 38 Lý Tự Trọng, quận 1, Huỳnh Chí Đức đến quán cà phê tại 101/41A Phạm Đình Hổ để bắt độ bóng đá cho Bảo. Kết quả Bảo đã chỉ đạo Đại và Đức bắt độ cho Bảo 50 trận, mỗi trận 5-30 triệu đồng, do lâu ngày Bảo không nhớ từng trận bắt đội nào, với ai và kết quả thắng thua thế nào nhưng Bảo nhớ chơi với Đại thắng 140 triệu đồng, chơi với Đức thua 120 triệu đồng, Bảo thường chơi ở các giải ngoại hạng Anh, giải vô địch quốc gia Ý và thường bắt các đội mạnh như đội Manchester United của Anh và Juventus của Italy. (BL: V6 T7: 704-706)
Hành vi của Trương Hiền Bảo đã phạm vào 2 tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc, tội danh quy định tại điều 249, 248 BLHS. Trương Hiền Bảo là tên tội phạm hết sức nguy hiểm cho xã hội, y đã dùng thủ đoạn tinh vi xảo quyệt để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải có hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với Trương Hiền Bảo để làm gương cho kẻ khác.
Tài sản và vật chứng thu giữ:
- 71 lượng vàng (Phúc nộp)
- 609.920.000 đồng (Nam nộp)
- 70.000.000 đồng (Phong nộp)
- 01 ô tô Land Cruiser
- 01 ĐTDĐ Nokia 8890
111. Bị can Lê Văn Đại
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 5.1.1975 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 122/13/4 Tôn Đản, phường 10, quận 4, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 10/12
- Cha: Lê Văn Tám (chết)
- Mẹ: Trần Thị Lặc
- Vợ: Nguyễn Thị Dung
- Con: 1 người con, 15 tháng tuổi.
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ ở với cha mẹ và đi học. Năm 1992 học hết lớp 10 ở nhà, phụ giúp gia đình. Đến năm 1998 làm nghề buôn bán xe cho tới nay. Năm 2000 lấy vợ, ngụ tại 220/9Y/111 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, Bình Thạnh, TP HCM.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Tháng 6-10/2001, Trương Hiền Bảo tổ chức đánh bài ăn tiền thu tiền xâu tại quán cà phê 196 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5 vào các ngày thứ bảy, chủ nhật, Bảo đã phân công cho Lê Văn Đại mỗi ngày đi mua 4 bộ bài tú lơ khơ về cho các con bạc đánh bài. Trong thời gian các con bạc đánh bài, Đại luôn có mặt để theo dõi, quản lý việc nộp tiền xâu của các con bạc. Hết ngày, Đại lấy hộp đựng tiền xâu giao cho Bảo. Sau khi kiểm đếm tiền xâu, có 3 lần Bảo giao cho Đại cầm tiền xâu (Phần chia cho Lâm) trực tiếp đưa cho Lâm. Mỗi lần như vậy, Bảo chia cho Đại 700.000 đồng, tổng cộng Bảo tổ chức đánh bài thu tiền xâu 32 ngày, thu được 320 triệu tiền xâu. Bảo đã chia cho Đại 22,4 triệu. (Bút lục số: V6, T9-1841)
Ngoài ra Lê Văn Đại còn có hành vi đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá như sau:
- Trong thời gian Lê Văn Đại đến quán 196 Trần Bình Trọng để theo dõi thu tiền xâu cho Bảo, Đại còn trực tiếp tham gia cá độ bóng đá với hình thức góp tiền với tên Sáu già (không biết địa chỉ) để cá độ bóng đá (chơi ké) 04 lần, mỗi lần Đại góp 0,5-1 triệu đồng và đều bị thua. Còn tên Sáu cá độ với ai, bắt đội nào thuộc giải nào thì Đại không biết. (Bút lục số: V6, T9-1828)
- Từ tháng 6-12/2001, Bảo giao cho Đại hàng ngày (buổi tối thứ bảy và chủ nhật) đến quán cà phê 38 Lý Tự Trọng, quận 1 để xem có ai chơi cá độ bóng đá thì điện thoại cho Bảo, Bảo sẽ quyết định bắt đội nào, bao nhiêu tiền. Hôm sau nếu thua thì Bảo trả tiền cho con bạc chơi với mình thông qua Đại và nếu thắng thì ngược lại. Đại đã bắt độ bóng đá giúp Bảo 25 trận với các tên Hoàng; Hải; Thành (ở Gò Vấp); Hùng (Đại khai không biết địa chỉ các tên này), mỗi trận từ 5-30 triệu, do lâu ngày Đại không nhớ cụ thể đã bắt độ trận nào, thuộc giải nào và kết quả thắng thua Đại không nhớ. (Bút lục số: V6, T9-1830; 1841)
Hành vi trên của Lê Văn Đại đã phạm vào hai tội: Tội tổ chức đánh bạc và tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249, 248 BLHS cần phải truy tố trước pháp luật.
112. Bị can Lưu Hồng Lâm
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1971 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 8/12A Bùi Văn Ba, khu phố 2, Tân Thuận Đông, quận 7, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: không
- Trình độ văn hóa: 10/12
- Cha: Lưu Văn Hùng (chết)
- Mẹ: Thái Hồng Phúc
b. Quá trình hoạt động
Năm 1971-1977 còn nhỏ ở với cha mẹ. Năm 1977-1987 học phổ thông. Năm 1987-2001 nghỉ học ở nhà buôn bán.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 7/5/2002
c. Hành vi phạm tội
Tháng 8/1997, Lưu Hồng Lâm thuê mặt bằng của anh Trần Anh Dũng tại 196 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5, TP HCM để làm quán cà phê - bida có giấy phép kinh doanh số M.086 do UBND quận 5 cấp ngày 28/8/1997 do Trần Anh Dũng đứng tên. Ngày 9/1/2001 Lâm nhờ anh Dũng đứng tên ký hợp đồng lắp đặt hệ thống truyền hình cáp MMDS theo giấy phép số 530 do Trung tâm quản lý khoa học truyền hình- Đài truyền hình Việt Nam cấp ngày 25/1/2001, để xem các chương trình truyền hình trực tiếp bóng đá thế giới. Hàng ngày Lâm giao cho Phạm Minh Tâm (Tâm "Quầy") - sinh năm 1966, ĐKNKTT tại xã Hòa Hưng, Châu Thành, Đồng Tháp là người làm thuê cho gia đình Lâm từ nhiều năm nay làm quản lý bán hàng.
Sau khi tạm ngừng hoạt động tại 11D Thi Sách vài ngày, Bảo đã gặp Lâm và hỏi thuê lại toàn bộ quán từ 10h đến 17h hàng ngày để bán cơm, nước, nhưng mục đích là để tiếp tục làm điểm tổ chức cá độ đá bóng. Lâm đã đồng ý, hai bên thỏa thuận số tiền lời thu được từ bán cơm, nước của Bảo sẽ chia cho Lâm một nửa để trả tiền thuê quán. Sau khi đã thỏa thuận với Lâm, ngày 15/3/2001 Bảo tiếp tục thuê các nhân viên nhà hàng Ra Khơi, mang đồ ăn đến quán 196 Trần Bình Trọng để bán cho các con bạc với cách thức tổ chức như ở quán 11D Thi Sách, quận 1. Mỗi tháng Bảo chia cho Lâm 15 triệu đồng. Cách thức giao tiền: Hàng tháng Trương Thị Lan đưa tiền (15 triệu đồng) và một tờ giấy quyết toán bán hàng trong tháng, (tất cả được gói trong một tờ giấy) cho Lê công Thạo, Thạo đưa cho Phạm Minh Tâm (Tâm Quầy) để Tâm đưa cho Lưu Hồng Lâm. (Bút lục số: V6, T8-878)
Ngoài ra Trương Hiền Bảo còn có hành vi tổ chức đánh bài và thu tiền xâu tại quán 196 Trần Bình Trọng từ tháng 6 đến tháng 10/2001 là 32 ngày, trung bình mỗi ngày thu 10 triệu tiền xâu. Tổng cộng Bảo thu 320 triệu đồng. Bảo đã chia cho Lâm 160 triệu, chia cho Đại 22, 4 triệu, còn lại 137,6 triệu, Bảo sử dụng cá nhân.
Đến tháng 5/2001, Phạm Minh Tâm (Tâm "Quầy") - nhân viên quản lý quán 196 Trần Bình Trọng của Lưu Hồng Lâm nói với Lâm là tên Bảo có tổ chức cá độ bóng đá và đánh bài tại quán gây ồn ào mất trật tự (Bút lục số: V6, T8-880). Ngay sau đó Lâm đến quán và trực tiếp biết Bảo tổ chức cá độ bóng đá tại đây nhưng Lâm vẫn cho Bảo thuê quán tiếp đến ngày Bảo bị bắt (12/12/2001) (Bút lục số: V6, T8-835). Như vậy rõ ràng là Lâm đã biết việc Bảo thuê quán 196 Trần Bình Trọng của Lâm để tổ chức cá độ bóng đá và đánh bài thu tiền xâu được Bảo chia cho 50% lợi nhuận.
Xét thấy: Lưu Hồng Lâm là chủ quán, là người quyết định mọi hình thức hoạt động kinh doanh của quán cà phê 196 Trần Bình Trọng. Mặc dù Lâm đã biết mục đích Bảo thuê quán để tổ chức cá độ bóng đá nhằm bán hàng giá cao cho các con bạc để thu lời bất chính thay cho việc bán vé vào cửa hoặc thu tiền xâu và tổ chức đánh bài thu tiền xâu, trong đó có chia cho Lâm 50%. Lâm biết số tiền hàng tháng Bảo chia cho Lâm là 50% số tiền thu lời bất chính từ việc đánh bạc mà có nhưng Lâm vẫn cho Bảo thuê quán cho đến khi Bảo bị bắt (12/12/2001) để được chia 50% số tiền thu lời bất chính nói trên. Tổng cộng Lâm đã được chia 295 triệu đồng.
Hành vi trên đây của Lưu Hồng Lâm đã tích cực giúp sức, tạo điều kiện quyết định cho Trương Hiền Bảo thực hiện tội phạm và được chia 50% số tiền từ phạm tội mà có
Hành vi trên của Lưu Hồng Lâm đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS. Cần phải truy tố trước pháp luật.
Tài sản và tang vật thu giữ
- 1 ti vi Samsung 25 inchs
- 1 ti vi JVC
- 1 đầu tivi cap


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:35 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch Hồ Việt Sử cùng 9 đối tượng khác


Hồ Việt Sử thường đến quán cà phê số 200 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5, TP HCM để cá độ bóng đá. Tổng cộng Sử đã cá cược 50 trận bóng đá quốc tế, 1-10 triệu đồng/trận. Châu Phát Lai Anh đã tổ chức các điểm đá gà ăn tiền ở quận 2, quận 9, Thủ Đức, thu 250 triệu đồng. Ngoài ra, Lai Anh còn cho vay với lãi suất gấp 20-30 lần ngân hàng.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
113. Bị can Huỳnh Chí Đức (Bánh Ú)
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1972 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 292 Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Cha: Huỳnh Văn Hữu
- Mẹ: Lý Muối
- Vợ: Lê Thị Ngọc Chi, sinh 1974
- Con: 1 người con trai, sinh 1997
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ ở với gia đình, đi học đến lớp 9 thì nghỉ học phụ giúp gia đình. Năm 1997 nghiện xì ke. Năm 1999 cai nghiện, đi phụ buôn xe gắn máy và làm nhân viên Công ty TNHH vận tải Sông Việt.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 7/5/2002
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 4-12/2001, Đức thường đi cùng Trương Hiền Bảo đến quán cà phê 196 Trần Bình Trọng để chơi cá độ bóng đá 6 lần. Mỗi lần 1 triệu đồng, trong đó có hai lần chơi với tên cu Đen, 4 lần chơi với người không biết tên, địa chỉ. Trong 6 lần cá độ bóng đá, Đức thua 1 lần, thắng 5 lần được 5 triệu. Đức thường chơi cá độ ở các trận đấu thuộc các giải ngoại hạng Anh và giải vô địch quốc gia Italy. Do lâu ngày nên Đức không nhớ từng lần chơi bắt đội nào thuộc giải nào. (BL: V6 T11: 1985)
Ngày 20/1/2002 Đức đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an để đầu thú và nộp 5 triệu đồng.
Ngoài hành vi cá độ bóng đá tại 196 Trần Bình Trọng, Đức còn có một số hành vi phạm tội khác, cụ thể:
- Góp tiền với Nguyễn Văn Thành (Mười "Lù") để cùng cá độ bóng đá 4 lần. Mỗi lần 2-4 triệu. Do lâu ngày nên Đức không nhớ được thắng thua bao nhiêu lần và không biết Thành bắt độ đội nào, bắt độ với ai. (BL: V6 T11: 1996)
- Giúp sức cho một số đối tượng chơi cá độ bóng đá như sau: Nguyễn Thành Thảo (Thảo "Ma") và Phạm Văn Lắm góp tiền với Nguyễn Văn Thành (Mười "Lù") để chơi cá độ bóng đá nhiều lần, có nhờ Đức thông báo cho Thảo và Lắm biết Thành chơi trận nào, bao nhiêu tiền và nếu Thành thắng độ thì Đức chuyển tiền từ Thành đến cho Thảo và Lắm, nếu thua thì ngược lại.
- Từ tháng 6 đến 12/2001, Trương Hiền Bảo giao cho Đức hàng ngày (thứ bảy và chủ nhật) đến quán cà phê 101/41A Phạm Đình Hổ, phường 4, quận 6 để xem có ai chơi cá độ bóng đá thì điện thoại cho Bảo, Bảo sẽ quyết định bắt đội nào, bao nhiêu tiền. Hôm sau nếu thua thì Bảo trả tiền cho con bạc chơi với mình thông qua Đức và nếu thắng thì ngược lại, Đức đã bắt độ bóng đá giúp Bảo 25 trận, mỗi trận 5-30 triệu, Do lâu ngày nên Đức không nhớ được đã bắt độ đội nào, bắt độ với ai và kết quả thắng thua Đức không nhớ. (BL: V6 T11: 2002)
Hành vi trên của Huỳnh Chí Đức đã phạm vào tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS.
Tài sản thu giữ
5 triệu đồng (Đức nộp)
114. Bị can Nguyễn Văn Thành (Mười "Lù")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1958 tại Long An
- ĐKNKTT: 13/16 Lưu Quý Kỳ, phường 10, quận 8, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Cha: Nguyễn Văn Quyền (chết)
- Mẹ: Nguyễn Thị Nhàn
- Vợ: Nguyễn Thị Bạch Tuyết
- Con: 3 người con, lớn nhất sinh 1986, nhỏ nhất sinh 1990
b. Quá trình hoạt động
Từ 1968 đến 1975 còn nhỏ, đi học và ở với gia đình tại 703/5A Nguyễn Duy, phường 9, quận 8, TP HCM. Từ giữa 1975 đến 1981 làm ruộng tại Cần Giuộc, Long An. Từ giữa 1981 đến nay buôn bán phụ tùng xe, cho thuê xe Honda tại quận 5 TP HCM.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 12/12/2001
c. Hành vi phạm tội
Trong thời gian từ tháng 6 đến 12/2001, Thành đã nhiều lần đến điểm cá độ bóng đá do Trương Hiền Bảo tổ chức để chơi cá độ bóng đá. Mỗi lần Thành chơi từ 50 đến 100 triệu đồng VN. Trong số tiền Thành chơi cá độ nói trên, có một số tên đã góp tiền với Thành để cùng chơi cá độ. Cụ thể:
- Trương Văn Cam (Năm Cam) góp 10%
- Nguyễn Thành Thảo (Thảo "Ma") góp 10%
- Nguyễn Văn Thọ (Thọ "Đại Úy") góp 5%
- Phạm Văn Lắm (Lắm "Đen") góp 5%
- Huỳnh Chí Đức (Bánh Ú) góp 2- 4 triệu đồng/trận tương đương 4%
Tổng cộng 5 tên góp 34% số tiền chơi mỗi trận, còn lại 66% là của Thành. (BL: V6 T10: 1902)
Ngoài ra, từ tháng 6/1998 đến tháng 12/2001, Thành còn chơi cá độ bóng đá ở các quán cà phê tại:
- Nhà số 84C Cống Quỳnh, Phạm Ngũ Lão, quận 1, do tên Mai Thành Đức, sinh năm 1974 và tên Trí làm chủ quán.
- Nhà số 101/41A Phạm Đình Hổ, phường 6, quận 6, do bà Huỳnh Thị Lai (Tư Trầu), sinh năm 1946 làm chủ quán.
- Nhà số 177 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3, do tên Sơn làm chủ quán.
- Nhà số 38 Lý Tự Trọng, Bến Nghé, quận 1, do tên Lưu Bạch Đằng (Đằng Tây) làm chủ quán.
- Khách sạn Khải Hoàn Đường 3/2, quận 10.
- Khách sạn Mặt Trời đường Nguyễn Hữu Cầu, quận 1
Mỗi lần chơi từ 1 đến 2 triệu đồng. Thành thường chơi cá độ với các tên: Tuấn (Tuấn Mập) ở đường Lạc Long Quân, quận 11; Ngô Quang Vinh (Man) ở đường Bùi Viện, quận 1; Phạm Minh Tâm (Tâm "Lùn") ở 57 An Dương Vương, phường 8, quận 5; và một số tên khác Thành không biết địa chỉ như các tên Quang, Thủy, Đông, Chỉ… (BL: V6 T10: 1984-1985)
Thành thường chơi cá độ bóng đá các trận thuộc các giải vô thế giới năm 1998 tại Pháp, giải ngoại hạng Anh và giải vô địch quốc gia Italy. Các lần chơi cá độ bóng đá ăn tiền nói trên đều có thắng, có thua. Do lâu ngày nên Thành không nhớ số trận đã chơi, cụ thể từng trận đã chơi, số trận thắng, số trận thua, số tiền thắng độ, số tiền thua độ.
Ngoài hành vi chơi cá độ bóng đá ăn tiền nêu trên, Thành còn có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên, chơi cá ngựa ăn tiền, tại phòng 402 khách sạn Rits tại 333 Trần Hưng Đạo, quận 1, TP HCM với các tên Tâm "Lùn" (chủ nhà), Ngô Quang Vinh (Man), Huỳnh Chí Đức (Bánh "Ú"), Sanh, mỗi ván ăn thua từ 50.000 đến 100.000 đồng. (BL: V6 T10: 1985)
Hành vi trên của Nguyễn Văn Thành đã phạm vào tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS.
Căn cứ tài liệu điều tra ban đầu, ngày 18/12/2001, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định khởi tố bị can số 58 đối với Thành về tội tổ chức đánh bạc. Quá trình điều tra xác định Thành phạm tội đánh bạc như đã nêu trên. Ngày 25/5/2002, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can số 9, thay đổi từ tội tổ chức đánh bạc sang tội đánh bạc đối với Nguyễn Văn Thành.
Tài sản và vật chứng thu giữ:
- 1 xe Spacy
- 1 điện thoại di động Nokia 8310
- 1 đồng hồ đeo tay
- 1 ví da
115. Bị can Hứa Tấn Bửu (Bò Nghé)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 17/9/1966 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 81 Calmette, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Hoa
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 2/12
- Cha: Hứa Chấn Phương (chết)
- Mẹ: Lý Mồi (chết)
- Vợ: Huỳnh Thị Thùy Trang, sinh 1969
- Con: 2 người con, lớn nhất sinh 1991, nhỏ nhất sinh 1999
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ sống với cha mẹ tại 258/17/4C Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thái Bình, quận 1, TP HCM. Ngày 9/3/2000 chuyển về 81 Calmett, Nguyễn Thái Bình, quận 1, TP HCM.
- Tiền án: Ngày 2/2/1987 bị Công an quận 1 bắt về tội cùng đồng bọn đâm chết người, bị xử phạt 12 tháng tù giam.
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 1 đến 12/2001, vào các ngày thứ bảy, chủ nhật, Bửu thường đến quán cà phê ở 196 Trần Bình Trọng, Q5; 177 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1 và một số quán cà phê vỉa hè khác để cá độ bóng đá với các tên Hùng, Cường, Man (ốm) (Bửu không biết địa chỉ). Bửu chơi mỗi trận từ 500.000 đến 4 triệu đồng thuộc các giải ngoại hạng Anh, Italy, Bửu thường đến các địa điểm nói trên vào buổi chiều 16-17h để bắt độ với nhau. Đồng thời hẹn nhau địa điểm ngày hôm sau gặp để thanh toán tiền cá độ. Buổi tối, Bửu đến các quán cà phê khác hoặc ở nhà để xem trận đấu, ngày hôm sau gặp lại các con bạc tại một địa điểm do hai bên hẹn trước để thanh toán tiền cá độ. Bửu chơi tất cả các ngày thứ bảy, chủ nhật có truyền hình trực tiếp bóng đá giải ngoại hạng Anh, Italy. Nếu một ngày có truyền hình trực tiếp hai trận thì Bửu chơi cả hai trận. Bửu đã chơi tổng cộng 96 trận, do lâu ngày và chơi quá nhiều lần nên Bửu không nhớ cụ thể từng trận bắt đội nào, chơi với ai và kết quả thắng thua thế nào. (Bút lục số: V6, T15-2199)
Hành vi trên của Hứa Tấn Bửu đã phạm vào tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS.
116. Bị can Tiêu Quân (Hải "Ba Càng")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 10/10/1966 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 166/165 Đoàn Văn Bơ, phường 14, quận 4, TP HCM
- Chỗ ở: 166/188A Đoàn Văn Bơ, phường 14, quận 4, TP HCM
- Dân tộc: Hoa
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 6/12
- Cha: Tiêu Hoa
- Mẹ: Lê Thị Giang
- Vợ: Lê Thị Thanh Hằng, sinh 1968
- Con: 2 người con, lớn nhất sinh 1994, nhỏ nhất sinh 1998
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ đến năm 1978 ở với gia đình, ăn học. Năm 1978-1984 đạp xích lô ở quận 4. Từ giữa 1984-1990 bốc xếp ở kho 145 Nguyễn Tất Thành, quận 4. Từ giữa 1990 đến 1994, cưới vợ, buôn bán ở nhà tại 28/52 Trần Bình Trọng, quận 5, TP HCM. Năm 1994 bị CA TP HCM bắt, giam 4 tháng tại Trại Chí Hòa về tội cướp giật. Sau đó ra trại, về bán hàng tạp hóa. Đến năm 1998 làm thợ điện cho chị ruột tại đường 14, quận 4 cho tới nay.
- Tiền án: 1
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 12/2000 đến 12/2001, vào các ngày thứ bảy, chủ nhật có truyền hình trực tiếp bóng đá thế giới các giải ngoại hạng Anh, Italy. Quân thường đến quán 196 Trần Bình Trọng, quận 5 để chơi cá độ bóng đá với người ngồi bên cạnh (không biết tên và địa chỉ). Quân chơi mỗi trận 1-2 triệu, chơi tất cả các trận trong các ngày thứ bảy, chủ nhật (rất ít hôm nghỉ không chơi). Quân thường bắt các đội As - Roma, Juventus, AC Milan của Italy; các đội Manchester United, Arsenal, Liverpool của Anh. Do lâu ngày và chơi nhiều trận nên Quân không nhớ tổng số các trận đã chơi, cụ thể từng trận bắt đội nào, chơi với ai và thắng thua như thế nào. (Bút lục số: V6, T16-2217)
Hành vi trên của Tiêu Quân đã phạm vào tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS.
117. Bị can Nguyễn Chí Dũng (Dũng "Nội")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 9/9/1963 tại Hà Nội
- ĐKNKTT: 277/3 Trần Hưng Đạo, Cô Giang, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/10
- Cha: Nguyễn Văn Ba
- Mẹ: Phạm Thị Nội (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Kiều Trang
- Con: 1 người con, sinh 1987
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ đến 1979 học phổ thông. Từ 1981 đến 1987 làm công nhân công ty dệt may xuất khẩu hàng. Từ 1990 đến 1995 lao động tại Cộng hòa liên bang Nga. Từ 1996 chuyển vào TP HCM, buôn bán.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 6 đến 12/2001, vào các ngày thứ bảy, chủ nhật hàng tuần, Dũng thường đến quán cà phê 196 Trần Bình Trọng để cá độ bóng đá. Tổng cộng Dũng chơi 20 trận thuộc các giải ngoại hạng Anh, Italy, mỗi lần 1-2 triệu với các tên Tuấn (Bắc), Tý và một số người khác Dũng không nhớ tên. Những người này Dũng không biết địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh được. Trong các lần cá độ, Dũng khai có thắng, có thua nhưng do lâu ngày Dũng không nhớ được cụ thể từng trận, nhưng tổng cộng Dũng thua 14 triệu đồng. (Bút lục số: V6, T12-2046)
Ngoài cá độ bóng đá tại 196 Trần Bình Trọng, Dũng còn cá độ bóng đá với các tên Tuấn, Khanh ở Lạng Sơn cụ thể như sau:
- Tháng 7/1998, khi đang diễn ra giải Worldcup 98, Dũng có người quen tên Tuấn ở Lạng Sơn (Dũng không biết địa chỉ) vào TP HCM chơi, nhờ Dũng bắt độ giúp để chơi cá độ bóng đá. Dũng gặp tên Thương (không biết địa chỉ) tại quán cà phê ở góc đường Hồ Hảo Hớn và đường Trần Hưng Đạo, quận 1 và nhờ Thương bắt độ giúp Tuấn, sau đó nếu Tuấn thắng độ thì Thương trả tiền cho Tuấn qua Dũng, nếu thua thì ngược lại. Dũng bắt độ giúp Tuấn 5 trận, không nhớ rõ thắng thua như thế nào. Sau đó Tuấn trở về Lạng Sơn. (Bút lục số: V6, T12-2043)
- Cuối năm 1998, Tuấn và bạn Tuấn tên là Khanh ở Lạng Sơn (không biết rõ địa chỉ) điện thoại nhờ Dũng (ở TP HCM) bắt độ cá độ bóng đá giúp Tuấn và Khanh, Dũng đồng ý, sau đó Dũng đã đến khách sạn Thái Thiên ở đường Bùi Thị Xuân, quận 1 bắt độ cho Tuấn 5 trận, bắt cho Khanh 1 trận thuộc các giải ngoại hạng Anh, Italy với tên Minh ở quận Gò Vấp (không biết địa chỉ), mỗi trận 1- 2 triệu đồng. Kết quả có thắng, có thua nhưng do lâu ngày Dũng không nhớ được cụ thể. Cũng tại khách sạn Thái Thiên Dũng còn trực tiếp chơi cá độ bóng đá với tên Minh nói trên 3 trận, mỗi trận từ 0,5 đến 2 triệu đồng, do lâu ngày nên Dũng không nhớ kết quả thắng thua thế nào. (Bút lục số: V6, T12-2045-2046)
Hành vi trên của Nguyễn Chí Dũng đã phạm vào tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS.
118. Bị can Ngô Quang Vinh (Man)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 19/4/1972 tại Vĩnh Long
- ĐKNKTT: 183/23 Bùi Viện, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Cha: Ngô Văn Ba (chết)
- Mẹ: Nguyễn Thị Lợi
- Vợ: Nguyễn Thị Ngọc Giàu
- Con: 1 người con, sinh 2002
b. Quá trình hoạt động
Từ 1972 đến 1978 còn nhỏ sống chung với cha me tại 183/49C Bùi Viện. Từ 1979 đến 1990, đi học tại phổ thông Cấp I, II trường Chu Văn An, đường Trần Hưng Đạo. Từ 1991 đến nay, nghỉ học ở nhà phụ quay Video, ngụ tại 183/23 Bùi Viện. Ngày 16/5/1999, tổ chức cá độ bóng đá tại khách sạn Thái Thiên, đường Bùi Thị Xuân, bị CA TP HCM bắt.
- Tiền án: 1
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 10 đến 12/2001, vào các ngày thứ bảy, chủ nhật hàng tuần, Vinh thường đến quán cà phê 196 Trần Bình Trọng để cá độ bóng đá. Vinh thường chơi bắt kèo dưới và mỗi trận 5 triệu đồng. Đến tối Vinh đến những quán cà phê khác truyền hình bóng đá để xem biết kết quả. Vinh thường cá độ với tên Phước, Sơn và một số tên khác Vinh không nhớ rõ tên, không biết địa chỉ. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh được. Mỗi ngày Vinh chơi cả hai trận, tổng số Vinh đã chơi 40 trận thuộc các giải ngoại hạng Anh, Italy, có thắng, có thua nhưng do lâu ngày nên Vinh không nhớ rõ cụ thể từng trận đã chơi và số tiền thắng thua là bao nhiêu nhưng tổng số tiền thắng cược được 10 triệu đồng. (Bút lục số: V6, T13-2065-2066)
Hành vi trên của Ngô Quang Vinh đã phạm vào tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS.
119. Bị can Hồ Việt Sử
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 1/7/1959 tại An Giang
- ĐKNKTT: 20 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 1, quận 5, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 11/12
- Cha: Kha Văn Bửu (chết)
- Mẹ: Hồ Thị Mới
- Vợ: Kim Sen
- Con: 3 người con, lớn nhất sinh 1983, nhỏ nhất sinh 1998
b. Quá trình hoạt động
Từ 1959 đến 1966 còn nhỏ ở với gia đình tại Tịnh Biên, An Giang. Từ 1966 đến 1977 học đến lớp 11, sau đó nghỉ ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1979 đi bộ đội. Năm 1985 làm cộng tác viên ở mặt trận 979 thuộc quân khu 9. Năm 1988 thuê nhà tại 443 Lê Hồng Phong, phường 2, quận 10. Đầu năm 1991 mua nhà tại 20 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 1, quận 5. Cuối năm 1991 chuyển sang ngụ tại 61 Phó Đức Chính, phường Nguyễn Thái Bình. Nghề nghiệp buôn bán. Tháng 12/1992 bị Công an tỉnh Vĩnh Long bắt về tội buôn lậu xe ôtô, bị giam 4 tháng, sau đó được trả tự do.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 1
- Tạm giam: 18/12/2001
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 12/1997 đến 12/1999, Sử thường đến quán cà phê số 200 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5 để cá độ bóng đá, các tên cò cá độ bóng đá cũng có mặt tại đây và ra kèo trận đấu. Nếu Sử thích đội nào thì bắt độ với tên cò đó, còn các tên cò bắt độ với ai thì Sử không biết. Buổi tối, Sử xem ti vi tại nhà và hôm sau lại ra quán cà phê 200 Trần Bình Trọng để thanh toán tiền cá độ.
Sử thường bắt độ với các tên Trần Văn Lẹ (Rớt) ở 12 AB Lương Hữu Khánh, quận 1 (hiện Lẹ đang định cư tại Mỹ) và các tên Tuấn (Bắc), Tùng (Dũng), Minh, Mạn (Sử không biết địa chỉ các tên này). Tổng cộng Sử đã chơi 50 trận thuộc các giải vô địch thế giới năm 1998 tại Pháp, giải ngoại hạng Anh và giải vô địch quốc gia Italy, mỗi trận từ 1 đến 10 triệu đồng, kết quả có thắng, có thua nhưng do lâu ngày nên Sử không nhớ rõ. (BL: V6 T14: 2128-2129)
Xác minh tại quán cà phê 200 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5, chị Lê Thị Bé Ba (chủ quán) cho biết trong thời gian từ cuối 1997 đến 1999, Hồ Việt Sử thường tới quán cà phê của chị Ba uống cà phê và cá độ bóng đá. Cụ thể chơi với ai, như thế nào thì chị Ba không biết rõ. (BL: V6 T14: 2172)
Hành vi trên của Hồ Việt Sử đã phạm tội đánh bạc, tội danh quy định tại điều 248 BLHS.
Căn cứ tài liệu điều tra ban đầu, ngày 19/12/2001, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định khởi tố bị can số 65 đối với Hồ Việt Sử về tội tổ chức đánh bạc. Quá trình điều tra xác định Sử phạm tội đánh bạc như đã nêu trên, ngày 25/8/2002, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can số 10, thay đổi từ tội tổ chức đánh bạc sang tội đánh bạc đối với Hồ Việt Sử.
Ngoài ra Hồ Việt Sử còn gây ra nhiều vụ cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng đang được điều tra, làm rõ ở vụ án khác để đề nghị truy tố và xét xử.
Tài sản và tang vật thu giữ
- 2 CPU máy vi tính
- 8,3 lượng vàng 18K để trang sức
- 8 băng Video
- 21 đĩa mềm vi tính
- 10 con dấu
- 15 đĩa cứng vi tính
- kê biên 1 căn nhà
120. Bị can Châu Phát Lai (Lai Anh)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 14/7/1957
- ĐKNKTT: 18 đường 17, phường 4, quận 4, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 7/12
- Cha: Châu Phát Qưới (chết)
- Mẹ: Nguyễn Thị Chín (chết)
- Vợ 1 Đỗ Thị Phương Mỹ, sinh 1962. Vợ 2 Nguyễn Thị Ngọc Lệ sinh 1967. Vợ 3 Võ Thị Hồng Ngọc, sinh 1977
- Con: 2 người con, lớn nhất sinh 1985, nhỏ nhất sinh 1989
b. Quá trình hoạt động
Từ 1965 đến 1973 học trường Khai Minh, quận 1. 1973-1975 bốc xếp tại chợ cá Cầu Ông Lãnh. Tháng 5/1975-6/1977, bị bắt tập trung cải tạo tại Long Thành, Đồng Nai về tội cướp giật đồng hồ. Tháng 3/1978, Lai Anh ra trại, làm bốc xếp ở chợ cá Cầu Ông Lãnh, quận 1. Tháng 3/1978-9/1982, tập trung cải tạo tại trại Tống Lê Chân, Sông Bé (nay là Bình Phước) về tội cướp giật tài sản công dân. Tháng 9/1982 đến 12/1989 làm bốc xếp tại chợ cá Cầu Ông Lãnh, chỗ ở chung cư 79 phòng 101 Trần Hưng Đạo, quận 1. Tháng 12/1989-12/1999 chuyển về số 17 lầu 1, phòng 9, Nguyễn Thái Học, phường Cầu Ông Lãnh, bốc xếp tại chợ cá. Tháng 12/1999 đến 9/2000 ngụ tại số 18 đường 17, phường 4, quận 4, bốc xếp tại chợ cá.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 2
- Tạm giam: 5/3/2002
c. Hành vi phạm tội
* Hành vi tổ chức trường đá gà ăn tiền thu tiền xâu:
Châu Phát Lai (Lai Anh) là đối tượng hình sự phạm tội chuyên nghiệp đã được tập trung giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng không chịu làm ăn chân chính mà tiếp tục phạm tội. Từ năm 1990, sau khi ra trại, y đã nhiều lần tham gia tổ chức đánh bạc. Châu Phát Lai đã chủ động rủ Hứa Văn Em mở trường đá gà để thu tiền xâu từ tháng 10/2000 đến tháng 6/2001. Bọn chúng đã tổ chức các điểm đá gà ăn tiền ở nhiều nơi thuộc quận 2, quận 9, Thủ Đức. Sau khi chuẩn bị địa điểm, Lai Anh điện cho các con bạc đến để tham gia bắt độ với nhau. Các con bạc nếu thắng đều phải nộp tiền xâu cho Lai Anh với các mức độ như sau: Độ 1 triệu đồng/trận thì mỗi bên nộp 100.000 đồng tiền xâu; độ 2 triệu đồng/trận thì mỗi bên nộp 150.000 đồng; độ từ 5 triệu trở lên thì nộp 250.000 đồng. Tổng cộng Lai Anh đã thu được 250 triệu đồng. Sau khi chia cho các đối tượng cùng tổ chức đánh bạc hết 50 triệu đồng còn lại Hứa Văn Em và Lai Anh được hưởng mỗi người 100 triệu. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được có cơ sở kết luận Châu Phát Lai đã phạm tội tổ chức đánh bạc với vai trò chủ mưu, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
* Hành vi cho vay lãi nặng
- Từ đầu năm 2000 đến hết tháng 9/2000, Lai Anh trực tiếp cho 26 người làm các nghề bốc xếp cá, chạy xe ba gác, bán cá ở chợ cá Cầu Ông Lãnh vay tiền. Người vay ít nhất là 500.000 đồng, người vay nhiều nhất là 10 triệu đồng. Vay với hai hình thức: Vay trả góp với lãi suất 20%/tháng, gấp 20 lần lãi suất ngân hàng và vay đứng với lãi suất 21%/tháng, 30%/tháng gấp 21 lần, 30 lần lãi suất ngân hàng, thu được 27.570.000 đồng tiền lãi, thu lời bất chính là 27.570.000 đồng.
- Từ tháng 10 năm 2000 đến tháng 1.2002, Lai Anh đã đưa cho Nguyễn Kim Thịnh 18 triệu đồng để Thịnh đưa cho 17 người vay tiền với lãi suất 20%/tháng, vượt quá mức lãi suất ngân hàng quy định 30 lần, thu lời bất chính 13.597.000 đồng.
Qua đấu tranh khai thác, Châu Phát Lai khai nhận đã có hành vi cho vay lãi nặng từ đầu năm 2000 đến khi bị bắt (2 năm) như đã nêu trên.
Qua xác minh có 17 người xác nhận đã vay tiền của Lai Anh thông qua Nguyễn Kim Thịnh. Có 2 người là chị Giá, anh Đạt không thừa nhận vay tiền như lời khai của Lai Anh và Thịnh. Một số người mà Lai Anh khai cho vay tiền như chị Quắn, anh Đặng đã chuyển đi làm ăn ở nơi khác không xác định được địa chỉ.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được đã có đủ cơ sở kết luận Châu Phát Lai (Lai Anh) đã phạm vào tội cho vay lãi nặng, tội danh được quy định tại điều 163 BLHS, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Như vậy, Châu Phát Lai đã phạm 2 tội:
- Tội tổ chức đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS
- Tội cho vay lãi nặng, tội danh được quy định tại điều 163 BLHS
121. Bị can Hứa Văn Em (Hai Bé Em)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 9/5/1951 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 18A Bến Chương Dương, Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM
- Chỗ ở: 105 Ký Con, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Cha: Võ Thị Tát (chết)
- Mẹ: Hứa Thị Khuấn
- Vợ: Nguyễn Thị Cẩm Nhung
- Con: 9 người con, lớn nhất sinh 1970, nhỏ nhất sinh 1983
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1963 đến 1968 học tại trường Bồ Đề, quận 2, TP HCM. Từ năm 1969 đến 1971, là học viên kỹ thuật tại hải quân - công xưởng Ba Son. Từ 1972 đến 30/4/1975 là cảnh sát viên cảnh sát công lộ chế độ cũ. Từ 30/4/1975 đến 12/1976 trưng dụng làm công an giao thông. Từ 1977 đến 1994 buôn bán trái cây. Từ 1995 đến 2002 chủ doanh nghiệp tư nhân khách sạn Phong Phú.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 19/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Hứa Văn Em (Bé Em) và Châu Phát Lai (Lai Anh) là hai đối tượng cờ bạc chuyên nghiệp, thường rủ nhau đến một số trường gà ở các quận trong thành phố để đá gà ăn tiền. Vì thế bọn chúng biết được rằng mở trường gà, thu tiền xâu có nhiều lợi nhuận, được Lai Anh gợi ý trước, Bé Em tán thành cùng thống nhất mở trường gà để thu tiền xâu. Từ tháng 10.2000, Hứa Văn Em và Châu Phát Lai đã mở nhiều trường đá gà ở các quận, huyện thuộc địa bàn TP HCM, thu hút nhiều con bạc đến tham gia và nộp tiền xâu cho Hứa Văn Em với hình thức như sau: Độ 1 triệu đồng/trận thì nộp 100.000 đồng; độ 2 triệu động/trận thì nộp 150.000 đồng; độ 5 triệu đồng/trận thì nộp 250.000 đồng. Tổng cộng Hứa Văn Em và Lai Anh dã thu được 250 triệu đồng, trong đó Hứa Văn Em được chia 100 triệu đồng.
Quá trình điều tra, Bé Em khai nhận đã cùng với Châu Phát Lai Anh tổ chức đá gà ăn tiền, thu được khoảng 250 triệu đồng tiền xâu. Bản thân Bé Em được chia khoảng 100 triệu đồng.
Như vậy căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã có cơ sở kết luận Hứa Văn Em (Hai Bé Em) đã phạm tội tổ chức đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS với vai trò đồng phạm với Châu Phát Lai. Hành vi trên của Hứa Văn Em cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
122. Bị can Hồ Văn Nhị (Sang "Lùn")
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 9/5/1948 tại TP HCM
- ĐKNKTT: Sau số 75X Bến Chương Dương, quận 1, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Cha: Nguyễn Văn Thắm (chết)
- Mẹ: Hồ Thị Sen (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Châu
- Con: 5 người con, lớn nhất sinh 1969, nhỏ nhất sinh 1975
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ ở với cha mẹ, học đến lớp 9 nghỉ học, phụ giúp gia đình. Từ năm 1969 đến 1972, lái xe cho tiểu khu Gia Định. Từ 1972 đến 1975, lao động tạp dịch cho lính ngụy. Từ 1975 đến 1997, tham gia làm tổ trưởng tổ dân phố 3 năm, làm đội trưởng đội dân phòng cho phường 19 (nay là phường Nguyễn Thái Bình, quận 1). Từ 1997 đến nay làm nghề buôn bán. Ngày 7/1/2001 bị cơ quan điều tra bắt về tội tổ chức đánh bạc.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 7/1/2002
c. Hành vi phạm tội
Cuối năm 2000, Nhị được Hứa Văn Em rủ làm thư ký, ghi chép sổ sách trường gà cho Lai Anh, Bé Em. Nhị đồng ý và được giao nhiệm vụ chuyên ghi chép, thu tiền xâu của các con bạc cáp đôi gà với nhau. Cuối buổi cộng sổ được bao nhiêu tiền, Nhị giao lại toàn bộ tiền và sổ cho Lai Anh, được Lai Anh cho 100.000/ngày. Hôm nào được nhiều thì cho 200.000đ. Các trường đá gà do Lai Anh, Hứa Văn Em và Hồ Văn Nhị tổ chức hoạt động vào các ngày thứ bảy, chủ nhật từ tháng 10/2000 đến tháng 6/2001. Tổng cộng Nhị được chia khoảng 7 triệu đồng. Trong suốt quá trình thu tiền xâu ở trường gà cho Lai Anh, Bé Em, Nhị khai thu được khoảng 250 triệu đồng. Qua đấu tranh khai thác, Hồ Văn Nhị đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và tố giác đồng bọn, vì vậy cần được xem xét giảm nhẹ trong quá trình xét xử.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và lời khai nhận tội của các bị can, có đủ cơ sở kết luận Hồ Văn Nhị có hành vi tổ chức trường đá gà ăn tiền để thu tiền xâu (vai trò giúp sức), hành vi của Nhị đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249 BLHS nước CHXHCNVN.
Tài sản và vật chứng thu giữ: 1 ĐTDĐ Motorola.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:36 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 5 đối tượng đánh bạc


Phạm Minh Tâm thuê phòng 402 khách sạn 333 Trần Hưng Đạo, Cầu Kho, quận 1, TP HCM để tổ chức cho nhiều con bạc đến đánh xập xám, đổ cá ngựa, đổ xí ngầu, đổ bầu cua ăn tiền. Châu Đức Nghĩa cùng Võ Anh Dũng cá độ kết quả các trận bóng đá quốc tế, tiền cược 3-5 triệu đồng/trận.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
123. Bị can Phạm Minh Tâm
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 15/9/1965 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 1015 Trần Hưng Đạo, phường 5, quận 5, TP HCM
- Nơi ở: 57/4 An Dương Vương, phường 8, quận 5, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Cha: Đinh Văn Trung (chết)
- Mẹ: Phạm Thị Thu Vân
- Vợ: Hồ Thị Tú Uyên
- Con: 1 con trai (6 tháng tuổi)
b. Quá trình hoạt động
Từ 1965 đến 1985 ở với gia đình, học hết lớp 9. 1985-1988 đi bộ đội. Từ 1989 đến 1990 ở nhà. Từ 1990 đến 1991 làm bảo vệ chợ Hòa Bình. Từ 1991 đến nay ở nhà, làm nghề sản xuất giày, dép, guốc.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 10/2000 đến tháng 4/2001, Phạm Minh Tâm thuê phòng 402 khách sạn 333 Trần Hưng Đạo, Cầu Kho, quận 1, TP HCM để tổ chức đánh bạc. Hình thức đánh bạc như đổ cá ngựa, đổ xí ngầu, đổ bầu cua, đánh xập xám (là chủ yếu). Mỗi ngày có khoảng 10 người tham gia, Tâm và Huỳnh Phú Hải trực tiếp thu tiền xâu, tổng cộng thu được từ 200.000 đến 1,5 triệu đồng. Tâm tổ chức đánh bạc cùng các con bạc như Cường, Thọ, Mười "Lù" (đã bị bắt giam), Tư "Lé", Triều, Từ, Đức, Quang… Trong đó có Nguyễn Văn Thành và Huỳnh Chí Đức đã khai nhận rõ các hành vi đánh bạc tại đây, còn các con bạc khác không rõ địa chỉ. Ngoài việc tổ chức đánh bạc, Tâm còn tham gia cá độ bóng đá ở những điểm như 196 Trần Bình Trọng, quận 5; 177 Nguyễn Thị Minh Khai; 84 Cống Quỳnh, quận 1; quán cà phê Mini, khu Cu Ba, đường Phạm Đình Hổ, quận 6 với các đối tượng như Tùng, Hùng, Thắng, Hải, Tiến, Thọ, Long, Vinh, Tuấn Anh... ăn thua từ 3 triệu đến 50 triệu đồng.
Kết quả xác minh các điểm Tâm thường đến cá độ bóng đá nêu trên xác định có một điểm cá độ bóng đá tại 196 Trần Bình Trọng là do Trương Hiền Bảo tổ chức, còn các điểm khác chỉ là quán bán hàng, chưa có cơ sở chứng minh đó là tụ điểm cá độ bóng đá. Các đối tượng thường xuyên cá độ bóng đá với Tâm cũng không rõ địa chỉ nên chưa xác minh làm rõ được.
Qua đấu tranh xét hỏi, Phạm Minh Tâm thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đứng ra tổ chức đánh bạc và tham gia cá độ bóng đá với các đối tượng như đã nêu trên, số tiền thắng - thua trong quá trình cá độ bóng đá lên đến 300 triệu đồng. Phạm Minh Tâm là đối tượng ra đầu thú trước Cơ quan Cảnh sát điều tra, quá trình khai báo, Tâm tỏ ra thành khẩn, vì vậy cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho y.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được và lời khai nhận của các bị can đã có đủ cơ sở kết luận Phạm Minh Tâm đã có hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249, 248 BLHS.
124. Bị can Trần Tuấn Anh
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 10/10/1977 tại Hà Nội
- ĐKNKTT: 169 Bạch Mai, Cầu Dền, Hai Bà Trưng, Hà Nội
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Cha: Trần Văn Tân, sinh 1951
- Mẹ: Trần Thị Xuân Hòa, sinh 1956
- Vợ: Nguyễn Thị Thu Huyền, sinh 1977
- Con: có 1 con, 5 tuổi
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ đến lớn được cha mẹ nuôi ăn học. Năm 1991 học hết lớp 9/12 thì nghỉ học, phụ giúp gia đình. Năm 1996 đến cuối năm 2001, buôn bán xe máy tại chợ Phùng Hưng, Hà Nội. Từ cuối năm 2001 đến khi bị bắt, ở nhà phụ giúp gia đình cha mẹ vợ tại số 6 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 4/10/2002
c. Hành vi phạm tội
Trong năm 2001, Trần Tuấn Anh đã tham gia cá độ bóng đá ăn tiền với anh Trí (không nhớ địa chỉ) mỗi trận 1 triệu đồng. Tuấn Anh thắng 2 trận, được 2 triệu đồng. Sau đó thông qua anh Trí giới thiệu bắt liên lạc với Phạm Minh Tâm bằng điện thoại di động. Trần Tuấn Anh và Phạm Minh Tâm đã cá độ với nhau 7-10 trận, trận cá độ cao nhất là 5 triệu, có ngày cá độ 2 lần. Tổng cộng số tiền thua cá độ với Phạm Minh Tâm là 60 triệu đồng.
Với tài liệu, cứng cứ đã thu thập được và lời khai nhận tội của bị can Trần Tuấn Anh có đủ căn cứ kết luận Trần Tuấn Anh đã phạm tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS.
125. Bị can Huỳnh Phú Hải
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 10/4/1956 tại Đồng Tháp
- ĐKNKTT: 22 cư xá Đường Sắt, phường 1, quận 3, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Cha: Huỳnh Văn Hưởng, sinh 1924
- Mẹ: Trần Thị Thơ, sinh 1924
- Vợ: Bùi Thị Lan, sinh 1954; vợ 2 Nguyễn Thị Xuân Anh, 42 tuổi
- Con: 3 người con, lớn nhất sinh 1980, nhỏ nhất sinh 1991
b. Quá trình hoạt động
Từ 1956 đến 1975 ở với gia đình, học hết lớp 12 trường Trung học thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp. Từ 1976 đến 1980 làm nghề phụ xe tại TP HCM. Từ 1981 đến ngày bị bắt (7/1/2002): Xây dựng gia đình và làm các nghề như phụ xe, bán vé đá bóng, bán vé xem ca nhạc, trông giữ xe đạp, làm thuê…
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 7/1/2002
c. Hành vi phạm tội
Từ tháng 10/2000 đến tháng 4/2001, Phạm Minh Tâm cùng Huỳnh Phú Hải thuê phòng 402 khách sạn 333 để tội chức đánh bạc bằng các hình thức đổ xí ngầu, đổ bầu cua, chơi xập xám… Hải là người trực tiếp được Phạm Minh Tâm giao cho nhiệm vụ thu tiền xâu, mỗi ngày thu từ 200.000 đến 1,5 triệu đồng, sau đó giao lại tiền cho Tâm. Ngoài ra Hải còn làm nhiệm vụ chở Tâm đến các điểm cá độ bóng đá và là người trực tiếp giao, nhận tiền thắng - thua cá độ bóng đá tại 117-119 Nguyễn Du, quận 1; số nhà 58/18 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, số tiền đến hàng trăm triệu đồng.
Qua đấu tranh xét hỏi, Huỳnh Phú Hải đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và tố cáo hành vi phạm tội của đồng bọn giúp Cơ quan Cảnh sát điều tra làm rõ vụ án. Vì vậy trong quá trình xét xử, đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho y.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được và lời khai của các bị can đã có đủ cơ sở kết luận Huỳnh Phú Hải đồng phạm về hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 249, 248 BLHS
Tài sản và tang vật thu giữ
- 9 bộ bài 52 lá đang sử dụng
- 1 điện thoại di động hiệu Samsung đã cũ (không kiểm tra chất lượng)
- 1 xe mô tô 2 bánh hiệu Suzuki Viva màu xanh, biển số 52H3-8951; số khung BE 42DVN 119739; số máy E 421 VN 119739
126. Bị can Châu Đức Nghĩa
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 12/3/1955 tại Bình Định
- ĐKNKTT: 40 khu phố 3, phường Thạnh Lộc, quận 12, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Cha: Châu Đức Tuấn
- Mẹ: Võ Thị ông (chết)
- Vợ: Phùng Thị Đào; vợ 2 Phạm Thị Hồng Thái
- Con: 3 người con, lớn nhất sinh 1983, nhỏ nhất sinh 1994
b. Quá trình hoạt động
Từ 1955 đến 1975 sống với cha mẹ tại Kiên Giang. Từ năm 1975 đến 1977 là công an thị xã Rạch Giá. Từ năm 1977 đến 1979 làm tại phòng thống kê kế hoạch Sở GTVT tỉnh Kiên Giang. Từ năm 1979 đến 1984 làm cơ sở chế biến hàng xuất khẩu Kiên Giang. Từ năm 1985 đến 1988 làm Phó giám đốc Công ty cung ứng hàng xuất khẩu thị xã Rạch Giá. Từ năm 1989 đến 1991 làm Giám đốc xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu thị xã Rạch Giá. Từ năm 1992 đến 1993 lên TP HCM ở đường Lạc Long Quân, quận 11. Năm 1993 mở nhà hàng Thanh Vy. Ngày 21/12/2001 bị cơ quan điều tra bắt về tội tổ chức đánh bạc.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 21/12/2001
c. Hành vi phạm tội
Châu Đức Nghĩa quen biết Võ Anh Dũng (sinh 1970, trú tại 220/4 Cô Giang, phường 2, Phú Nhuận), nhân viên phục vụ nhà hàng Ra Khơi. Khoảng tháng 9/2001, Dũng sang nhà tạm của Nghĩa chơi và rủ nhau cá độ bóng đá ăn tiền. Hai bên thống nhất cá độ thông qua các trận bóng đá giải ngoại hạng Anh, Italy, cúp C1 trên VTV3, HTV7, HTV9. Trước khi có trận đấu trong giải trên (thường vào tối, đêm thứ bảy, chủ nhật hàng tuần), Nghĩa dùng điện thoại di động số 0903.817745 điện cho Dũng số 0903.698896 hoặc Dũng điện cho Nghĩa, hai bên bắt đội nào thắng, đội nào thua, tỷ số bao nhiêu. Nếu bên nào bắt đúng là thắng, sai là thua. Nếu cả hai bên đều sai là hòa. Thông thường mỗi bên đặt cược 3-5 triệu/trận. Nghĩa và Dũng cá độ với nhau tổng số 16 trận, Nghĩa thắng 8 trận, hòa 2 trận, thua 6 trận, thắng được 10 triệu đồng chiêu đãi bạn bè, tiêu sài cá nhân hết. Sau trận đấu 2-3 ngày, Dũng trực tiếp đến nhà hàng Thanh Vy gặp Nghĩa nhận hoặc chung tiền.
Châu Đức Nghĩa khai nhận: Ngoài việc thừa nhận có chơi cá độ bóng đá ăn tiền với Võ Anh Dũng, Nghĩa còn chơi tiến lên ăn tiền với Dũng, Châu, Xương, Khánh (là bạn bè của nhau) tại phòng hát Karaoke trong nhà hàng Thanh Vy của Nghĩa. Mỗi lần chơi 10-20 ván, nhất thắng 100.000 đồng, nhì thắng từ 30.000-50.000 đồng. Nếu ai bị chặt hai, đè hai thì bị phạt 200.000 đồng. Qua lời khai của các đối tượng chơi bài với Nghĩa thừa nhận có hành vi đánh bài tiến lên ăn tiền như nêu trên nhưng mục đích là chơi giải trí, mức độ sát phạt nhỏ, các đối tượng đều có nhân thân tốt nên không xem xét xử lý về mặt hình sự đối với họ. Nghĩa còn khai nhận từ tháng 6/1999 đến cuối năm 2000, Nghĩa còn tham gia chơi bài xập xám ăn tiền tại phòng hát Karaoke ở nhà hàng Thanh Vy với anh Cung, anh Lê Bá Bốn, anh Phi Long, anh Đoàn, anh Sửu. Nhưng qua xác minh, các đối tượng trên không thừa nhận sự việc đánh bài xập xám với Nghĩa nên không có cơ sở kết luận.
Ngày 8/7/2002, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can số 8 đối với Châu Đức Nghiã từ tội danh tổ chức đánh bạc sang tội danh đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS để xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng đã xác định: Đầu năm 1999, trong buổi khai trương nhà hàng Cánh Buồm của anh Định, Giám đốc Công ty vàng bạc đá quý, Nghĩa đã quen biết Trương Văn Cam. Từ đó có quan hệ làm ăn với nhau như sau:
- Khoảng tháng 4 hoặc 5.2000, Nghĩa mua và san lấp giúp cho Trương Văn Cam 2.000 m2 đất với giá 80 lượng vàng SJC và 120 triệu đồng tại phường Phước Long B, quận 9, TP HCM.
- Từ khoảng tháng 9/2000 đến tháng 5/2001, Nghĩa vay của Trương Văn Cam 78 lượng vàng SJC để san lấp 7.800 m2 đất của Nghĩa ở quận 9 và trả lãi vay một số bạn bè người thân.
Khoảng cuối tháng 5/2001, Nghĩa cho Trương Văn Cam hùn 40% vốn (1,2 tỷ đồng) vào nhà hàng Thanh Vy, số 146 Nguyễn Văn Trỗi, phường 8, Phú Nhuận, TP HCM. Nhà hàng này được nâng cấp hoạt động trở lại từ tháng 6/2001, mỗi tháng Trương Văn Cam được chia lợi nhuận 80-120 triệu, đã chia đến tháng 11/2001. Tuy nhiên qua xác minh hoạt động của nhà hàng Thanh Vy: Công an phường, công an quận sở tại cung cấp nhà hàng chưa có hoạt động nào vi phạm pháp luật bị phát hiện xử lý.
Cho đến nay, Cơ quan điều tra chưa có tài liệu, chứng cứ xác định được Châu Đức Nghĩa có liên quan đến các hoạt động phạm tội của Trương Văn Cam.
Tài sản và tang vật thu giữ
- 11.780.000 đồng
- 610 USD
- 0,15 lượng vàng để trang sức
- 1 ĐTDĐ Nokia 8250
- 2 bộ bài
- kê biên 03 căn nhà và 7.833 m2 đất
- 4 con dấu
127. Bị can Võ Anh Dũng
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 30/3/1970 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 220/4 Cô Giang, P2, Phú Nhuận, TP HCM
- Dân tộc: Kinh Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 11/12
- Cha: Võ Văn Dậu, sinh 1932
- Mẹ: Đinh Thị Phú, sinh 1935
- Vợ: Lý Thị Hồng Hạnh, sinh 1967
- Con: 1 người con (4 tuổi)
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ ở với gia đình, học hết lớp 11/12. Từ 1986 đến 1988 học Trường năng khiếu bóng chuyền tại CLB Phan Đình Phùng. Từ 1989 phụ giúp gia đình buôn bán. Từ 1999 đến 2001 làm công tại nhà hàng Ra Khơi. Hiện nay chạy xe Honda ôm.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Võ Anh Dũng và Châu Đức nghĩa quen biết nhau từ trước. Khoảng tháng 9/2001, Dũng lái xe du lịch 4 chỗ chở Phan Thị Trúc (vợ Trương Văn Cam) sang thăm nhà, đất mới mua ở phường Phước Long B, quận 9 giáp với đất của Châu Đức Nghĩa. Dũng sang nhà tạm của Nghĩa chơi và từ đó quen biết với Nghĩa. Hai bên thường rủ nhau cá độ bóng đá ăn tiền. Chúng thống nhất thông qua các trận bóng đá trong các giải ngoại hạng Anh, Italy được truyền hình trực tiếp trên các kênh truyền hình VTV3, HTV7, HTV9 vào các ngày thứ bảy, chủ nhật. Trong khoảng tháng 9 và tháng 10/2001, Dũng thừa nhận có cá độ bóng đá với Nghĩa tổng số 12-18 trận. Số tiền cá độ thấp nhất là 2 triệu, cao nhất là 5 triệu đồng/trận.
Cách thức cá độ: Trước trận đấu, Dũng dùng điện thoại di động số 0903.698896 điện vào máy di động của Nghĩa (không nhớ số cụ thể) hoặc ngược lại. Tùy theo từng trân, ý thích bắt đội nào của các bên và tỷ lệ cá cược của từng đội mà Dũng và Nghĩa chính thức thông báo cho nhau số tiền cá độ của trận đó (nếu cả hai cùng thích bắt một đội thì không chơi). Căn cứ vào kết quả trận đấu, sau 2 hoặc 3 ngày, Dũng xuống nhà hàng Thanh Vy gặp Nghĩa để chung tiền (nếu Dũng thua) và lấy tiền (nếu Dũng thắng). Trong quá trình chơi, Dũng có thắng, có thua, song số tiền cá độ từng trận, tổng số thắng hoặc thua bao nhiêu, Dũng không nhớ cụ thể.
Hành vi cá độ bóng đá, sát phạt nhau bằng tiền của Võ Anh Dũng đã phạm vào tội đánh bạc, tội danh được quy định tại điều 248 BLHS.
Tài sản và vật chứng thu giữ: Không


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:36 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch Nguyễn Thập Nhất và Thuyết "Buôn Vua"


Nguyễn Thập Nhất, nguyên trưởng phòng kiểm sát giam giữ VKSND Hà Nội, đã nhận trên 7.000 USD của gia đình Năm Cam để trực tiếp thảo đơn kêu oan và hướng dẫn gia đình "ông trùm" gửi tới các cơ quan Đảng và Nhà nước. Trần Văn Thuyết nhận hơn 68.000 USD "lót tay" cho nhiều cá nhân ở cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan ngôn luận nhằm chạy tội cho Năm Cam.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
128. Bị can Trần Văn Thuyết (Thuyết "Chăn Voi", Thuyết "Buôn Vua")
a. Lý lịch bị can
- Sinh tháng: 5/1960 tại Hải Dương
- ĐKNKTT: 91 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hoá: 10/10
- Cha: Trần Văn Tâm (chết)
- Mẹ:Vũ Thị Tạng
- Vợ: Trần Bích Hợp, sinh 1959
- Con: 2 người con, lớn nhất sinh 1990, nhỏ nhất sinh 1995
b. Quá trình hoạt động
Còn nhỏ ở với gia đình, học tại Hải Dương. Năm 1978 vào ngành công an, công tác tại Cục quản lý trại giam (Trại giam Yên Hạ, Phú Yên, Sơn La). Năm 1981, công tác tại Cục A13 Tổng cục an ninh – Bộ Nội vụ. Năm 1988 công tác tại Công ty đại lý vận tải Hà Nôïi. Năm 1994 buôn bán điện tử ở 91 Nguyễn Thái Học, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 6/4/2002
c. Hành vi phạm tội
* Hành vi đưa hối lộ:
Lợi dụng sự quen biết của y với một số cán bộ ở các cơ quan Nhà nước, Trần Văn Thuyết đã nhận tiền của Trương Văn Cam đưa cho một số cá nhân ở cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan ngôn luận nhằm mục đích chạy tội cho Trương Văn Cam (năm 1995). Mặc dù biết việc làm này là vi phạm pháp luật nhưng Thuyết vẫn làm vì động cơ tư lợi cá nhân (Thuyết giữ lại 30.000 USD) để sử dụng cá nhân. Số tiền Thuyết nhận rất lớn (68.000 USD và 1 đồng hồ đeo tay hiệu Rolex trị giá 5.000 USD - thời điểm 1995) gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm biến chất một số cán bộ có chức quyền trong cơ quan Đảng và Nhà nước gây mất lòng tin đối với nhân dân. Hành vi của Thuyết đã tiếp tay cho một tên tội phạm nguy hiểm là Trương Văn Cam lọt lưới pháp luật tiếp tục hoạt động gây tội ác với nhân dân. Hành vi của Thuyết đã phạm vào tội đưa hối lộ, tội danh được quy định tại điều 289 BLHS cần được xử lý nghiêm minh.
* Hành vi lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi.
Qua tài liệu, chứng cứ thu thập được khẳng định: Năm 1995, Trương Văn Cam và Dương Ngọc Hiệp có nhờ Trần Văn Thuyết lo chạy tội cho Trương Văn Cam đã được Thuyết đồng ý. Lợi dụng sự quen biết của mình với một số cán bộ có chức quyền trong cơ quan nhà nước, Thuyết đã nhận của Trương Văn Cam và Dương Ngọc Hiệp 68.000 USD và một đồng hồ Rolex trị giá 5.000 USD. Bằng thủ đoạn sau khi nhận tiền của Hiệp để đưa cho một số cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan ngôn luận để nhờ lo chạy tội cho Trương Văn Cam, Thuyết không đưa hết số tiền đã nhận của Hiệp mà giữ lại một số để sử dụng cá nhân. Với thủ đoạn này ngoài số tiền Thuyết đã thực chi phí cho việc lo chạy cho Trương Văn Cam là 43.000 USD, còn lại 30.000 USD Thuyết đã giữ lại để sử dụng cá nhân.
Hành vi trên của Trần Văn Thuyết đã phạm tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi, tội danh được quy định tại điều 291 BLHS.
* Hành vi bắt giữ người trái pháp luật:
Ngày 13/5/1995, Thuyết gạ bán cho anh Vũ Quốc Tuấn ở số 6 khu tập thể A1 Nguyễn Công Trứ, Hà Nội 1 xe ô tô Ford 15 chỗ ngồi với giá 15.500 USD. Lúc đầu anh Tuấn đồng ý mua với giá 11.000 USD. Sau về hỏi bạn bè thấy đắt quá và không đủ tiền nên trả lại xe và lấy giấy tờ viết tay về. Thuyết đồng ý, khi lái xe đến cho Thuyết, Tuấn không biết lái nên đã làm đổ cột điện, làm cháy 3 nhà dân, đền hơn 100 triệu. Do không còn khả năng mua nên Tuấn xin trả lại xe cho Thuyết, còn tiền hư hỏng xe thì Tuấn xin bồi thường nhưng Thuyết không chịu. Sự việc chưa được thoả thuận dứt điểm thì vào cuối tháng 5/1995, Thuyết thông qua Nguyễn Văn Thắng (Thắng "Tài Dậu") bắt Sơn "Bạch Tạng" cử Hoàng Quốc Thắng (Thắng "Điếc") đến nhà Tuấn, bắt Tuấn về nhà Thuyết nhốt vào trong buồng rồi tra tấn, dùng dép đập vào mặt, bắt Tuấn viết giấy tay mua xe với giá 15.500 USD, nhốt từ sáng đến đêm mới cho về. Tháng 11/1995, Thuyết cử bọn Sơn "Bạch Tạng" đến gây rối nhưng có sự can thiệp kịp thời của công an nên bọn chúng bỏ chạy (bố của anh Tuấn lo sợ quá đã bị bệnh thần kinh). Tháng 5/1996, Thuyết nhờ Coong an phường Điện Biên giải quyết, Công an phường Điện Biên đã triệu tập anh Tuấn và mẹ anh Tuấn bắt trả tiền cho Thuyết nhưng vẫn không có kết quả. Tháng 7/1996, hồ sơ được chuyển đến Phòng Cảnh sát điều tra Công an thành phố TP Hà Nội tiếp tục giải quyết nhưng gia đình anh Tuấn không còn gì để sống nên sự việc vẫn chưa giải quyết xong. Tháng 9/1996, Thuyết lại cho Thắng "Điếc" tới nhà bắt anh Tuấn đến nhà Thuyết, nhốt vào buồng kín, giao cho Thắng đánh vào mặt, đá vào mạng sườn cho đến khi có người can ngăn mới thôi.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập tài liệu chứng cứ, ghi lời khai người bị hại và các nhân chứng đã có đủ cơ sở xác định toàn bộ sự việc phạm tội của Trần Văn Thuyết như đã nêu trên. Qua đấu tranh, khai thác, Trần văn Thuyết đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ cơ sở kết luận Trần Văn Thuyết phạm tội bắt giữ người trái pháp luật, tội danh được quy định tại điều 123 BLHS.
Như vậy, Trần Văn Thuyết đã phạm vào 3 tội:
- Tội đưa hối lộ (điều 289 BLHS)
- Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (điều 291 BLHS)
- Tội bắt giữ người trái pháp luật (điều 123 BLHS).
Tài sản và tang vật thu được
- 1 ô tô Mescerdes, biển số 29N – 6066
- 1 ô tô Mescerdes S-500, biển số 51LD – 2017
- 1 xe ô tô Lexus G5.3, biển số 80NG – 651-10
- 8.900 USD
- 1 máy ảnh Canon
- 1 điện thoại di động Nokia 8850
129. Bị can Nguyễn Thập Nhất
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 6/7/1953 tại Hà Nội
- ĐKNKTT: 45B Làng Yên Phụ, phường Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội
- Chỗ ở hiện nay: 55 Thợ Nhuộm, Cửa Nam, Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hoá: Đại học
- Cha: Nguyễn Văn Nghiêm (chết)
- Mẹ: Vũ Thị Long (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Tuyết Mai, vợ 2: Tô Ngọc Yến
- Con: 1 con trai
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ ở với gia đình, học đến phổ thông năm 1971. Ngày 31/5/1971 tham gia quân đội nhân dân Việt Nam ở Sư đoàn 367 phòng không – Trung đoàn 241. Tháng 12/1977-1/1988 cán bộ Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Tháng 2/1988-3/1993 Phó viện trưởng VKSND Hai Bà Trưng, Hà Nội. Tháng 4/1993-10/1994, Phó viện trưởng VKSND Hà Nội. Từ tháng 11/1994 đến 2002 là Trưởng phòng kiểm sát giam giữ VKSND Hà Nội.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 15/5/2002
c. Hành vi phạm tội
Nguyễn Thập Nhất nguyên là trưởng phòng kiểm sát giam giữ VKSND Hà Nội, quen biết ông Lê Thanh Đạo, nguyên viện trưởng VKSNDTC và ông Phạm Sỹ Chiến - nguyên phó viện trưởng VKSNDTC. Lợi dụng sự quen biết này, Nhất đã dẫn Thuyết và Hiệp đến giới thiệu với ông Đạo, ông Chiến để Thuyết và Hiệp đặt vấn đề lo chạy án cho Trương Văn Cam thời điểm năm 1995. Đồng thời Nhất còn trực tiếp thảo đơn kêu oan cho Trương Văn Cam, hướng dẫn Hiệp gửi đơn cho các cơ quan Đảng và Nhà nước vì mục đích trục lợi cá nhân (nhận 7.000 USD của gia đình Trương Văn Cam từ Thuyết). Nhất đã bất chấp pháp luật Nhà nước, tư cách đạo đức của người cán bộ để thực hiện hành vi phạm tội.
Ngang nhiên hơn nữa, năm 2001, khi vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn đã bị phanh phui, dư luận quần chúng rất bất bình về hoạt động của băng nhóm tội phạm do Trương Văn Cam cầm đầu, Nguyễn Thập Nhất còn nhận 2.000 USD từ Long "Đầu Đinh" (tiền của gia đình Trương Văn Cam) để tiếp tục lo chạy cho Trương Văn Cam và Dương Ngọc Hiệp, nhưng ngày 14/5/2002 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an bắt giam. Hành vi này thể hiện bản chất sa đoạ, thoái hoá vi phạm pháp luật một cách có hệ thống nhằm tư lợi cho cá nhân gây hậu quả lớn cho xã hội cần phải có 1 một bản án thích đáng với tội trạng của y để làm trong sạch cơ quan bảo vệ pháp luật, đem lại niềm tin cho nhân dân.
Hành vi của Nhất đã phạm vào tội lợi dụng ảnh hưởng đốùi với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi, tội danh được quy định tại điều 291 BLHS nước CHXHCNVN.
Tài sản và vật chứng thu giữ
- 1 ĐTDĐ
- 2.000 USD và 15.000.000 do gia đình Nhất tự nguyện nộp.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:37 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch Trần Mai Hạnh, Phạm Sĩ Chiến và con gái Năm Cam


Trần Mai Hạnh (nguyên phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký hội nhà báo VN) đã cho đăng báo nội dung kiến nghị hủy bỏ quyết định tập trung giáo dục cải tạo đối với Năm Cam. Phạm Sĩ Chiến (nguyên phó viện trưởng VKSND Tối cao) chỉ đạo soạn thảo và ký


kiến nghị trên. Về việc này, ông Chiến được "lót tay" khoảng 44 triệu đồng, ông Hạnh hơn 93 triệu.
Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
130. Bị can Trương Thị Lan
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 25/3/1964 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 36 Nguyễn Hữu Cầu, Tân Định, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Cha: Trương Văn Cam (bắt giam 12/12/2001)
- Mẹ: Phan Thị Trúc (bắt giam tháng 1/2002)
- Chồng: Dương Ngọc Hiệp (bắt giam tháng 12/2001)
- Con: 3 người con, lớn nhất sinh 1983, nhỏ nhất sinh 1994
b. Quá trình hoạt động
Còn nhỏ ở với cha mẹ, học hết lớp 9 nghỉ. Năm 1981 lập gia đình, buôn bán, nội trợ cho đến khi bị bắt.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Ngày 12/8/2002, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú về hành vi đưa hối lộ.
c. Hành vi phạm tội
Trương Thị Lan là con gái của Trương Văn Cam (Năm Cam) và là vợ của Dương Ngọc Hiệp. Cuối năm 2001, Trương Văn Cam và Hiệp bị cơ quan công an khởi tố, bắt giam, Lan đã điện thoại gặp Tôn Vĩnh Đắc (Long "Đầu Đinh"), là bạn của Dương Ngọc Hiệp - người đã giúp Hiệp chạy tội cho Trương Văn Cam năm 1995 - để nhờ Đắc tìm người giúp chạy tội cho Trương Văn Cam và Hiệp. Do quen biết với Nguyễn Thập Nhất, sau khi Lan đặt vấn đề, Đắc đã ra Hà Nội tìm và gặp Nguyễn Thập Nhất (lúc đó là Trưởng phòng kiểm sát giam giữ VKSND Hà Nội) tại số 97 Trần Hưng Đạo, Hà Nội (quầy bán vé máy bay của gia đình Nhất), trình bày việc Trương Văn Cam, Hiệp bị bắt và nhờ Nhất giúp đỡ để Trương Văn Cam và Hiệp được tha về. Nhất nhận lời và đặt vấn đề muốn giúp thì phải có tiền 5.000-10.000 USD. Sau đó Đắc điện thoại vào TP HCM cho Trương Thị Lan thông báo việc đã gặp Nhất và yêu cầu Lan đưa cho Đắc 10.000 USD. Lan đồng ý và giao đủ 10.000 USD cho Nguyễn Tấn Lộc (em bà con của Đắc) để Lộc mang ra thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giao cho Đắc (lúc này Đắc đang có công việc tại Vinh). Sau khi Đắc nhận được tiền của Lan, Đắc ra Hà Nội tìm gặp Nguyễn Thập Nhất, đưa cho Nhất 2.000 USD, còn lại 8.000 USD Đắc tiêu sài cá nhân. Cũng thời điểm này, Đắc còn hỏi mượn Trương Thị Lan 1.000 USD để mua đồ sửa xe và mua vé máy bay đi Lào. Lan đã đưa cho Đắc 1.000 USD. Tổng cộng Lan đã đưa cho Đắc 11.000 USD.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập được đã có đủ cơ sở kết luận Trương Thị Lan đã phạm tội đưa hối lộ, tội danh được quy định tại điều 289 BLHS.
Riêng hành vi nhận tiền của Tôn Vĩnh Đắc (9.000 USD) và Nguyễn Thập Nhất (2.000 USD), Đắc và Nhất không phải là chủ thể đặc biệt bắt buộc của tội nhận hối lộ, do vậy Cơ quan điều tra khởi tố và xử lý theo tội danh khác
131. Bị can Phạm Sỹ Chiến
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày 7/5/1947 tại Thái Bình
- ĐKNKTT: Cụm 4, tổ 28 (603/1), phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Cha: Phạm Văn Bút (chết)
- Mẹ: Nguyễn Thị Hồng (chết)
- Vợ: Phạm Thị Chức, sinh 1950
- Con: có 3 người con, lớn nhất sinh 1976, nhỏ nhất sinh 1980
b. Quá trình hoạt động
Từ năm 1965 đến 1970, công tác tại mỏ than Vàng Danh. Từ năm 1971 đến 1972 học bổ túc nông lâm. Từ năm 1973 đến 1995 công tác tại VKSND Quảng Ninh (năm 1988 được bổ nhiệm làm Viện trưởng VKSND Quảng Ninh đến năm 1995). Từ tháng 4/1995 đến tháng 9/2002 là Phó viện trưởng VKSND Tối cao. Ngày 5/9/2002, bị cách chức Phó viện trưởng VKSND Tối cao, cách chức kiểm sát viên cao cấp VKSND Tối cao.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Sau khi Trương Văn Cam bị đưa đi tập trung cải tạo, Dương Ngọc Hiệp và Phan Thị Trúc ra Hà Nội gặp Nguyễn Văn Thắng (Thắng "Tài Dậu") nhờ tìm người lo chạy tội giúp cho Trương Văn Cam, được Thắng "Tài Dậu" dẫn đến gặp Trần Văn Thuyết. Hiệp đặt vấn đề với Thuyết lo chạy tội cho Trương Văn Cam, được Thuyết đồng ý. Sau đó Thuyết nghĩ cách tiếp xúc để làm quen với ông Phạm Sỹ Chiến.
Do Thuyết quen biết với Nguyễn Thập Nhất từ trước, biết được nhất làm việc tại VKSND Hà Nội nên Thuyết đã nhờ Nhất thảo đơn kêu oan cho Trương Văn Cam và dẫn Thuyết, Hiệp đến nhà riêng của ông Chiến (tại An Dương, Tây Hồ, Hà Nội). Tại đây, Thuyết đặt vấn đề với ông Chiến nhờ xem xét giúp đỡ giải quyết đơn kêu oan cho Trương Văn Cam do bà Phan Thị Trúc đứng tên, ông Chiến hướng dẫn cho Thuyết gửi đơn đến các phòng nghiệp vụ để đề xuất.
Sau khi VKSND Tối cao nhận được đơn của bà Trúc khiếu nại về việc bắt Trương Văn Cam đi tập trung cải tạo, ông Chiến đã giao cho Vụ 2B trực tiếp xác minh, giải quyết. Qua nghiên cứu tài liệu do C16 Bộ công an cung cấp, chiều ngày 6/9/1996, Vụ kiểm sát điều tra án trị an đã có báo cáo ông Phạm Sỹ Chiến, được ông Chiến cho ý kiến: “Căn cứ tập trung giáo dục cải tạo không đủ cơ sở, không đúng đối tượng, gợi ý để họ báo cáo lãnh đạo xem xét hủy bỏ quyết định tập trung giáo dục cải tạo, nếu cứ cho là đúng thì VKSND Tối cao có văn bản kiến nghị”.
Mặc dù Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Nội vụ có công văn số 210/P2 ngày 6/9/1996 gửi VKSND Tối cao nội dung nêu rõ việc tập trung cải tạo Trương Văn Cam là có sự chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ, việc tập trung cải tạo đối với Trương Văn Cam là cần thiết và đúng đối tượng, đúng với nghị quyết 49 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Sau khi nhận được công văn trên, ông Chiến vẫn chỉ đạo vụ 2B thảo kiến nghị Bộ trưởng Bộ Nội vụ hủy bỏ quyết định tập trung giáo dục cải tạo đối với Trương Văn Cam. Thông qua việc này, ông Phạm Sỹ Chiến đã được Thuyết cho 1 dàn máy nghe nhạc trị giá 3.000 USD và 1 túi quà trị giá 1.000 USD, quy đổi ra tiền Việt Nam cùng thời điểm tương đương là 44.100.000 đồng.
Hành vi trên của ông Phạm Sỹ Chiến đã phạm vào tội nhận hối lộ, tội danh quy định tại khoản 3, điều 279, BLHS.
Vật chứng
- 1 tivi JVC 21 inch, số 5030637 (CM: 22884-001), vỏ đen đã qua sử dụng.
- 1 đầu đĩa JVC, 3 ổ đĩa, số 062 C6772, vỏ đen, đã qua sử dụng.
- 2 loa thùng EPI (loại trung), số J834 - 015015 và J834 - 015616, vỏ đen, đã qua sử dụng.
- 1 micro hiệu Taki-AT900-màu vàng, đã qua sử dụng.
132. Bị can Trần Mai Hạnh
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày 1/1/1943 tại Hải Dương
- ĐKNKTT: 101 F15, ngõ Thái Hà, phường Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 10/10
- Cha: Trần Văn Chính (chết)
- Mẹ: Mai Thị Tâm (chết)
- Vợ: Bùi Thị Kim Anh, sinh 1948
- Con: có 3 người con, lớn nhất sinh 1973, nhỏ nhất sinh 1979
b. Quá trình hoạt động
Tháng 6/1966: Tốt nghiệp Đại học tổng hợp văn Hà Nội, được tuyển dụng vào Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), học lớp phóng viên do TTXVN mở. Từ năm 1966 đến 12/1967: Là phóng viên chiến sự của TTXVN thường trú tại Hải Phòng. Từ năm 1968 đến 2/1970: đi B, được cử vào tổ phóng viên TTXVN tại chiến trường Bắc Quảng Nam, Đà Nẵng. Từ năm 1970 đến 6/1971: Bị bệnh nặng, được tổ chức đưa ra Bắc chữa bệnh, điều trị tại các bệnh viện Ban thống nhất TW. Từ năm 1971 đến 1975 được Ban tổ chức TW điều động về công tác tại TTXVN, lần lượt đảm nhận các công tác: Cán bộ ban thư ký Bộ biên tập; trưởng phòng Ban biên tập miền Nam. Đầu năm 1975, được Bộ biên tập TTXVN cử tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Từ năm 1976 đến 1994 đảm nhận các chức vụ Phó tổng biên tập thường trực các báo tuần tin tức; tin tức buổi chiều; Phó trưởng ban tin trong nước của TTXVN; ủy viên Ban thư ký Hội nhà báo Việt Nam khóa V; Trưởng ban nghiệp vụ kiêm Tổng biên tập tạp chí Nhà báo và Công luận của Hội nhà báo Việt Nam. Từ tháng 3/1995 là Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam; ủy viên Đảng đoàn Hội nhà báo Việt Nam; ủy viên BCH Đảng ủy khối các cơ quan TW về công tác tư tưởng. Từ tháng 6/1996 là ủy viên BCH TW Đảng khóa VIII. Từ ngày 15/11/1996 được Bộ chính trị và Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Bí thư Ban cán sự, Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam kiêm Phó chủ tịch, Phó tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam. Từ tháng 7/1997 là Đại biểu Quốc hội khóa 10. Từ tháng 11/1998 là Bí thư Đảng ủy Đài tiếng nói VN. Từ tháng 3/2000, được bầu lại giữ chức Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký. Tháng 4/2001, được bầu là ủy viên BCH TW Đảng. Từ năm 1998 đến 2000, được bầu vào Giám đốc liên đoàn báo chí các nước ASEAN (CAJ).
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Tháng 5/1995, Bộ Nội vụ bắt Trương Văn Cam đi tập trung giáo dục cải tạo, Dương Ngọc Hiệp, con rể của Trương Văn Cam ra Hà Nội thông qua Thắng "Tài Dậu" dẫn đến gặp Trần Văn Thuyết (tại 91 Nguyễn Thái Học, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội) nhờ lo giúp đỡ “chạy tội” cho Trương Văn Cam. Thuyết nghĩ để lo chạy tội cho Trương Văn Cam thì phải dùng cơ quan ngôn luận lên tiếng gây áp lực, buộc các cơ quan pháp luật phải thả Trương Văn Cam.
Do có quen với ông Trần Mai Hạnh từ trước, nên Thuyết biết ông Hạnh hiện đang là Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký hội nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập tờ báo Nhà báo và Công Luận (1995 và 1996). Để thực hiện ý đồ này, Thuyết đã dẫn Dương Ngọc Hiệp đến nơi làm việc của ông Hạnh đặt vấn đề nhờ ông Hạnh đăng tải đơn kêu oan cho Trương Văn Cam của bà Phan Thị Trúc lên báo chí, ông Hạnh đồng ý theo yêu cầu của Thuyết và Hiệp, ông Hạnh đã có những việc làm cụ thể như sau:
- Ông Trần Mai Hạnh với danh nghĩa là Tổng biên tập báo Nhà báo và Công luận đã cho đăng 2 bài báo: bài “Về đơn khiếu nại của bà Phan Thị Trúc” và bài “VKSND Tối cao kiến nghị về trường hợp tập trung cải tạo đối với Trương Văn Cam” trên tờ Nhà báo và Công luận, đồng thời với danh nghĩa Hội nhà báo Việt Nam ông Trần Mai Hạnh đã trực tiếp ký 2 văn bản số 333/HNB ngày 1/2/1996 gửi ông Phạm Sỹ Chiến, Phó viện trưởng VKSND Tối cao đề nghị xem xét đơn của bà Phan Thị Trúc và văn bản số 703/HNB ngày 26/10/1996 đề nghị VKSND Tối cao cho biết quan điểm và kết quả về việc xem xét đơn của bà Phan Thị Trúc.
Để trả ơn cho ông Hạnh, Thuyết và Hiệp đã đem tiền và vật chất cho ông Hạnh gồm 6.000 USD, 1 chiếc đồng hồ Omega trị giá 2.500 USD. Ngoài ra năm 1996, khi ông Hạnh sửa nhà, Thuyết có cho ông Hạnh mượn 140.000.000 đồng (tiền này là của Dương Ngọc Hiệp đưa cho Thuyết) đến nay ông Hạnh đã trả 40.000.00 đồng thiếu nợ 100.000.000 đồng. Năm 1999, Thuyết mua cho ông Hạnh 1 dàn máy nghe nhạc trị giá 3.000 USD (tiền của Thuyết), đến nay ông Hạnh chưa thanh toán cho Thuyết.
Mặc dù đến nay, ông Hạnh không thừa nhận việc Thuyết và Hiệp đưa tiền và tài sản mà khai chỉ nhận 2 bộ đồ vest, quần áo sơ mi và một số bộ đầm cho vợ ông Hạnh. Nhưng qua lời khai của các bị can Trần Văn Thuyết, Dương Ngọc Hiệp, Tôn Vĩnh Đắc cùng với các tài liệu, chứng cứ khác đã có đủ cơ sở kết luận ông Hạnh quan hệ thân thiết, lâu dài với các đối tượng trong thời gian chạy tội cho Trương Văn Cam (1995) và đã nhận của gia đình Trương Văn Cam tổng cộng tiền và vật chất trị giá 8.500 USD, quy đổi ra tiền Việt Nam cùng thời điểm (năm 1996, tỷ giá 11.025 đồng/USD) tương đương 93.182.000 đồng.
Hành vi trên của ông Trần Mai Hạnh đã phạm vào tội nhận hối lộ, tội danh được quy định tại điều 279 BLHS.
Riêng việc Thuyết cho ông Hạnh mượn 140 triệu để sửa nhà và mua cho ông Hạnh 1 dàn máy nghe nhạc trị giá 3.000 USD, đến nay chưa trả là quan hệ dân sự nên không đề nghị xử lý hành vi này.
Để thực hiện hành vi “chạy tội” cho Trương Văn Cam, ông Trần Mai Hạnh đã cho đăng lên báo tuần Nhà báo và Công luận, số ra từ ngày 4 đến 10/1/1996 nội dung tinh thần công văn số 1333 ngày 18/9/1996 của VKSND Tối cao do ông Phạm Sỹ Chiến ký về việc kiến nghị ông Bộ trưởng Nội Vụ hủy bỏ quyết định tập trung giáo dục cải tạo đối với Trương Văn Cam. Đây là công văn có dấu “MẬT” gửi Bộ Nội Vụ, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng, Văn phòng Chủ tịch nước. Trước Cơ quan điều tra, ông Trần Mai Hạnh không khai ra ai đã cung cấp cho ông Hạnh nội dung công văn trên. Ông Hạnh xin chịu trách nhiệm về việc làm của mình.
Hành vi trên của ông Trần Mai Hạnh đã phạm tội cố ý làm lộ bí mật công tác, tội danh được quy định tại điều 286 BLHS.
Như vậy, ông Trần Mai Hạnh đã phạm vào hai tội:
- Tội nhận hối lộ (điều 279 BLHS).
- Tội cố ý làm lộ bí mật công tác (điều 286 BLHS).
Vật chứng thu giữ: 1 dàn máy Sony, số máy 5002018, bao gồm: 2 cục máy đánh chữ HCDV 5500; 5 loa ( 2 loa to, 3 loa nhỏ).


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:37 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch ông Bùi Quốc Huy và Dương Minh Ngọc


Khi làm Giám đốc Công an TP HCM, ông Bùi Quốc Huy biết Năm Cam có nhiều hoạt động băng nhóm theo kiểu xã hội đen, nhưng không chỉ đạo triệt phá có hiệu quả. Dương Minh Ngọc (nguyên trưởng phòng cảnh sát hình sự Công an TP HCM) bị Năm Cam lôi kéo, mua chuộc, biến thành bình phong bao che hành vi phạm tội trong thời gian dài.

Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can

133. Bị can Bùi Quốc Huy (Năm Huy)
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 23/12/1945 tại Đồng Tháp
- ĐKNKTT: 395-397 Lê Đại Hành, phường 11, quận 11, TP HCM
- Chỗ ở: 90B Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Cha: Bùi Trương Tiếp (chết)
- Mẹ: Đỗ Thị Đàm (chết)
- Vợ: Trần Thị Ngọc Quế
- Con: có 2 người con (sinh 1970 và 1976)
b. Quá trình hoạt động
Còn nhỏ ở với gia đình, ngụ tại Bình An Trung, Lấp Vò, Đồng Tháp. Năm 1960, tham gia cách mạng tại thị xã Long Xuyên, An Giang, làm công tác Đoàn thanh niên học sinh và công tác sinh viên học sinh. Năm 1963 công tác trong Đội an ninh mật của thị xã Long Xuyên, An Giang. Từ năm 1965 đến 1968, hoạt động ban cán sự công vận của thị xã Long Xuyên, An Giang. Từ năm 1968 đến 1972 là Chánh văn phòng thị xã Long Xuyên, An Giang kiêm Trưởng ban an ninh (từ 1970). Từ năm 1972 đến 30/4/1975 là Trưởng ban an ninh thị xã, Chính trị viên thị đội, Phó bí thư thị xã Long Xuyên, An Giang. Năm 1980 là Phó ban chỉ huy an ninh của công an tỉnh An Giang. Năm 1985 là Phó giám đốc phụ trách an ninh của Công an tỉnh An Giang. Năm 1987 là Giám đốc Công an tỉnh An Giang. Năm 1990 là Phó tổng cục trưởng Tổng cục an ninh công tác tại Bộ Công an. Tháng 4/1996 là Giám đốc Công an TP HCM. Tháng 7/2001 là Thứ trưởng Bộ Công an phụ trách công tác xây dựng lực lượng. Tháng 7/2002 bị kỷ luật Đảng, cách chức ủy viên TW, Thứ trưởng Bộ Công an.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Trong thời gian làm giám đốc Công an TP HCM (từ tháng 4/1996 đến tháng 7/2001) tuy biết Trương Văn Cam là đối tượng hình sự nguy hiểm, có nhiều hoạt động băng nhóm theo kiểu xã hội đen, hoạt động phạm tội nghiêm trọng, công khai, kéo dài trong các năm 1998, 1999, 2000 và 2001 nhưng ông Bùi Quốc Huy (Năm Huy) đã không chỉ đạo, tổ chức biện pháp đấu tranh có hiệu quả, để tội phạm có tổ chức xảy ra trong một thời gian dài, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn TP HCM.
Khi công an TP HCM mở chuyên án đấu tranh với bọn tội phạm hoạt động cờ bạc và cá độ bóng đá, tuy lúc đầu chưa xác định được có hoạt động tội phạm của Trương Văn Cam hay không, nhưng đến đầu năm 2000, khi phát hiện có hoạt động của Trương Văn Cam và các tên đàn em nguy hiểm khác của Trương Văn Cam, ông Bùi Quốc Huy đã không chủ động đề ra các biện pháp tấn công triệt phá mà chỉ báo cáo xin ý kiến của Bộ công an. Sau đó thụ động chờ đợi, để băng nhóm tội phạm của Trương Văn Cam có thời gian hoạt động kéo dài đến hết năm 2001 mới được Bộ công an tấn công, triệt phá.
Về trách nhiệm trong quản lý, giáo dục cán bộ chiến sĩ: Trong thời gian ông Bùi Quốc Huy làm giám đốc Công an TP HCM đã để xảy ra tình trạng nhiều cán bộ bị tổ chức tội phạm của Trương Văn Cam mua chuộc, lôi kéo làm tha hóa biến chất. Thậm chí nhiều cán bộ cấp phòng quận của Công an TP HCM có hoạt động tiếp tay hoặc bao che tội phạm. Trong quá trình công tác, có nhiều thông tin về cán bộ có biểu hiện thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật nhưng ông Năm Huy không có biện pháp có hiệu quả để chấn chỉnh ngăn chặn, dẫn đến việc trong chuyên án Z5-01 có trên 50 cán bộ chiến sĩ phải xử lý kỷ luật, nhiều người bị tước quân tịch, có 13 người phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Với những vi phạm nêu trên đã có đủ căn cứ kết luận ông Bùi Quốc Huy phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, tội danh được quy định tại điều 285 BLHS.
Lập biên bản giao cho gia đình ông Bùi Quốc Huy bảo quản: 2 bể cá cảnh (bể kính) và 1 máy tập thể dục.
134. Bị can Dương Minh Ngọc
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 14/3/1956 tại Campuchia
- ĐKNKTT: 119/2 đường 3/2, phường 11, quận 10, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: Đại học
- Cha: Dương Văn Hoài (chết)
- Mẹ: Phan Thị An
- Vợ: Quách Thị Kim Ngọc, sinh 1960
- Con: 2 người con, lớn nhất sinh 1982, nhỏ nhất sinh 1984
b. Quá trình hoạt động
Sinh năm 1956 tại Campuchia. Năm 1970 về Việt Nam cư trú tại TP HCM đến năm 1975 tham gia lực lượng công an, công tác tại Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP HCM cho tới nay. Trước khi bị bắt là Trưởng phòng Cảnh sát hình sự Công an TP HCM.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 15/5/2002
c. Hành vi phạm tội
Dương Minh Ngọc nguyên là Trưởng phòng Cảnh sát hình sự Công an TP HCM, đơn vị trực tiếp làm công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn TP HCM. Lẽ ra Dương Minh Ngọc phải thấy rõ đó là trách nhiệm cao cả và vinh quang mà bản thân đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó nhưng Dương Minh Ngọc đã không làm điều đó mà chỉ vì lợi ích vật chất tầm thường đã thoái hóa phẩm chất đạo đức cách mạng dẫn tới việc để cho Trương Văn Cam và đồng bọn lợi dụng lôi kéo, mua chuộc, biến Minh Ngọc thành bình phong bao che cho bọn chúng phạm tội trong thời gian dài mà không bị phát hiện xử lý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm mất lòng tin của nhân dân.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã có cơ sở kết luận bị can Dương Minh Ngọc đã có hành vi nhận hối lộ số tiền 10 triệu đồng, lợi ích vật chất khác trị giá 20 triệu đồng và hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi thành công vụ, bao che cho băng nhóm xã hội đen Trương Văn Cam hoạt động vì mục đích tư lợi (hùn vốn với Trương Văn Cam và được chia lợi nhuận 600 triệu).
Hành vi của Minh Ngọc đã cấu thành tội Nhận hối lộ Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi thành công vụ, tội danh được quy định tại điều 279 và 281 BLHS nước CHXHCNVN.
Tuy nhiên trong quá trình đấu tranh khai thác, Dương Minh Ngọc tỏ ra ăn năn hối cải, tự giác khai báo hành vi phạm tội. Minh Ngọc lại là người có nhiều đóng góp và có thành tích trong công tác đấu tranh chống tội phạm hình sự, được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Vì vậy, quá trình xét xử cần được xem xét giảm nhẹ.
Tài sản và tang vật thu giữ: 1 điện thoại di động Samsung.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:38 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch Võ Quang Thắng và Hoàng Linh


Nguyên phó ban thư ký báo Công An TP HCM, Võ Quang Thắng đã tác động, đe dọa đòi nhận tiền và quà của một số cá nhân, cơ quan. Tổng giá trị 150 triệu đồng. Hoàng Linh (nguyên phóng viên báo Tuổi Trẻ) dùng danh nghĩa nhà báo để chiếm đoạt tài sản của 3 đối tượng trên 233 triệu đồng và 8 chỉ vàng.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
135. Bị can Võ Quang Thắng
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm 1959 tại Bình Thuận
- ĐKNKTT: 110 Huỳnh Mẫn Đạt, phường 2, quận 5, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Cha: Võ Quang Tỷ, sinh 1921
- Mẹ: Nguyễn Thị Hoàn, sinh 1927
- Vợ: Dương Thanh Thủy, sinh 1960
- Con: 2 người con, lớn sinh 1983, nhỏ sinh 1991
b. Quá trình hoạt động
Từ 1959 đến 1975 còn nhỏ và đi học các trường phổ thông ở Hà Nội. Từ 1975 đến 1977, học sinh cấp 3 Lê Quý Đôn, TP HCM. Từ 1978 đến 1982 là sinh viên Đại học tổng hợp chuyên ngành ngữ văn. Từ 3/1983 vào ngành công an, làm phóng viên báo Công An TP HCM. Từ 3/1993 đến 12/1994 tổ trưởng tổ phóng viên báo Công An TP HCM.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Là một cán bộ công an công tác trên lĩnh vực báo chí, lẽ ra Quang Thắng phải thực hiện chức năng, quyền hạn của mình để góp phần phát hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật trên địa bàn TP HCM, trong đó có hành vi phạm tội của Trương Văn Cam và đồng bọn. Song Quang Thắng đã không làm tròn trách nhiệm của mình mà lao theo những cám dỗ vật chất, móc nối với một số nhà báo (trong đó có Hoàng Linh), lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao, bao che cho các hoạt động phạm tội bằng các thủ đoạn như dùng những thông tin đã biết được trong quá trình hoạt động nghề nghiệp về một số cá nhân, doanh nghiệp để tác động hoặc đe dọa, từ đó nhận tiền và các lợi ích vật chất khác. Nếu không được đáp ứng yêu cầu thì Quang Thắng sử dụng báo chí tấn công gây khó khăn cho việc làm ăn của các cá nhân, doanh nghiệp đó. Cơ quan điều tra chứng minh được Quang Thắng đã lợi dụng chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ được giao để nhận tiền, quà và ăn nhậu với tổng giá trị là 150 triệu đồng.
Hành vi trên của Võ Quang Thắng đã phạm tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, tội danh được quy định tại điều 280 BLHS.
Ngoài ra Quang Thắng còn lợi dụng nghề nghiệp của mình quan hệ và buộc một số nhà hàng phải mua rượu bia của vợ mình là Dương Thanh Thủy với giá cao hơn, thu lợi bất chính trên 60 triệu đồng. Hành vi của Võ Quang Thắng đã phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tội danh được quy định tại điều 281 BLHS.
Như vậy Võ Quang Thắng đã phạm vào 2 tội:
- Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản, tội danh được quy định tại điều 280 BLHS.
- Tội tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tội danh được quy định tại điều 281 BLHS.
Tài sản và tang vật thu giữ: 1 đồng hồ Rolex
136. Bị can Hoàng Linh
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 13/10/1962 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 35/3A Nhị Bình, Hóc Môn, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Cha: Hoàng Tâm (chết)
- Mẹ: Phan Thị Như Ngọc (chết)
- Vợ: Nguyễn Phương Tường Linh
- Con: 2 người con, lớn nhất sinh 1996, nhỏ nhất sinh 1998
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ ở với gia đình, năm 1980 học ĐH Sư phạm TP HCM. Đến năm 1984 ra trường về dạy tại trường Lý Thường Kiệt. Đến năm 1986 chuyển về dạy tại Thạch Lộc, TP HCM. Năm 1989 đến 2000 làm tại báo Tuổi Trẻ Cười (năm 1992 đến 1999 làm tại Ban chính trị xã hội báo Tuổi Trẻ. Năm 1999 đến tháng 4/2000 làm tại ban bưu chính viễn thông. Từ tháng 5/2000 đến khi bị bắt, làm tại phòng quảng cáo báo Tuổi Trẻ).
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 22/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Lợi dụng danh nghĩa nhà báo, trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao, Hoàng Linh biết được một số thông tin liên quan đến hoạt động phạm tội của Trương Văn Cam, các sai phạm của Công ty Epco, nhà hàng Karaoke 67 Sương Nguyệt Ánh. Hoàng Linh đã lợi dụng các thông tin này đe dọa viết bài đăng báo tố cáo việc làm vi phạm pháp luật của các đơn vị và cá nhân như trên, buộc Trương Văn Cam phải nhiều lần cho tiền và vàng (tổng cộng 75 triệu và 8 chỉ vàng); Liên Khui Thìn cho 150 triệu và 1 điện thoại di động trị giá 15 triệu; Trần Nghệ Dân cho 8 triệu. Tổng cộng Hoàng Linh lợi dụng danh nghĩa nhà báo để chiếm đoạt tài sản của 3 đối tượng trên là 233 triệu đồng, 8 chỉ vàng và 1 điện thoại di động.
Hành vi trên của Hoàng Linh đã phạm vào tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, tội danh được quy định tại điều 280 BLHS.
Ngoài ra, Hoàng Linh còn lợi dụng quyền hạn được giao để nhận tiền của bà Đoàn Thị Minh Hương (15 triệu), của bà Huỳnh Liên Thuận (quà và tiền tổng cộng 12 triệu), của Ban giám đốc công ty Tamexco (40 triệu và 100 USD), của Phạm Ngọc Lâm (11 triệu), của Phan Trứ Phiêu (26 triệu). Tổng số, Hoàng Linh đã nhận của những người này là 105 triệu và 1 đồng hồ Rado trị giá 2,8 triệu. Tuy Hoàng Linh không có những hành vi đe dọa những người này nhưng y cũng hiểu rằng họ cho tiền để y giúp đỡ trong hoạt động nghề nghiệp.
Hành vi trên của Hoàng Linh đã phạm vào tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tội danh được quy định tại điều 281 BLHS.
Sau khi bị bắt, Hoàng Linh đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội, đồng thời khai báo về hành vi phạm tội của một số nhà báo khác để Cơ quan Cảnh sát điều tra xem xét, xử lý.
Như vậy, Hoàng Linh đã phạm vào 2 tội:
- Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 280 BLHS).
- Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (điều 281 BLHS).
Tài sản kê biên: 2 căn nhà.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Chuyên án Năm Cam (Toàn Tập)
Gửi bàiĐã gửi: 29/04/12, 10:38 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 22/05/11, 2:05
Bài viết: 259
Cám ơn: 0 lần
Đã cám ơn:
0 lần trong 0 bài viết

Lý lịch 2 anh em Châu Phát Lai cùng 3 đối tượng khác


Châu Phát Lai Em đã dùng dao đâm chết Đổng Chí Nam. Sau đó, đối tượng cùng gia đình tìm cách "chạy tội". Điều tra viên Lâm Xuân Phát khi được giao thụ lý vụ án trên, đã không làm tròn trách nhiệm. Cơ quan điều tra đề nghị truy tố Lai Em về tội giết người, song Phát lại đề xuất truy tố về tội danh khác, dẫn đến bỏ lọt tội phạm nguy hiểm.



Lý lịch và hành vi phạm tội của từng bị can
137. Bị can Châu Phát Lai Em
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 16/4/1959 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 88X/4 Bến Chương Dương, Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật
- Trình độ văn hóa: 5/12
- Cha: Châu Phát Qưới (chết)
- Mẹ: Nguyễn Thị Chính (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Ngọc Diệp
- Con: 3 người con, lớn nhất sinh 1980, nhỏ nhất sinh 1982
b. Quá trình hoạt động
Từ 1959 đến 1977 còn nhỏ ở với gia đình, lớn đi học đến lớp 5 nghỉ học phụ giúp gia đình. Từ 1977 đến 1979 tham gia thanh niên xung phong tại Đồng Xoài, Sông Bé. Từ 1979 đến 1984, tham gia lực lượng bộ đội sư đoàn 5 đóng ở Campuchia. Năm 1984 bị Công an TP HCM bắt giam 6 tháng về tội đua xe trái phép, không ra tòa. Từ 1984 đến 1987 tham gia lực lượng quân báo cho quận đội quận 1, TP HCM. Năm 1987 bị Công an TP HCM bắt giam 12 tháng tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, được TAND trả tự do vì không có tội. Từ 1988 đến 1994 về sống với gia đình, buôn bán. Từ 1994 đến 1997 tham gia quân báo cho bộ chỉ huy quân sự TP HCM. Từ 1997 đến nay buôn bán cùng gia đình tại chợ Cầu Ông Lãnh, quận 1.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 2
- Tạm giam: 18/12/2001
c. Hành vi phạm tội
* Hành vi giết Đổng Chí Nam
Sinh ra trong một gia đình có nhiều anh em là đối tượng hình sự, trong đó Châu Phát Lai Em thể hiện là một tên côn đồ hung hãn nhất. Chỉ từ một mâu thuẫn nhỏ với anh Đổng Chí Nam, Lai Em đã dùng dao (đã chuẩn bị từ trước) đâm ba nhát, tước đoạt tính mạng của Nam.
Sau khi bị bắt, Lai Em cùng gia đình đã tìm mọi cách lo chạy các cơ quan pháp luật để làm giảm nhẹ tội mà y đã gây ra, Lai Em đã không bị xử lý hình sự. Từ đó tiếp tục gây ra nhiều hành vi phạm tội khác trong thời gian dài làm mất trật tự xã hội trên địa bàn rộng.
Hành vi của Châu Phát Lai Em đã phạm vào tội giết người, tội danh được quy định tại điều 101 BLHS (năm 1985) cần được xử lý nghiêm minh.
* Hành vi cưỡng đoạt tài sản
Châu Phát Lai Em là một đối tượng đã có nhiều tiền án, tiền sự, bản thân y đã xác định là có quan hệ mật thiết với Trương Văn Cam trong quá trình hoạt động phạm tội. Mọi hoạt động của Châu Phát Lai Em đều phải được Trương Văn Cam đồng ý, cụ thể như khi Lai Em muốn thu tiền bảo kê của nhà hàng, khách sạn nào thì đều phải xin ý kiến Trương Văn Cam. Lai Em đã tập hợp được một số đàn em xung quanh như Minh "Cuội", Hòa "Búa", Út "Khùng"... để sẵn sàng đi quậy phá những nơi mà Lai Em cần hoặc do Trương Văn Cam yêu cầu. Căn cứ lời khai của Lai Em về phương thức cưỡng đoạt tài sản bằng cách cho đàn em đến quậy phá rồi để nhận tiền bảo kê, kết hợp với đơn tố cáo của Hứa Văn Em thấy có đủ cơ sở xác định Lai Em đã cho đàn em đến khách sạn Phong Phú quậy phá để Hứa Văn Em phải nhờ Lai Em can thiệp, rồi qua đó đưa đàn em đến khách sạn ăn, nghỉ và không trả tiền. Tổng số tiền mà Lai Em không trả là 16 triệu đồng. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản cần phải đưa truy tố trước pháp luật, tội danh được quy định tại điều 135 Bộ luật hình sự nước CHXHCNVN.
Tài sản và tang vật thu giữ:
- 96.425.000 đồng
- 16 tờ ngân phiếu loại 1 triệu đồng
- 280 USD
- 2 lượng vàng SJC
- 1 dây chuyền vàng 18K
- 1 điện thoại di động Nokia 8250
- 1 xe ô tô Mazda
- 1 đồng hồ đeo tay
- 1 máy ghi âm
- 1 băng ghi âm
- 1 máy quay phim
- 1 CPU và 10 đĩa mềm vi tính
- 1 áo chống đạn
- 1 máy chơi game và 1 kg xu chơi game
- 23 kính chiếu hậu xe máy
- 7 bộ phụ tùng xe máy
- 8 chìa khóa
- 1 xe Spacy
- 6 đĩa CD
- kê biên 01 căn nhà
138. Bị can Lâm Xuân Phát
a. Lý lịch bị can
- Sinh ngày: 4/9/1957 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 151/153C Nguyễn Trãi, phường 2, quận 5, TP HCM
- Chỗ ở: 210 Cô Bắc, Cô Giang, quận 1, TP HCM.
- Dân tộc: Kinh
- Quốc tịch: Việt Nam
- Tôn giáo: Phật giáo.
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Con ông: Lâm Chấn Mậu, sinh 1927
- Con bà: Lý Thị Tiết, sinh 1936
- Vợ: Trương Thị Tuyết Phương
- Con: 2 con, lớn 14 tuổi, nhỏ 10 tuổi
b. Quá trình hoạt động
Từ 1974 đến 1975 tham gia lớp tập luyện bóng đá. Từ năm 1975 tham gia phong trào thanh niên phường 2, quận 5. Từ năm 1976 tham gia phong trào thanh niên xung phong quận 5. Từ năm 1977 về công tác tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1978 đến 1979 học trường Trung cấp Kiểm sát. Từ năm 1980 đến 1992 công tác tại Viện kiểm sát nhân dân TP HCM và Viện kiểm sát các quận, huyện thuộc TP HCM. Từ năm 1993 đến nay tự học nghề điện và làm nghề điện gia dụng.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Bị can tại ngoại
c. Hành vi phạm tội
Là kiểm sát viên được giao kiểm sát điều tra vụ án Châu Phát Lai Em, bị can Phát đã không làm tròn trách nhiệm được giao. Khi cơ quan điều tra đề nghị truy tố Châu Phát Lai Em về tội giết người là đúng với hành vi và tội phạm mà Châu Phát Lai Em đã gây ra thì Lâm Xuân Phát lại đề xuất truy tố Lai Em về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong khi hồ sơ có nhiều mâu thuẫn, dẫn đến bỏ lọt tội phạm nguy hiểm.
Trong quá trình công tác, Lâm Xuân Phát đã thiếu trách nhiệm để làm mất hồ sơ vụ án gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý.
Hành vi của Lâm Xuân Phát đã phạm vào tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, tội danh được quy định tại điều 220 BLHS (năm 1985) cần xử lý nghiêm minh.
139. Bị can Châu Phát Út (Út "Khùng")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1963 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 15 Bến Chương Dương, Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 2/12
- Con ông: Châu Phát Qưới (chết)
- Con bà: Nguyễn Thị Chín (chết)
- Vợ: Nguyễn Thị Ngọc Mai (ly dị)
- Con: 1 con, 16 tuổi
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ đến 1982 ở với gia đình, học hết lớp 2/12, sau đó ở nhà không có nghề nghiệp. Ngày 13/10/1982 đến tháng 7/1984 cưỡng bức lao động. Ngày 7/4/1985 đến 12/10/1998 tù 17 năm tội giết người. Từ 1998 đến 2001 làm nhân viên bốc vác tại chợ cá Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM. Ngày 14/2/2001 đến 31/5/2001 bị bắt tạm giam về tội cố ý thương tích, Viện Kiểm sát nhân dân quận I đình chỉ điều tra, sau đó về làm bốc vác tại chợ cá Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP HCM.
- Tiền án: 1 tiền án 17 năm tù tội giết người.
- Tiền sự: 1 tiền sự cố ý gây thương tích cưỡng bức lao động
- Tạm giam: 15/3/2002
c. Hành vi phạm tội
Là đối tượng hình sự nguy hiểm, có bản tính côn đồ hung hãn, có nhiều tiền án tiền sự. Do có nhiều hành động càn quấy nên một số người dân ở khu vực chợ cá Cầu Ông Lãnh rất sợ Châu Phát Út. Ngày 10/8/1999, tại chợ cá Cầu Ông Lãnh, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà Út đã chỉ đạo cho đàn em là Nguyễn Trần Lam và Đinh Tuấn Huy dùng kiếm chém anh Trần Văn Minh gây thương tật nặng (27%).
Sau khi sự việc xảy ra, vì sợ gia đình Châu Phát Út, trong đó có Châu Phát Lai Em là đối tượng hình sự chuyên nghiệp rất hung hãn trả thù nên nạn nhân không dám tố cáo hành vi phạm tội của Út. Vì vậy, Út càng lộng hành, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng người khác.
Với bản chất con đồ, hung hãn, ngày 21/11/2000, do mâu thuẫn với Trát Minh Dũng, Châu Phát Út dùng dao chém Trát Minh Dũng gây cố tật 31%. Hành vi này của Châu Phát Út lẽ ra phải được đưa ra xét xử nghiêm khắc. Nhưng do thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc một số cán bộ trong các cơ quan pháp luật, trong đó có Nguyễn Bá Phong - nguyên viện trưởng VKSND TP HCM - nên hành vi của Châu Phát Út đã được bao che và để lọt, không bị xử lý.
Hành vi tổ chức cho đàn em dùng dao, kiếm chém Trần Văn Minh và trực tiếp chém Trát Minh Dũng của Châu Phát Út thể hiện tính chất lưu manh chuyên nghiệp có hệ thống, có thủ đoạn che giấu và chạy tội. Hành vi đó đã phạm vào tội cố ý gây thương tích, tội danh được quy định tại điều 104 BLHS cần xử lý nghiêm minh để làm gương cho kẻ khác.
140. Bị can Nguyễn Trần Lam (Lam "Sát Thủ")
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm: 1966 tại Hải Phòng
- ĐKNKTT: 611/53 Điện Biên Phủ, phường 1, quận 3, TP HCM.
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Trình độ văn hóa: 10/10
- Con ông: Nguyễn Văn Quí, 61 tuổi
- Con bà: Trần Thị Ninh, 56 tuổi
- Vợ: Nguyễn Thị Thùy Linh
b. Quá trình hoạt động
Từ nhỏ đến 1983, ở với gia đình, học hết lớp 10/10 sau đó đi học thợ máy tàu biển. Năm 1984 đi nghĩa vụ quân sự, tháng 5/1984 bị Công an quận 4 bắt về tội trộm cắp tạm giam 6 tháng sau cảnh cáo tha (chưa bị tước quân tịch). Chưa hết nghĩa vụ quân sự thì ngày 14/2/1986 bị bắt về tội cướp và tàng trữ vũ khí trái phép tòa xử phạt 18 năm tù giam đến 31/12/1998 tha. Đến ngày 25/11/1999 bị bắt về tội cướp, cưỡng đoạt và bắt giữ người trái pháp luật, Tòa xử phạt 12 năm tù giam.
- Tiền án: 2 tiền án
- Tiền sự: 1 tiền sự tội trộm cắp
- Bị can hiện đang cải tạo tại trại giam Thủ Đức, V26, Bộ Công an.
c. Hành vi phạm tội
Nguyễn Trần Lam là đối tượng hình sự, đàn em của Châu Phát Út. Mặc dù không mâu thuẫn gì với bị hại là Trần Văn Minh (Minh "Cuội") nhưng khi được Châu Phát Út sai đi chém Minh thì lập tức đã thực hiện ngay. Lam cùng với Đinh Tuấn Huy dùng dao chém Minh gây thương tật nặng, tổn hại 27%.
Hành vi của Nguyễn Trần Lam thể hiện tính côn đồ hung hãn, coi thường sinh mạng người khác cần xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.
Hành vi của Nguyễn Trần Lam đã phạm tội cố ý gây thương tích, tội danh được quy định tại khoản 2 điều 104 BLHS.
141. Bị can Đinh Tuấn Huy
a. Lý lịch bị can
- Sinh năm 1974 tại TP HCM
- ĐKNKTT: 144/25/5 Lê Trọng Tấn (hương lộ 13) phường 15, Tân Bình, TP HCM
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Thiên chúa giáo
- Trình độ văn hóa: 9/12
- Con ông: Đinh Xuân Liêm (chết)
- Con bà: Mai Thị Quýnh, sinh 1938
- Vợ: Hoàng Thị Kim Thy, tuổi 31
- Con: 1 con còn nhỏ
b. Quá trình hoạt động bản thân
Từ nhỏ đến 1989 ở với gia đình, học đến lớp 9/12 sau đó đi học trường xây dựng từ 1990 đến 1992. Từ 1992 đến 1997 ở nhà đi làm nghề xây dựng. Ngày 8/3/1997 đến tháng 2/1999 đi nghĩa vụ quân sự, sau khi xuất ngũ về tiếp tục làm nghề xây dựng cho đến ngày bị Cơ quan điều tra bắt về tội cố ý gây thương tích.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Không
- Tạm giam: 19/7/2002.
c. Hành vi phạm tội
Đinh Tuấn Huy là một quân nhân xuất ngũ, bản thân không có nghề nghiệp ổn định, chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng Huy đi theo Nguyễn Trần Lam và Châu Phát Út, trở thành tên côn đồ nguy hiểm. Dù không mâu thuẫn với Trần Văn Minh nhưng khi được Châu Phát Út và Nguyễn Trần Lam rủ đi chém Minh thì lập tức Huy đã thực hiện ngay. Đinh Tuấn Huy cùng với Nguyễn Trần Lam dùng dao chém Minh gây thương tật nặng, tổn hại 27%.
Hành vi của Đinh Tuấn Huy đã phạm tội cố ý gây thương tích, tội danh được quy định tại khoản 2 điều 104 BLHS cần xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.


Đầu trang
  Xem thông tin cá nhân  
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Chủ đề này đã bị khóa, bạn không thể sửa những bài viết của mình hay trả lời bài viết thêm nữa.  [ 74 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1 ... 4, 5, 6, 7, 8  Trang kế tiếp

Múi giờ UTC + 7 Giờ


Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
cron


Protected by Anti-Spam ACP Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group
Vietnamese translation by nedka